Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ LOAN
CÁI TÔI TRỮ TÌNH
TRONG THƠ BÙI KIM ANH
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN THÁI NGUYÊN, 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu 7
3.1. Nhiệm vụ nghiên cứu 7
4. Phương pháp nghiên cứu 8
5. Đóng góp của luận văn 8
5. Cấu trúc luận văn 8
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THƠ NỮ VIỆT NAM THỜI KỲ HIỆN
ĐẠI VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NHÀ THƠ BÙI KIM ANH 9
1.1. Khái quát về thơ nữ Việt Nam thời kỳ hiện đại 9
1.1.1. Về đội ngũ 9
1.1.2. Nét đặc sắc của thơ nữ Việt Nam 12
1.2. Khái quát về quá trình sáng tác của nhà thơ Bùi Kim Anh 14
CHƢƠNG 2 : NỘI DUNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH THƠ BÙI KIM ANH 24
2.1. Khái niệm cái tôi trữ tình trong thơ 24
2.2. Đặc điểm cái tôi trữ tình trong thơ Bùi Kim Anh 30
2.2.1. Cái tôi kín đáo, dịu dàng, sâu sắc, đầy nỗi niềm và lòng trắc ẩn 30
2.2.2. Cái tôi - mạnh mẽ, bản lĩnh đối mặt với nỗi buồn, nỗi bất hạnh trong
cuộc đời 48
CHƢƠNG 3: NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ
và về số phận của những người phụ nữ thời kỳ hiện đại với bao nỗi niềm trước
cuộc đời vốn rất phức tạp, đầy niềm vui, hạnh phúc nhưng cũng đầy nỗi buồn,
khổ đau và bất hạnh. Hay nói một cách khác, cái Tôi trữ tình trong thơ Bùi
Kim Anh đã đem đến cho người đọc một tình cảm thẩm mỹ đặc biệt trước vẻ
đẹp của một tâm hồn phụ nữ đầy dịu dàng mà mãnh liệt , đầy yêu thương,
nhân hậu nhưng cũng đầy sự xót xa, đắng đót, đôi khi khiến người đọc quặn
lòng! Chính vì vậy, cái Tôi trữ tình có màu sắc riêng biệt ấy đã góp phần làm
nên “bản sắc” và sự phong phú cho thơ nữ Việt Nam thời kỳ hiện đại.
- Nhà thơ Bùi Kim Anh là người con của quê hương Thái Bình – vì vậy,
nghiên cứ u, tìm hiểu để ghi nhận những đóng góp của nhà thơ – nhằ m giớ i thiệ u
vớ i đông đả o ngườ i đọ c, đặ c biệ t là nhữ ng ngườ i đọ c tỉ nh Thá i Bì nh – là động lực
để chúng tôi thực hiện luận văn này. Kế t quả nghiên cứ u cũ ng sẽ là mộ t tà i liệ u
tham khả o bổ í ch cho phầ n văn học đị a phương Thá i Bì nh củ a chú ng tôi.
- Do đó, nghiên cứu thơ Bùi Kim Anh cũng chính là nghiên cứu một
trong những nét “bản sắc riêng biệt” của thơ nữ Việt Nam, nghiên cứu một
cáiTôi trữ tình trong thơ nữ thời kỳ hiện đại mà chưa được nhiều người quan
tâm. Qua đó, góp phần vào việc làm rõ hơn những đặc điểm và giá trị của thơ
nữ Việt Nam trong đời sống văn học hiện nay.
2
2. Lịch sử vấn đề
Trước hết, có thể khẳng định rằng chưa có một công trình nào nghiên
cứu một cách toàn diện về thơ của Bùi Kim Anh. Người đọc có thể gặp đây
đó các bài giới thiệu, phê bình thơ Bùi Kim Anh rải rác trên các báo viết, báo
điện tử. Ngoài ra, ta còn gặp các cuộc phỏng vấn tác giả mà ở đó Bùi Kim
Anh đã ít nhiều “bật mí” cho người đọc những suy nghĩ và nỗi niềm của
chính mình trong quá trình sáng tác.
