\ TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
***********
LĂNG THỊ THU LOAN
CÁI TÔI TRỮ TÌNH
TRONG THƠ BÙI GIÁNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI - 2014 Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc Khoa Ng÷ V¨n
L¨ng ThÞ Thu Loan Líp K36B - SP V¨n
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận, chúng tôi đã nhận được sự quan tâm,
giúp đỡ của các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ văn, tổ Bộ môn Văn học Việt Nam
và TS. La Nguyệt Anh - Giảng viên trực tiếp hướng dẫn.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy, cô giáo và cô
hướng dẫn.
Do khả năng hạn chế và thời gian có hạn, chắc chắn khóa luận không
tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi mong tiếp tục nhận được sự đóng góp của
các thầy cô để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2014
Sinh viên thực hiện Lăng Thị Thu Loan
Lăng Thị Thu Loan
Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc Khoa Ng÷ V¨n
L¨ng ThÞ Thu Loan Líp K36B - SP V¨n
MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích nghiên cứu 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5. Phương pháp nghiên cứu 5
6. Đóng góp mới của khóa luận 6
7. Cấu trúc của khóa luận 6
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc Khoa Ng÷ V¨n
L¨ng ThÞ Thu Loan Líp K36B - SP V¨n
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. “Thơ trữ tình là thuật ngữ chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình
trong đó những cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của các nhân vật trữ tình
trước các hiện tượng đời sống được thể hiện trực tiếp. Tính chất cá thể hóa và
tính chất chủ quan hóa của sự thể hiện là những dấu hiệu biểu hiện của thơ trữ
tình. Là tiếng hát tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng thể hiện những biểu hiện
phức tạp của thế gới nội tâm từ các cung bậc tình cảm cho tới những thành kiến,
những tư tưởng triết học” [13, tr.317].
Trong thơ trữ tình, nhân vật trữ tình hay còn được gọi là chủ thể trữ tình,
tức chủ thể trực tiếp thổ lộ những suy nghĩ và cảm xúc trong bài thơ. Khi lĩnh
hội một bài thơ trữ tình, việc cốt yếu đầu tiên là độc giả phải xác định được nhân
vật trữ tình để hình dung vị trí, tư thế, nỗi niềm, tâm trạng của họ một cách đúng
đắn nhất so với ý đồ của người sáng tác.
Nhân vật trữ tình là sự biểu hiện của cái tôi trữ tình. Trong thơ trữ tình
luôn hiện lên một cái tôi trữ tình cụ thể, sống động, có cá tính, có quan niệm và
những nỗi niềm riêng nhằm mang lại cho độc giả sự thật về đời sống tâm hồn
của những cá nhân trong các tình huống đời sống, các xung đột xã hội cụ thể
cũng như những xung đột trong đời sống tâm hồn của chính bản thân cái tôi ấy.
Cách thức biểu hiện cái tôi trữ tình rất phong phú và đa dạng. Mỗi nhà thơ có thể
Tưởng), Bùi Giáng, một vùng đất hẹp và một thế giới lớn (Nguyễn Hoàng Văn),
Bùi Giáng, người thi sĩ chối bỏ thi ca (Tạ Tỵ),…
Cũng như nhiều nhà thơ khác, Bùi Giáng chọn cho mình một lối thơ riêng
mà ngay cả các nhà nghiên cứu cũng khó định danh trường phái thơ của ông.
Đọc thơ của Bùi Giáng không phải là đọc một lần hay một bài mà đã hiểu ngay
được, bởi thơ ông cần lắm một sự lĩnh hội điềm tĩnh thì mới có thể thấy được hết
những gì mà nhà thơ muốn gửi gắm. Chính điều đó đã tạo nên sức hút lớn, cũng
như sự quan tâm của công chúng đối với thơ ông trong việc đào sâu tìm hiểu giá
trị nội dung và nghệ thuật để làm nên một phong cách riêng, một giọng điệu
riêng và một cái tôi riêng Bùi Giáng trong thi ca Việt Nam.