Trong khoảng hơn chục năm nay thơ Bùi Kim Anh được đông đảo bạn
đọc đón nhận và yêu mến, điều đó được minh chứng qua các bài viết, những
nhận xét, đánh giá, bình luận của độc giả được đăng trên các báo viết và báo
Tác giả Linh Quang cũng nhận thấy rằng: “qua các tập thơ từ tập thơ
Viết cho mình, đến tập Cỏ dại khờ, Lối mưa, Bán không cho gió, Lời
buồn trên đá và tập Lục bát cuối chiều đều thấm đẫm niềm khát khao tình
yêu hạnh phúc, sự dịu dàng, vị tha, vượt lên số phận mình của Bùi Kim
Anh”. Và mặc dù cuộc sống của chị có quá nhiều bất hạnh nhưng “chị vẫn
vượt lên hoàn cảnh, vượt lên số phận để sáng tác, để đạp qua mọi khó khăn,
thử thách trong đời thường”. Nhân vật “Tôi”- nhân vật trữ tình đi suốt 6
tập thơ của chị đã khiến bạn đọc thương cảm và mến phục.
Tác giả Lê Thiếu Nhơn trong mục Diễn đàn văn nghệ trên báo điện tử
đã đánh giá Bùi Kim Anh là “một người phụ nữ từng ngồi lặng trong đau
khổ để viết những câu thơ xót xa” và cũng thật may mắn cho người phụ nữ
này vì dù gì chị cũng còn có thơ! Biết đâu thơ sẽ vỗ về chị, sẽ nâng đỡ chị
bước qua năm tháng trắc trở không ngờ! Lê Thiếu Nhơn đã cho rằng: “thơ
đã dìu chị qua gập ghềnh khi không còn nước mắt để khóc”.
Khi đọc tập thơ Bắc lên ngọn gió mà cân của Bùi Kim Anh (gồm 54
bài thơ vần điệu hoặc thơ tự do) tác giả Chân Phương thấy "toát lên từ sáng
4
tác này tính cách nhân hậu của một phụ nữ Á Đông thời đại, không chỉ làm
tốt bổn phận người con, người mẹ, người bà, còn ôm ấp thêm những ưu tư xã
hội – văn hóa giữa thế sự đất nước ngổn ngang như một sân khấu lớn trên đó
Ông Thiện, Ông Ác là cặp đạo diễn của từng số phận Việt Nam…"
Tác giả Đào Nam Sơn khi đọc “Lục bát cuối chiều” của Bùi Kim Anh
đã viết: “đây là tập tinh tuyển những bài thơ lục bát đã trình làng trong các
tập thơ trước và thêm một đôi bài chị mới làm”. Tác giả đã đánh giá đây là
“một sự cố gắng không mệt mỏi” của nhà thơ. Và cho dù hầu hết thơ Bùi Kim
Anh là những bài buồn, những lời than thở, nhưng các bài thơ này vẫn không
hề bị rơi vào thể “đơn điệu”. Ý thơ, hoàn cảnh của mỗi bài thơ ít khi bị lặp lại.
Tác giả Song Nguyễn khi đọc “Lời buồn trên đá” cho rằng 59 bài
trong tập thơ là “59 nỗi buồn của một phần đời đã qua đi và bây giờ được
Bùi Kim Anh đã nhận xét rằng: “Lục bát của Bùi Kim Anh có một sức sống
riêng biệt, chị thường dùng thủ pháp phá cách ở câu sáu “vạ vật tê cả bước
đi”, hay sử dụng điệp ngữ làm cho câu thơ được dồn nén trùng điệp về ý tứ,
hối hả về nhịp điệu mà vẫn nhuyễn, lấp lánh hấp dẫn người đọc. Đó là những
đóng góp đáng kể để lục bát vẫn mới, vẫn hiện đại mang hơi thở thời đại”.
Tác giả Phạm Thanh Cải cũng có những ấn tượng riêng về việc phá
cách thể thơ lục bát của Bùi Kim Anh - khi đọc bài thơ Bia vẫn trắng của
chị. Trong bài thơ lục bát Bia vẫn trắng được mở đầu và kết thúc bằng câu
lục: “Ai biết mộ anh ở đâu?”. "Câu này, tác giả đã sử dụng thủ pháp phá
cách, chữ thứ tư lẽ ra phải dùng thanh trắc, nhưng trong câu thơ này tác giả
sử dụng thanh bằng. Tác giả đã có ý tạo ra cho câu thơ có một tiếng nấc
nghẹn, một nhịp điệu khác với câu lục thông thường".
6
Ở thơ lục bát của Bùi Kim Anh - người đọc thấy ở “ câu lục” có những
câu không “êm xuôi” như thơ lục bát truyền thống. Còn ở “câu bát” là những
câu viết rất khéo bởi bà đã có sáng tạo trong cách dùng từ và lựa chọn hình
ảnh. Đào Nam Sơn viết “có thể nói Bùi Kim Anh đã hình thành một giọng thơ
riêng không thể trộn lẫn với các nhà thơ nữ cùng thời với chị”.
Quả thực như vậy, trong 7 tập thơ của mình, chị đã có riêng một tập thơ
viết bằng thể lục bát. Trong 6 tập còn lại của chị cũng có khá nhiều bài thơ
sáng tác theo thể lục bát.
Bên cạnh thể thơ lục bát chị thường viết theo thể thơ tự do. Thể thơ tự
do trong thơ của Bùi Kim Anh được thể hiện một cách rất linh hoạt - từ
những câu chỉ có 1, 2… đến 7, 8 và đến 40, 50 từ - giúp mở rộng biên độ
của thơ, qua đó chuyển tải các ý nghĩ phức tạp và những cảm xúc tràn đầy
làm cho bài thơ tuôn trào như một dòng chảy tâm trạng không ngưng nghỉ.
Cũng như thể thơ lục bát, thể thơ tự do của chị cũng mang một nét riêng
biệt, nó thể hiện rõ cái Tôi trữ tình trong thơ của chị.
Nhận xét về việc sử dụng thể thơ tự do trong sáng tác của Bùi Kim Anh
thơ Bùi Kim Anh” nói riêng. Vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn vấn đề này để
tiếp cận thơ của nữ tác giả khá đặc biệt này.
3. Mục đch, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đch nghiên cứu
- Nghiên cứ u đặ c điể m cái Tôi trữ tình ở thơ Bùi Kim Anh nhằm mục
đí ch: chỉ ra những đặc điểm riêng , nhữ ng sá ng tạ o và nhữ ng đó ng gó p riêng
của nhà thơ Bùi Kim Anh đối với thơ nữ Việt Nam thời kỳ hiện đại.
3.2. Nhiệ m vụ nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm của cái Tôi trữ tình trong thơ Bùi Kim Anh ở cả
hai phương diện: nội dung và nghệ thuật.
8
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu toàn bộ sáng tác của Bùi Kim Anh, bao gồm 7 tập thơ đã
in: Viết cho mình (1995), Cỏ dại khờ (1996), Lối mưa (1999), Bán không
cho gió (2005), Lời buồn trên đá (2007), Lục bát cuối chiều (2008), Bắc lên
ngọn gió mà cân (2010).
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau:
- Phương pháp khảo sát, thống kê
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp phân tích, khái quát, tổng hợp
5. Đóng góp của luận văn
Tác giả luận văn cố gắng làm nổi bật đặc điểm của cái Tôi trữ tình trong
thơ Bùi Kim Anh - trong cái nhìn toàn diện về cả nội dung và nghệ thuật.