2. Lịch sử vấn đề
Đã 16 năm, kể từ khi Bùi Giáng (1998 - 2014) rời “cõi tạm” về suối vàng
để “Trùng phùng cùng Lý Bạch, nghênh ngang Tản Đà” thì đời vẫn chưa quên
ông và ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu cùng với các buổi tọa đàm
khoa học về thơ ca của Bùi Giáng được ra mắt công chúng. Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc Khoa Ng÷ V¨n
L¨ng ThÞ Thu Loan Líp K36B - SP V¨n
3
Phần lớn các tác giả viết về Bùi Giáng là những bạn bè văn nghệ sĩ,
những người đã cùng sống, từng tiếp xúc với nhà thơ, trong đó có những người
cùng quê hương xứ Quảng và một số các nhà nghiên cứu, phê bình văn học.
Những bài viết về Bùi Giáng đa phần đều có dung lượng nhỏ, chủ yếu là kể về
những kỉ niệm, ấn tượng, giai thoại, cảm nhận trước một vài bài thơ và bày tỏ
cảm xúc, tình yêu đối với thi sĩ.
Cuốn Tưởng nhớ thi sĩ Bùi Giáng nhân kỉ niệm một năm ngày mất Bùi
Giáng của nhiều tác giả là sự tổng hợp nhiều bài viết. Trong đó có bài Bùi
có một số bài viết bàn về một vài khía cạnh liên quan đến sự thể hiện hình tượng
cái tôi trữ tình Bùi Giáng. Văn Huyền Nguyên gọi Bùi Giáng là Người lữ khách
cuồng điên và khôn cùng kỉ niệm với nhận xét: “Dù bị vận vào một định mệnh
trói buộc nào, Bùi Giáng là Bùi Giáng, một “người điên hoang dại, siêu việt giữa
lòng nhân gian mê loạn, u trầm” [15, tr.635]. Theo tác giả, những kỉ niệm hãi
hùng và bi thương ở thời thơ ấu đến những kỉ niệm ngao du trên các vùng miền
rồi vạn lần hẹn ngày trở về “cố quận” yêu thương chính là để giải minh cho cái
“điên” của Bùi Giáng. Thụy Khuê với bài viết Hiện tượng Bùi Giáng lại khẳng
định: “Không điên vì ông chỉ đẩy đến tận cùng trạng thái hiện sinh, chứng
nghiệm ý thức trần trụi về bản thể” [15, tr.577]. Bên cạnh đó, tác giả còn minh
chứng thơ Bùi Giáng hiện sinh trong đoạn trường và định mệnh với những “tồn
sinh”, “phố thị”, “cố quận”, “đười ươi”. Ý Nhi với bài viết Bùi Giáng trong cõi
người ta khẳng định thi sĩ là người luôn “ý thức sâu xa về sự hữu hạn của kiếp
người, của lẽ hợp tan, ông luôn phấp phỏng, lo lắng” [15, tr.654]. Vũ Đức Sao
Biển viết bài Bùi Giáng: rong chơi giữa đìu hiu phố thị đã nhận xét sự rong chơi
ấy là một “phong cách nô giỡn thú vị trong ngôn ngữ thơ ca” [15, tr.649]. Huỳnh
Ngọc Chiến với bài Hồn quê trong thơ Bùi Giáng đã bàn về tình cảm của thi sĩ
trước thiên nhiên và cuộc sống của con người quê hương. Bài Bùi Giáng, bước
chân đi tìm hồn nguyên tiêu và một màu hoa trên ngàn của Bùi Vĩnh Phúc viết:
“Người đã sống điên dại giữa đời, hay đúng hơn, người đã chọn một cuộc chơi vĩ
đại, trầm thống với tất cả “thân thể máu me và da xương” của chính mình mà mẹ
cha cũng như trời đất đã ban cho” [15, tr.357]. Đặc biệt trong thời gian gần đây,
nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy, từ góc nhìn phân tâm học đã có những nhận xét xác
đáng, lí giải về hiện tượng Bùi Giáng mà ngay cả thi nhân cũng luôn tìm cách tự
“minh định” mình: “Không phải trong trạng thái của một người điên hoặc người
say, mà trong tâm trạng hoài nghi triết học của một nhà thơ” [15, tr.414]. Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc Khoa Ng÷ V¨n
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc Khoa Ng÷ V¨n
L¨ng ThÞ Thu Loan Líp K36B - SP V¨n
6
6. Đóng góp mới của khóa luận
- Khóa luận là công trình chuyên biệt đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ
thống về cái tôi trữ tình trong thơ Bùi Giáng.