Luận văn ít nhiều góp phần gợi mở hướng tiếp cận nghiên cứu về một hiện
tượng văn học cụ thể trong đời sống thơ ca Việt Nam hiện đại. Kết quả của
luận văn sẽ góp phần chỉ rõ hơn sự phong phú và nét đặc sắc của thơ nữ Việt
Nam thời kỳ hiện đại và là tài liệu tham khảo có ích cho việc giảng dạy văn
Sầm Phố
Những năm 1930 - 1945 là khoảng thời gian nền văn học Việt Nam hoàn
tất quá trình hiện đại hóa. Ở giai đoạn này, hàng loạt các nhà thơ nữ của phong
trào Thơ Mới ra đời. Mở đầu là Nguyễn Thị Manh Manh, sau đó là: Vân Đài,
Anh Thơ, Hằng Phương, Mộng Tuyết, Ngân Giang, Thu Hồng, Cẩm Lai
Những đóng góp của các nhà thơ nữ trong những thời kỳ khác nhau của
lịch sử văn học dân tộc đã làm phong phú thêm gương mặt thơ ca nước nhà.
10
Thơ nữ Việt Nam thời kỳ trước 1945 góp phần quan trọng làm nên cuộc cách
mạng trong thơ ca dân tộc. Tuy về số lượng - so với các nhà thơ khác giới thì
số lượng các tác giả thơ nữ thời kỳ này còn ở một mức độ rất khiêm tốn, tiếng
nói của họ còn yếu ớt, các tên tuổi nổi tiếng còn đếm trên đầu ngón tay. Tuy
vậy, sự phong phú, sự đa dạng và sự thành công của đội ngũ các nhà thơ nữ
trong thời kỳ Thơ Mới Việt Nam đã góp phần làm nên một nền thơ ca mới
của dân tộc Việt Nam.
1.1.1.2. Thời kỳ từ năm 1945 đến nay
Cách mạng tháng Tám thành công mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc, kỷ
nguyên độc lập tự do và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong cuộc sống mới đó -
mọi người dân thực sự được làm chủ xã hội, làm chủ vận mệnh của mình.
Nhu cầu về đời sống tinh thần cũng như vật chất, đặc biệt là quyền bình đẳng
của phụ nữ đã được xã hội quan tâm. Chị em phụ nữ đã được tham gia vào
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực văn học nghệ
thuật. Đội ngũ các nhà thơ nữ ngày càng đông đảo hơn, họ đã dần khẳng định
được tài năng và vị thế của mình trong đời sống văn học nước nhà. Thơ của
các chị góp phần không nhỏ vào sự nghiệp văn học của dân tộc, vào công
cuộc đấu tranh chống xâm lược và xây dựng đất nước.
Các thế hệ nhà thơ nữ Việt Nam nối tiếp nhau liên tục phát triển đã
khẳng định được tiếng nói của mình trên thi đàn dân tộc. Từ thế hệ các nhà
thơ nữ hiện đại đầu tiên như: Nguyễn Thị Manh Manh (Nguyễn Thị Kiêm),
(1988), "Du nữ ngâm" (2006) của Dư Thị Hoài; "Ngôi nhà sau cơn bão"
(1992), "Thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát" (2003), "Gió thổi tràn qua mặt" (2006)
của Nguyễn Thị Hồng Ngát; "Cô gái và cầu vồng" (1995), "Nửa vòng bông
gạo" (2001) của Đoàn Thị Ký; "Khát" (1999), "Đồng tử" (2005) của Vi Thuỳ
Linh; "Chồng chị chồng em" (1991), "Thơ trữ tình" (2003), "Thơ với tuổi
12
thơ" (2005) của Đoàn Thị Lam Luyến; "Đẹp và buồn trong suốt như gương"
(2005), "Giấc mơ hái từ cơn giông" (2008) của Lê Khánh Mai; "Một khúc
sông trăng" (2001), "Tảo tần gót khuya" (2005) của Nguyễn Thị Mai; "Người
đàn bà ngồi đan" (1985), "Mưa tuyết" (1991), "Ý Nhi Thơ" (2000) của Ý Nhi;
"Khoảng cách cuối cùng" (1999), "Hoa bất tử" (2011) của Trần Thị Vân
Trung; "Giá mà em từ chối" (2002), "Mưa mùa đông" (2004) của Nguyễn
Thuý Quỳnh; "Lục bát cuối chiều" (2008), "Bắc lên ngọn gió mà cân" (2010)
của Bùi Kim Anh…
Tất cả hàng trăm tập thơ, hàng ngàn bài thơ của các nhà thơ nữ Việt
Nam thuộc các thế hệ khác nhau đã góp phần đáng kể vào sự phát triển của
nền thơ ca dân tộc thời kỳ hiện đại.
1.1.2. Nét đặc sắc của thơ nữ Việt Nam
Có thể thấy, nét đặc sắc chung của các nhà thơ nữ Việt Nam là: giàu nữ
tính, tràn đầy yêu thương và lòng vị tha cùng đức hi sinh cao cả. Các nhà thơ
nữ luôn có ý thức gắn những nỗi niềm tâm sự của cá nhân (thân phận cá nhân)
với vận mệnh dân tộc bằng một giọng thơ dịu dàng, tình cảm, tràn đầy cảm
xúc, đầy chất nhân văn.
Nội dung chính của thơ nữ Việt Nam ở thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX
là: lên án xã hội phong kiến bất công, chà đạp số phận con người nói chung
và người phụ nữ nói riêng; thể hiện khát vọng hạnh phúc lứa đôi, hạnh phúc
gia đình. Đặc biệt, những vấn đề về cuộc sống cá nhân của phụ nữ đã được
chính những phụ nữ phản ánh, chính họ đã nói lên bằng những nỗi niềm và
cuộc đời mình, bằng tấm lòng mình và trái tim mình. Vì thế, đã làm nên
mạnh mẽ hơn và sâu sắc hơn với những giọng điệu riêng, phong phú. Thơ của
các chị đều có chung một đặc điểm: "thể hiện những điều tâm tình nhiều khi
nhỏ nhặt nhưng góp phần nói lên đầy đủ cái phong phú đáng yêu của cuộc
14
sống mới này " (Lê Mai (1997), "Cuộc sống mới xã hội chủ nghĩa với các
nhà thơ nữ" Tạp chí văn học (số 2), tr51-64).
Thơ nữ Việt Nam hiện đại cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI tiếp tục khai
thác hướng đề tài truyền thống, nói về thân phận người phụ nữ, về tình yêu,
lòng thuỷ chung son sắt, tình mẹ con, bầu bạn đồng thời, họ đi sâu khám
phá những đề tài mới trong cuộc sống đầy biến động, với những va đập những
thách thức mới, với niềm khát khao mãnh liệt hướng tới cái mới. Thơ nữ trẻ
thế hệ 8x, 9x cố gắng khẳng định cái "Tôi" trẻ trung, góc cạnh, cái "Tôi" đầy
tính cá thể trước mọi biến động của đời sống xã hội. Thơ họ nói lên tiếng nói
cá nhân và bộc lộ những tư tưởng, những ý niệm của mình về cuộc đời, về xã
hội, về thời đại.
Có thể thấy thơ nữ là sự phản ánh tâm hồn, thế giới nội tâm của người
phụ nữ, là cách nhìn đời thường qua lăng kính và trái tim của người phụ nữ.
Chính vì thế thiên tính nữ với những số phận cụ thể, những khát vọng về hạnh
phúc, tình yêu cũng như những vấn đề muôn thuở của nhân sinh và kiếp
người phụ nữ chính là những chiều sâu của các giá trị tiêu biểu của thơ nữ
Việt Nam qua các thời kì.