- Kết quả nghiên cứu của khóa luận sẽ góp phần tìm hiểu về thi sĩ Bùi
Giáng - một người thơ kỳ lạ và tận hiến.
- Khóa luận sẽ là tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm muốn tìm hiểu và
nghiên cứu về hiện tượng Bùi Giáng.
7. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của
khóa luận được triển khai thành ba chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 2: Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Bùi Giáng
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện cái tôi trữ tình trong thơ Bùi Giáng
hiện tính độc lập của mình với định nghĩa: Tôi tư duy tức là tôi tồn tại” [20, tr.15].
G.H.Phichter (1762 - 1814) quan niệm: “Cái tôi là thực thể, là căn nguyên
sáng tạo tuyệt đối, là thực tại duy nhất. Thế giới là thực tại của tôi hoặc là sự
biểu hiện của tôi” [20, tr.15].
G.W.F.Hegel (1770 - 1831) đã giải thích “thực chất xã hội của cái tôi như
một sức mạnh (lí tính thế giới) bị tha hóa trên những con người cụ thể. Nói cách
khác đó là lí tính thế giới bộc lộ ở từng con người nhất định. Ông đã phát triển
quan niệm về cái tôi của Phichter như sau: Cái tôi hoàn toàn trừu tượng và hình
thức, làm nguyên lí tuyệt đối của mọi hiểu biết, mọi lí tính và mọi nhận thức.
Mọi cái đều tồn tại nhờ có cái tôi và cái tôi có thể chi phối mọi sự tồn tại và tiêu
diệt của thế giới: Đạo đức, luật pháp, con người, thần linh… Cái tôi là một cá
nhân hoạt động có sức sống, và cuộc sống của nó là ở chỗ xây dựng cá tính và
tính cách của mình, biểu hiện mình và khẳng định mình. Bởi mỗi người khi còn
sống đều cố gắng tự thể hiện và thể hiện mình một cách hiện thực” [20, tr.16]. Khóa luận tốt nghiệp Đại học Khoa Ngữ Văn
Lăng Thị Thu Loan Lớp K36B - SP Văn
8
H.Bergson (1858 - 1941) ó chỳ ý n cỏi tụi thun tuý trong ý thc khi
nhn mnh n i sng bờn trong cỏ nhõn. Theo ụng, con ngi cú hai cỏi tụi
ú l cỏi tụi b mt v cỏi tụi b sõu. Cỏi tụi b mt l cỏc quan h ca con
ngi i vi xó hi. Cũn cỏi tụi b sõu l phn sõu thm ca ý thc. ú mi
chớnh l i tng ca ngh thut [20, tr.16].
S.Freud (1856 - 1939) cho rng: Cỏi tụi l s hin din ca ng c bờn
trong ca ý thc con ngi [20, tr.17].
Trit hc Mỏc - Lờnin xỏc nh: Cỏi tụi l trung tõm tinh thn ca con
ngi, ca cỏ tớnh con ngi cú quan h tớch cc i vi th gii v vi chớnh
phân chia khác nhau.
Vũ Tuấn Anh đưa ra các dạng thức của cái tôi trữ tình trên phương diện nội
dung và nghệ thuật.
Về mặt nội dung: Cái tôi trữ tình cá nhân với các vấn đề nhân sinh - thế sự
thể hiện sự phẫn nộ trước cái phi lí, nỗi lo âu về sự xuống cấp của nhân cách và
những giá trị tinh thần; đi tìm mình và khẳng định mình, nhìn sâu vào bản thể
tồn tại với câu hỏi “Ta là ai?”; nhận ra những triết lí về thân phận con người từ
nỗi buồn và sự cô đơn: nhạy cảm trước mọi nỗi đau của nhân thế, trước sự không
hoàn thiện của cuộc sống, đó cũng chính là trạng thái “âm bản” của niềm khao
khát hạnh phúc, sự đồng cảm và tình người; mở ra nhiều triết lí nhân sinh: Đo
mình vào thời gian, vỡ mộng, giữ vững niềm tin, cảm giác siêu nghiệm về cái
chết, tình yêu với sự chung đụng thể xác. Cái tôi trữ tình ân nghĩa và trân trọng
quá khứ, mở nhiều hướng trở về nguồn với thiên nhiên thể hiện đậm đà hồn quê
hương, dân tộc. Cái tôi trữ tình có tính chất cực đoan: Lặn sâu vào cõi Vô thức,
Bản thể và Tâm linh. Cái tôi trữ tình nhập vai: Nhà thơ phát ngôn thơ với nhiều
tư thế thể hiện tính chất phân thân.
Về mặt hình thức: Cái tôi trữ tình thể hiện cảm xúc mãnh liệt, tính đối
thoại, sự va chạm các luồng tư tưởng qua thể loại trường ca, thơ văn xuôi đậm
chất tiểu thuyết, thơ tự do chiếm ưu thế. Cái tôi trữ tình thể hiện phong cách và
thế giới tinh thần qua câu thơ có độ giãn tự do mang hình thức câu văn xuôi thể
hiện sự tràn đầy, buông thả, trùng điệp của các lớp sóng cảm xúc. Dồn nén câu
chữ, nói ít gợi nhiều, mỗi chữ gợi một khái niệm, biểu tượng. Giọng điệu đa
dạng: tự sự khách quan, băn khoăn triết lí, trầm tư, giễu cợt… “Ngôn ngữ phong
phú, dung nạp mọi loại ngôn ngữ, chấp nhận mọi đối cực từ tôn giáo, triết học,
chính trị đến thông tục, thậm chí thô tục” [1, tr.196]. Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc Khoa Ng÷ V¨n
L¨ng ThÞ Thu Loan Líp K36B - SP V¨n
mà còn đánh thức dậy rõ nhất cả phần thấp hơn của thế giới tinh thần với những
miền tiềm thức và vô thức” [20, tr.132]. Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc Khoa Ng÷ V¨n
L¨ng ThÞ Thu Loan Líp K36B - SP V¨n
11
Các quan niệm về các dạng thức của cái tôi trữ tình của các nhà nghiên
cứu nhìn chung là tương đồng và có sự nhấn mạnh riêng. Về cơ bản dạng thức
của cái tôi trữ tình được hiểu là sự thể hiện của hình tượng cái tôi trữ tình trên
nhiều kiểu dạng dựa trên nhiều tiêu chí như: “Đặc điểm nhân cách - cái tôi cá
nhân, cái tôi bản năng,… Loại hình nội dung - cái tôi thế sự đời tư, cái tôi nhân
sinh, Phương thức bộc lộ - cái tôi cảm xúc, cái tôi triết lí, ” [20, tr.57].
Những quan niệm trên về cái tôi, cái tôi trữ tình trong thơ là cơ sở để
chúng tôi nghiên cứu cái tôi trữ tình trong thơ Bùi Giáng.
Hiện diện trong thơ Bùi Giáng là hình tượng cái tôi trữ tình độc đáo và kì
dị. Từ xuất phát điểm ban đầu, nhân vật trữ tình ngôi thứ nhất - nhà thơ thể hiện
sự hi vọng, dấn thân, mơ mộng rồi nhanh chóng chuyển qua trạng thái ưu tư, bất
tín để quá trình tiếp theo xuất hiện cảm thức cô đơn và hư vô, cảm thấy mình bị
ẩn ức, bị lưu đày trong cõi nhân gian khổ đau và hệ lụy. Sự nổi loạn trong tình
cảm là một logic biện chứng dẫn dắt Bùi Giáng đi cùng thi ca một hành trình khá
dài và rồi tiếp theo là điểm đến cuối cùng xuất hiện tư tưởng hiện sinh siêu việt.
Tư tưởng này đã chứng minh Bùi Giáng chịu ảnh hưởng từ những khái niệm và
mệnh đề triết học phương Tây và tôn giáo, muốn thể hiện cái vô cùng để hóa giải
thực tại một cách vừa cao cả, vừa thiêng liêng.
1.2. Vài nét về Bùi Giáng và quá trình sáng tác
1.2.1. Vài nét về Bùi Giáng
Bùi Giáng thuở nhỏ tên là Bùi Khắc Gián sinh ngày 17 tháng 12 năm
Giáng phải rời bỏ cuộc lữ hiện tại vào lúc 2 giờ chiều ngày 7 tháng 10 năm 1998
do một cơn tai biến mạch máu tại bệnh viện Chợ Rẫy (Thành phố Hồ Chí Minh)
để đi về miền miên viễn.
1.2.2. Quá trình sáng tác của Bùi Giáng
Bùi Giáng xuất hiện với nhiều bút danh: Trung niên thi sĩ, Thi sĩ đười ươi,
Brigitte Giáng, Giáng Moroe, Bùi Bán Dùi, Bùi Bàn Dúi, Bùi Tồn Lưu, Bùi Tồn
Lê, Bùi Bê Bối, Bùi Văn Chiêu Lỳ,…
Bùi Giáng bắt đầu nghiệp viết bằng những tiểu luận. Năm 1952, Bùi
Giáng viết về Nguyễn Du, Truyện Kiều, Bà Huyện Thanh Quan, Chinh phụ
ngâm, Quan Âm Thị Kính. Năm 1957, ông viết giảng luận về Tản Đà Nguyễn
Khắc Hiếu, Chu Mạnh Trinh,… nhưng chưa được công chúng biết đến. Đến năm
1962, ông bắt đầu nổi tiếng với tập thơ Mưa Nguồn. Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc Khoa Ng÷ V¨n
L¨ng ThÞ Thu Loan Líp K36B - SP V¨n
13
Với hơn 60 tác phẩm, Bùi Giáng đã để lại cho đời một di sản văn chương
đồ sộ, đa dạng trên nhiều thể loại: Thơ, giảng luận, khảo cứu, tạp văn, dịch thuật.
Tập thơ: Mưa nguồn (1962), Lá hoa cồn (1963), Màu hoa trên ngàn
(1963), Bài ca quần đảo (1963), Sa mạc trường ca (1963), Mười hai con mắt
(1964), Rong rêu (1972), Mùa màng tháng tư (1987), Đêm ngắm trăng (1997),
Thơ Bùi Giáng (Montréal, 1994), Thơ Bùi Giáng (California, 1994),…
Giảng luận: về Nguyễn Công Trứ, Phan Bội Châu, Tôn Thọ Tường, Phan
Văn Trị… (tất cả đều được xuất bản năm 1957-1959).
Triết học: Tư tưởng hiện đại (1962), Martin Heidegger và tư tưởng hiện
đại I và II (1963), Sao là không có triết học tư tưởng Heidegger? (1963),…
Tạp văn: Đi vào cõi thơ (1969), Sa mạc phát tiết (1969), Mùa thu trong thi
sc so, mt n ci khỏ bng lng, mt ging núi hin hũa, khụng phõn tranh. Hai
c trng ny ha ra mt Bựi Giỏng trn mt i phiờu bng, khụng my may danh
vng, quyn lc, khụng mỏi nh. ễng sng tha thit vi cuc i nhng thng
trc ngó ba, ngó t lem luc bi giang h trờn ng ph Si Gũn. Ngi ta
thng gp Bựi Giỏng trong b dng ca mt ngi hnh kht vi hỡnh hi ngi
iờn qun ỏo mu sc, ụi khi say ngt ngng, ng bờn l ng di gc cõy
xanh v dựng nhng n, thc ung m ngi i b i. Bựi Giỏng iờn m
tnh bi ụng ý thc rừ trng thỏi iờn ca mỡnh. Cng nh nhiu nh th khỏc, khi
nim tuyt vng nh nc triu dõng, ln ỏt b bn ca nim hi vng thỡ ụng cng
thoỏt li khi thc ti. Bựi Giỏng mn ru gii su ri chỡm vo gic chiờm bao.
Nhng khụng c, ụng lin kt thõn vi ch ngha xờ dch. iu tuyt vi õy
l nhng chuyn xờ dch y õu phi l khụng mc ớch. ễng i thng ngon
cỏi m Xuõn Diu gi l Thiờn ng trờn mt t, tn hng n tn cựng
nim vui thỳ v hoan lc trong cuc vui ca L hi trn gian cựng chun chun,
chõu chu; húa thõn thnh ngi anh du mc chn bũ, chn dờ. ễng i chuyn
húa nhng gỡ mỡnh thu nhn c t nhón quan thnh nhng dũng trit lớ sõu sc:
Cm thụng cho nhng thõn phn nh bộ trong xó hi; trõn trng nhng giỏ tr truyn
thng tt p ca dõn tc; cao vn quyn sng ca con ngi vi nhng nhu
cu, ũi hi ca cỏ nhõn, vi nhng t tng mang tm trit lớ cao diu. Trong
nhng nm thỏng y, Bựi Giỏng cũn biờn kho v t tng Phng Tõy m ch yu
l Ch ngha Hin sinh ang thi thng ri thõn xỏc phiờu bt mt gúc tri
xa, tõm thc cũn phiờu bng xa hn na: Cựng Hong T Bộ ca Saint - Exupộry
bay qua nhng tinh cu nhỡn thy c s l lựng trong tớnh cht ca con
ngi hay khoe khoang, thớch n nhu cn phi c tun dng. Chp cỏnh Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc Khoa Ng÷ V¨n
L¨ng ThÞ Thu Loan Líp K36B - SP V¨n
Chƣơng 2
HÌNH TƢỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ BÙI GIÁNG
2.1. Cái tôi minh triết
2.1.1. Cái tôi tự họa
Khoác trên mình bộ quần áo của người hành khất với túi thơ trên vai đó
chính là bức họa về Bùi Giáng - nhà thơ của những tháng ngày ngao du. Kể từ
những ngày tháng thường trực giữa ngã ba đường của phố thị huyên náo, cho
đến lúc thả hồn mình vào chiếc lá để trở về với cát bụi, phiêu du cùng mây gió
thì ông vẫn như một thanh nam châm đầy ma lực khi thu hút người khác bởi
những tranh cãi về mình chỉ với một câu hỏi đó là Bùi Giáng điên hay tỉnh? Bản
thân thi sĩ cũng thừa nhận mình là một kẻ điên nhưng là “cái điên thượng thừa”.
Điên để tìm kiếm “hạnh phúc thần tiên ở đời”. Điên để tạo cho mình một thú vui
tinh thần:
Ông điên mà zdui zdẻ thập thành
Chúng tôi tỉnh táo mà đành buồn hiu
(Đi về làng xóm)
Điên là một bệnh lí của con người, vậy thì có gì mà phải thắc mắc hay
phân bua? Có điều, như nhà thơ Nguyễn Quang Sáng viết: “Bệnh điên của anh là
bệnh điên thi ca, nó không gây ra những hành động phá phách hung dữ khiến
chúng ta sợ mà rót vào hồn ta những vần thơ nhân ái ngọt ngào” [15, tr.178].
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nói: “Anh là một người biết yêu thương thành khẩn mặt
đất này. Yêu và nhớ nó tha thiết đến độ điên đảo. Điên đảo để càng yêu và càng
nhớ nó thiết tha” [15, tr.179]:
Bỏ trăng gió lại cho đời
Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa
Bỏ người yêu, bỏ bóng ma
Bỏ hình hài của tiên nga trên trời
(Mắt buồn)
Hay mn ru gii su:
Ung v say núi lng nhng
Ming mm lý nhớ thn ln t uụi
(Ngi iờn ung ru) Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc Khoa Ng÷ V¨n
L¨ng ThÞ Thu Loan Líp K36B - SP V¨n
18
Nằm ngủ giữa thiên nhiên tươi đẹp từ chiều cho đến đêm, tự do thả hồn
mình vào cỏ cây để ngủ một giấc dài mà không sợ bị làm tỉnh giấc:
Ngủ yên cây cỏ ngậm ngùi
Một giờ yên ngủ lấp vời trăm năm
Tỉnh ra tìm lại chỗ nằm
Chốn xa xôi ấy đêm nằm trăng soi
(Chuyện chiêm bao 17)
Trong hành trình đi tìm nguyên nhân cho trạng thái điên của Bùi Giáng,
có thể tìm thấy sự giải minh trong cõi ông.
Thơ Bùi Giáng đôi khi còn gọi là thơ ngông. Nó được khơi nguồn từ sự sáng
tạo - một dòng suối không bao giờ vơi cạn ở trong ông trong những năm tháng
thưởng thức, ngao du với cái đẹp. Dòng suối mát trong ấy đã gột rửa tâm hồn ông
để đẩy sự sáng tạo đối diện với cái đẹp vũ trụ trong khi cắt bỏ những cái khô khan
trong cuộc sống thường ngày, những mưu toan và dự định của cuộc đời. Ý thức về
ngoại giới trong ông đã tạo nên một trạng thái tinh thần ngây ngô, thậm chí xa lạ đối
với con người. Bùi Giáng không suy luận, không phán đoán mà tập trung tinh thần
vào đối tượng, quên mình vào sự vật, làm cho chúng trở nên đẹp đẽ, sang trọng hơn
với những gì nó đã có từ trước.
Cuộc sống nơi trần thế đã tạo ra trong cuộc đời của Bùi Giáng những kỉ
tức là trạng thái xuất phát từ bản năng và sự chọn lựa theo nhu cầu ăn uống của
chính bản thân con người. Nhưng ẩn sâu trong bề mặt ngôn từ ấy là cả một nỗi
niềm phân vân giữa cuộc đời:
Sáng nay bao tử mơ mòng
Cà phê bên nọ, cháo lòng bên kia
(Sáng nay)
Bùi Giáng những mong ông Trời sẽ giải đáp những thắc mắc của bản thân
nói riêng và của nhân gian nói chung về những khái niệm trừu tượng đang tồn tại
trong đời sống tinh thần của con người: “Hỏi ông trời: - chớ thuyền quyên là
gì?”! Thật khó nắm bắt! Nó khiến cho ta cứ mải miết đi tìm kiếm khởi nguồn mà
quên mất rằng mình là ai?
Trời rằng: - ngươi rất có quyền
Hỏi như rứa đó…nhưng…
- Nhưng sao
- Nhưng ta không đủ thẩm quyền đáp đâu
(Ông trời chịu thua)