1.2. Khái quát về quá trình sáng tác của nhà thơ Bùi Kim Anh
Bùi Kim Anh sinh năm 1948 (quê Thái Bình) nhưng sinh ra và lớn lên
tại Hà Nội trong một gia đình công chức. Bà học trườ ng Đại học Sư phạm
ngành Ngữ văn và dạy văn từ năm 1968 tại Hà Nội. Bà là một nhà giáo (một
trí thức) yêu thơ và viết thơ, rồi dần trở thành một nhà thơ nữ có giọng điệu
riêng biệt. Hiện bà đang là hội viên Hội nhà văn Việt Nam và đã từng công
tác trong Ban Nhà văn nữ của Hội nhà văn Việt Nam.
Bùi Kim Anh là người yêu văn chương từ nhỏ. Bà tập làm thơ khi mới
phận cá nhân, cũng như trước cuộc đời.
16
Có thể thấy, Bùi Kim Anh trong quá trình sáng tác của mình đã tạo nên
được một giọng điệu thơ khá độc đáo, có màu sắc riêng biệt, thể hiện một
cách rõ nét, sinh động cái Tôi trữ tình trong đời sống thơ ca nữ Việt Nam
thời kì hiện đại.
Tác giả Hiền Nguyễn cho rằng: Bùi Kim Anh làm thơ để tìm giá trị hạnh
phúc, và chính nhà thơ Bùi Kim Anh cũng khẳng định: Tôi làm thơ cho chính
mình. Cảm xúc của tôi được lấy từ chính cuộc sống thường ngày của mình và
"chỉ khi nào có cảm hứng thì tôi mới viết. Có những ngày tôi làm một mạch
được vài bài " (Báo Điện tử Tổ quốc - Chuyên mục ý kiến - đối thoại
1/6/2009).
Trong khoảng thời gian từ 1995 đến năm 2010, nhà thơ Bùi Kim Anh có
khoảng hơn 400 bài thơ với 7 tập thơ: "Viết cho mình" (1995); "Cỏ dại khờ"
(1996); "Lối mưa" (1999); "Bán không cho gió" (2005); "Lời buồn trên đá"
(2007); "Lục bát cuối chiều" (2008); "Bắc lên ngọn gió mà cân" (2010). Và
chị vẫn tiếp tục sáng tác và sắp cho ra đời tập thơ với cái tên dự định "Nhốt
thời gian".
Có thể chia các tác phẩm thơ của Bùi Kim Anh làm hai giai đoạn: Giai
đoạn đầu: đầy sự trong trẻo, tin yêu, băn khoăn, day dứt, bao dung, hồn hậu
của một người phụ nữ - một cô giáo yêu người, yêu thơ và làm thơ; Giai đoạn
sau: đau đớn, xót xa, quằn quại, hoài nghi, chua chát, cay đắng, đôi khi là
tuyệt vọng nhưng vẫn toát lên chất vàng mười của lòng nhân hậu, sự hi sinh
của lòng tự trọng, của bản lĩnh người mẹ, người vợ Việt Nam trong những lúc
khó khăn nhất, bất hạnh nhất của cuộc đời. Người đọc đã bắt gặp một thứ tình
cảm trong trẻo đầy sự tin yêu, bao dung và hồn hậu của một người phụ nữ
trong thơ qua hàng loạt bài: Ngập ngừng, Buồn dang dở, Tím lỡ làng, Xa, Cho
em gặp anh, Ngày không anh, Lạc khoảng trời, Nhặt trăng, Chơi vơi Cũng
như bắt gặp những nỗi đau đớn, xót xa, hoài nghi đôi khi là tuyệt vọng trong
18
xếp cuộc đời theo từng bước đặt
Sương - khổ, rủi - may
Chẳng tại số trời
Ước ba lần
Trong "Cỏ dại khờ" - ta thấy Bùi Kim Anh muốn thể nghiệm những gì chị
đã cảm nhận được trong cuộc đời này. Trong nhiều bài thơ, chị luôn hướng tới
đời, hướng tới con người của hôm nay. Tấm lòng của một người mẹ trong bài
"Thay cho lời ru" của tập thơ này là một ví dụ tiêu biểu:
Hãy ngủ đi non nớt của mẹ ơi
Nụ hôn tình yêu sẽ gắn lành nỗi đau nức nở
Có một chàng trai đến tìm con hẹn mai còn đến nữa
Mẹ đi lau chiếc gương nơi sáng nắng nhà mình
Chị đã hiểu đã sẻ chia, đã an ủi và vực con dậy để tin vào cuộc đời, vào
tình yêu cho dù - chính tình yêu đã gây tổn thương, đau đớn cho con.
Và thật khiêm tốn khi chị viết về mình:
Người ta đi đông đi tây
Còn tôi quanh lại ở ngay xó nhà
Những chỉ lo việc đàn bà
Tứ thơ eo hẹp trong ba chuyện đời.
Nhưng "ba chuyện đời" đó đi vào thơ chị thì đâu có phải là nhỏ, là ít
nữa! Sự khiêm tốn đôi khi chính là niềm kiêu hãnh, tự hào của người phụ nữ.
Tập thơ "Lối mưa" in năm 1999 (sau "Cỏ dại khờ" 3 năm). "Lối mưa"
vẫn khuynh hướng viết cho mình, mình giãi bày cùng bạn đọc, nhưng đã chín
hơn nhiều trong những bài thơ viết cho cuộc đời, cho cõi nhân gian:
Cụ già như bà lão trong cổ tích
Dúm dó góc hồ lần lữa đôi tay cắt gọt
Mụn vải tả tơi gió lật
19
đầy/ Cho một chút đổ đầy oan nghiệt…"
Thơ viết cho mình, cho con lúc này là nguồn sống cho tác giả vượt lên
tai ương, bất hạnh: "Con trai ơi hãy yên lòng ra đi/ Mỗi sớm/ Mẹ ở bên cha/
Ta còn mãi mái nhà".
Chỉ sau một năm khi "Bán không cho gió" được xuất bản thì năm 2007,
nhà thơ cho in "Lời buồn trên đá". Khi chồng mắc vào vòng lao lý, con mắc
bệnh nan y, chị càng viết thơ nhiều hơn, giọng thơ cứng rắn hơn, khiến người
đọc xúc động:
Những câu thơ không vớt được ý thơ
Những câu thơ không giải thoát được người làm thơ
Những điều tồn tại không có mặt trong thơ
Những điều không tồn tại lại kết thành câu chữ
Tập thơ "Bán không cho gió" được Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà
Nội trao giải hàng năm. Trong tập thơ này chị đã có những bài, những câu
làm nao lòng người:
- Câu thơ em viết cho em
Cởi ra xa xót vò thêm nát nhàu
Ta làm thơ để tặng mình
- Tôi là một kẻ quăng chài
Buông câu để kéo một vài ý thơ
Thơ luôn là chứng liệu lịch sử chính xác nhất cho số phận mỗi nhà thơ.
Người đọc nhận ra được từ thơ chị những đắng cay, chua chát mà chị đã hứng
chịu và những bất hạnh, thử thách mà chị phải trải qua. Đến 2 tập thơ "Bán
không cho gió" và "Lời buồn trên đá" thì không còn một Bùi Kim Anh "lãng
đãng và mê đắm" như ở mấy tập thơ trước nữa mà là một Bùi Kim Anh:
"chông chênh cơn tuyệt vọng và dằn vặt nỗi hệ luỵ" (Lê Thiếu Nhơn). Trong
21
những đêm đau đớn, bất hạnh dồn dập đổ ập vào chị, chị chỉ còn vũ khí cuối
cùng là thơ để tự vệ, để vịn vào, đứng lên: