Cái tôi trữ tình trong thơ Ý Nhi, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ HUỆ
CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG
THƠ Ý NHI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN – 2012
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ HUỆ
CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG
THƠ Ý NHI
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYỄN VĂN HẠNH
NGHỆ AN - 2012
2
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
5. Phương pháp nghiên cứu 11
6. Cấu trúc của luận văn 11
Chương 1. CƠ SỞ CHO SỰ HÌNH THÀNH CÁI TÔI TRỮ TÌNH
TRONG THƠ Ý NHI

3.2.2. Giọng điệu trữ tình triết lí 89
3.3. Nghệ thuật tổ chức lời thơ 92
3.3.1. Sử dụng ngôn ngữ gần gũi với đời sống 93
3.3.2. Linh hoạt, biến hóa trong kiến trúc câu thơ 97
3
3.3.3. Một số biện pháp tu từ nổi bật 10
1
3.3.3.1. So sánh 10
1
3.3.3.2. Ẩn dụ 10
3
3.3.3.3. Tương phản, đối lập 10
6
KẾT LUẬN 10
9
TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Thơ trữ tình là sự biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của nhà thơ.
Những cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ của nhà thơ trong thế giới nghệ thuật chính
là những biểu hiện của cái tôi và các nguyên tắc thể hiện của nó. Cái tôi trữ
tình là hình tượng trung tâm trong thơ trữ tình. Nhìn từ góc độ phản ánh luận
thì cái tôi lại chính là đối tượng phản ánh của nhà thơ, là kết quả của sự miêu
tả, tự đánh giá, tự ý thức của chính nhà thơ. Đi vào nghệ thuật, cái tôi trữ tình
4
cũng đóng vai trò sáng tạo, tổ chức các phương tiện nghệ thuật và là tiền đề
tạo ra sự độc đáo, riêng biệt cho thơ mỗi nhà thơ nói riêng cũng như thơ trữ
tình nói chung. Vì vậy việc tìm hiểu cái tôi trữ tình trong thơ là một cách đánh
giá sáng tạo thơ ca từ góc độ thi pháp.

kháng chiến chống Mỹ. Ngay từ khi mới xuất hiện, thơ Ý Nhi đã thu hút sự
chú ý, quan tâm của giới nghiên cứu phê bình và đông đảo những người yêu
thơ. Nhiều công trình, bài viết dưới dạng này đã đề cập đến nhiều vấn đề
trong thơ Ý Nhi.
Trong công trình nghiên cứu Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại,
khi nói về thơ ca chống Mỹ, Hà Minh Đức, đã đánh giá cao tài năng, cá tính
sáng tạo của đội ngũ những nhà thơ trẻ, trong đó có Ý Nhi. Ông viết, “Rồi
đây khi cuộc chiến tranh kết thúc họ sẽ là lực lượng chủ đạo trên thi đàn trong
những thập kỷ cuối của thế kỷ 20. Những nhà thơ chiến sĩ như Nguyễn Duy,
Thu Bồn, Hữu Thỉnh, Phạm Tiến Duật… những tác giả nữ như Ý Nhi, Xuân
Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ cũng đã có những đóng góp quan trong trong thơ
thời kỳ đổi mới” [15, 119]. Dù không viện dẫn, lí giải dài dòng nhưng những
gì Hà Minh Đức đánh giá đã phần nào cho người đọc thấy được vị trí, vai trò
của Ý Nhi trong hành trình thơ ca Việt Nam hiện đại. Năm 1969, Ý Nhi được
giải thưởng khuyến khích cuộc thi thơ của tuần báo Văn Nghệ, đánh dấu con
đường thơ của chị. Mười lăm năm sau, năm 1985, tập thơ Người đàn bà ngồi
đan của Ý Nhi ra đời, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong đời thơ của
chị. Tập thơ được trao Giải thưởng loại A của Hội Nhà văn Việt Nam, ghi
nhận những cố gắng đổi mới thơ Việt của chị. Bởi từ đây, trong thơ ca lần đầu
tiên “xuất hiện một giọng nói hết sức trầm tĩnh”, một phong cách mới lạ và
đầy sáng tạo trong thơ ca. Nhiều các công trình, bài viết nghiên cứu của các
nhà nghiên cứu, phê bình văn học chuyên và không chuyên về thơ Ý Nhi đã
lần lượt xuất hiện. Trong đó, tiêu biểu là Chu Văn Sơn, Nguyễn Thị Minh
Thái, Thúy Nga, Nguyễn Nhã Tiên, Lưu Khánh Thơ, Hà Ánh Minh, Nguyễn
Hoàng Sơn, Anh Ngọc… Phần lớn qua các bài viết đều đánh giá cao thơ Ý
6
Nhi đồng thời qua đó cũng khẳng định được sự đóng góp của Ý Nhi với sự
phát triển của nền thơ ca Việt Nam. Chu Văn Sơn trong bài viết Thơ của tâm
hồn xao xác giữa ngày yên, đăng trên báo Văn nghệ số 36 ngày 5 tháng 9 năm
1987, đã cho rằng, “Xét về toàn vẹn của việc khắc họa hình tượng nhân vật,

Ngày thường là “phân tích nội tâm với mọi đối cực, đối lập quyết liệt của nó
rồi trình bày chúng như những nghịch lý bằng những câu, chữ, ý, hình đã
được tôi kỹ trong suy tư, đến nỗi chúng ta đanh chắc, rắn sắc như văn xuôi,
như chính luận” [63] với “giọng triết luận tâm tình khá riết róng” [63]. Nếu ở
tập trước, Ý Nhi đã phổ tâm trạng của mình vào cảnh vật thì ở giờ đây với tập
Ngày thường, tác giả đã chọn một lối thơ khác là “phổ cái tôi của mình vào
nhân vật, ngay cả những nhân vật vốn có, những số phận xác định” [63]. Và
“tạo hình không còn là nhiệm vụ của toàn bài. Nhiệm vụ đó “khoán” cho ít
câu, ít đoạn với kỹ thuật ký họa nhanh, gắng chớp lấy những khoảnh khắc
xuất thần trong hình thể nhân vật” [63]. Ý Nhi từng phổ tâm trạng của mình
vào cảnh vật thì ở giờ đây với tập Ngày thường, tác giả đã chọn một lối thơ
khác là “phổ cái tôi của mình vào nhân vật, ngay cả những nhân vật vốn có,
những số phận xác định. Tiếp đó, trong bài Đến với từng bông tuyết được
đăng trên tạp chí Tác phẩm mới, Chu Văn Sơn nhận định trong các tập thơ
Mưa tuyết và Gương mặt, thơ Ý Nhi là hành trình đang tìm đến với “những
bông tuyết nhẹ nhàng, tinh trong, buốt giá” và đến với “sự trầm tĩnh, chất thơ
của sự trầm tĩnh” và thấy “thoang thoáng một khí vị thiền" [62]. Trong bài
viết Thơ Ý Nhi - lời nguyện cho nỗi yên hàn (năm 2005) Chu Văn Sơn đã thể
hiện những cảm nhận hết sức tinh tế và sâu sắc về thơ Ý Nhi cả về phương
diện nội dung và hình thức nghệ thuật. Theo ông, sự dày vò đeo đẳng Ý Nhi
suốt mấy chục năm qua trên mọi chặng đường thơ là một “nỗi khát yên bình”.
Từ đó, ông cho rằng, “Cái Tôi Ý Nhi có một diện mạo riêng là kẻ khát Yên
bình. Sống, đối với cái tôi ấy là lên đường tìm kiếm sự yên bình” [64]. Và
“Hành trình của Cái Tôi là gắng bỏ miền khắc nghiệt để đến với chốn yên
bình” [64]. Vì vậy, nhà thơ luôn “yêu những phút giây yên ắng, trong lành dị
ứng với những ồn ào, giả trá. Gắng chịu đựng và vượt qua những nắng nôi,
bỏng sôi, giông gió để đến với những cảnh giới u tĩnh, thanh nhàn” [64]. Theo
8
hướng cảm nhận đó, tác giả đã phát hiện thế giới trong thơ Ý Nhi phân ra
thành hai cực rõ rệt “miền yên bình” và “miền khắc nghiệt”. Nghiên cứu về

tình yêu của buổi xế chiều nhưng “tình yêu đó lại đậm đặc, đậm đặc hơn tình
yêu của những ngày trẻ” [38] và “một nỗi buồn không gào thét, không đau
đớn vật vả, không gọi tên được, cứ âm ỉ ở trong lòng, cứ trong ngần những
giọt nước mắt lặng lẽ” và ngay khi nói về niềm vui, Ý Nhi cũng nói bằng
những “lời buồn”. Đối với chị, dường như không có niềm vui nào trọn vẹn,
không có nỗi buồn nào trọn vẹn. Niềm vui đến thì nỗi buồn đang chờ đợi. Tập
thơ Vườn là một trong những tập thơ của Ý Nhi được các nhà nghiên cứu
quan tâm, bên cạnh bài viết của Thúy Nga còn có những bài viết của các tác
giả khác như Lưu Khánh Thơ, Việt Hà, N.T.K.C,… tất cả đều đánh giá cao
tập thơ này. Lưu Khánh Thơ trong bài viết Nỗi khắc khoải từ miền ký ức,
đăng trên báo văn nghệ ngày 19/8/2000, tác giả cho rằng, “Vườn” bộc lộ
nhiều khoảnh khắc của tâm trạng – tâm trạng được dồn nén bởi suy tư và cảm
xúc” [74]. Và theo chị, thành công của thơ Ý Nhi là “gia tăng chất nghĩ cho
thơ”, nhịp thơ chính là “nhịp điệu của tâm trạng” được biểu hiện qua thứ ngôn
ngữ “chắt lọc, giàu suy tưởng và hết sức kiệm lời” [74]. Trong bài viết Vườn
của Ý Nhi – xúc cảm về cuộc sống và tình yêu”, Việt Hà cảm nhận biểu hiện
về tình yêu Vườn là sự “dịu dàng, đằm thắm và đầy nữ tính” [74]. Đó không
phải là một thứ tình cảm “ngòn ngọt” hay nồng nàn của cảm xúc, mà là một
tình yêu đằm thắm mang vẻ đẹp trí tuệ, cảm xúc vọng tới từ sâu thẳm của nội
tâm. Hà Ánh Minh trong bài viết Mạch đập thơ Ý Nhi dòng ưu tư chảy xiết
(năm 2001) được đăng trên tạp chí Nha Trang (số 72 tháng 9), đã cho rằng,
“Thơ Ý Nhi có dung lượng lớn, là những nỗi niềm tâm sự, là tấm phiên bản
trung thành của nhà thơ” và nó như “một dòng chảy nham thạch cuộc tròn đỏ
dưới ánh nắng chiều. Ý Nhi không những viết bằng ngôn ngữ của cảm xúc mà
chủ yếu bắng ngôn ngữ của trí tuệ” sức bút có được là nhờ vào “sự suy cảm
nội tâm mạnh mẽ” [36]. Năm 2002, trong bài viết Mạch thơ Ý Nhi: Lửa từ
trái tim trần run rẩy…, đăng trên báo Văn hóa (số 126/21 – 10), Hà Ánh
Minh lý giải sự thành công của thơ Ý Nhi là ở “lối tư duy khúc chiết, mạch
lạc, biết mình nói gì và biết cách làm cho sự việc từ chỗ mơ hồ, rối rắm trên
10

11
lửa đam mê luôn song hành cùng niềm kiêu hãnh, sự truy vấn tỉnh táo, rạch
ròi được nhìn nhận trong sự thấu đáo và cận nhân tình” [57]. Vì thế cho nên
“Hình tượng “cái tôi” trong thơ Ý Nhi vừa là phương tiện đồng thời cũng
chính là nội dung giao tiếp với cuộc đời của nhà thơ, nó trở thành điểm nhấn
hết sức nổi bật trong diện mạo nghệ thuật của tác giả” [57]. Ngoài những bài
viết trên đây, trên các báo, tạp chí còn có nhiều bài viết về thơ Ý Nhi của các
tác giả như Mã Giang Lân, Huỳnh Như Phương, Khánh Phương, Nguyễn Bảo
Chân, Nhật Chung,Thanh Thảo…
Trong những năm gần đây ở các trường Đại học thơ Ý Nhi đã được
nhiều sinh viên chọn làm luận văn Thạc sĩ. Năm 2008, Đỗ Thị Hoa trong luận
văn tốt nghiệp với đề tài Thế giới nghệ thuật thơ Ý Nhi (Khoa Ngữ văn, Đại
học Sư phạm Hà Nội) đã có một cái nhìn bao quát về thơ Ý Nhi, “Thế giới
hình tượng trong thơ chị đặc sắc và đa dạng. Một trong những hình tượng nổi
bật trong thơ Ý Nhi là hình tượng cái tôi. Qua hình tượng này người đọc thấy
nhà thơ luôn có những băn khoăn về những vấn đề đạo đức trong đời sống xã
hội. Đó những trăn trở về chính mình, về nhân cách của người nghệ sĩ, về cầu
thủ bóng đá… Chuẩn mực đạo đức trong thơ Ý Nhi là sự chân thực, trong
sáng… Đấy chính là những khát vọng nhân văn rất đẹp trong thơ Ý Nhi”
[21]. Trong luận văn Đặc sắc nghệ thuật thơ Ý Nhi Nguyễn Thị Ánh Tuyết
(Khoa Ngữ văn, ĐH Vinh, 2008). Trong kết luận của mình, tác giả nhận xét,
“Cảm hứng chủ đạo trong thơ Ý Nhi là cảm hứng phân tích – triết lí – chiêm
nghiệm. Bằng trái tim nhân hậu nồng ấm, luôn khao khát thấu hiểu, Ý Nhi
luôn cố gắng nhìn nhận và lí giải cuộc sống trong chiều sâu bản chất của nó.
Cảm hứng sáng tạo có tính phổ quát này chi phối trên nhiều phương diện
nghệ thuật thơ Ý Nhi, tạo nên nét độc đáo không thể trộn lẫn trong thơ chị…
Với một lối tư duy hiện đại, mới mẻ, từ quan niệm thẩm mĩ đến thực tế sáng
tác, Ý Nhi đã góp phần làm phong phú thêm nên thơ ca Việt Nam hôm nay”
[75].
Điểm lại lịch sử nghiên cứu thơ Ý Nhi nói chung, cái tôi trữ tình trong

- Ngày thường (1987)
- Mưa tuyết (1991)
13
- Gương mặt (1991)
- Vườn (1998)
- Thơ Ý Nhi (2000)
- Ý Nhi tuyển tập(2010)
5. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi lựa chọn
một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu, như: khảo sát, thống kê, phân loại;
phân tích, tổng hợp; so sánh, đối chiếu.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được triển
khai trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở hình thành cái tôi trữ tình trong thơ Ý Nhi
Chương 2: Những biểu hiện của cái tôi trữ tình trong thơ Ý Nhi
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện cái tôi trữ tình trong thơ Ý Nhi
Chương 1
CƠ SỞ CHO SỰ HÌNH THÀNH CÁI TÔI TRỮ TÌNH
TRONG THƠ Ý NHI
1.1. Giới thuyết khái niệm cái tôi trữ tình
Thơ trữ tình là sự bộc lộ trự tiếp thế giới chủ quan của con người, cảm
xúc, tâm trạng, ý nghĩ trước một hiện tượng đời sống. Vì vậy, nó luôn mang
lại quan niệm về một cá nhân con người cụ thể, sống động, một cái “tôi” có
nỗi niềm riêng. Nhà thơ thổi hồn cho những câu thơ qua “cái tôi”, tâm trạng
của chủ thể bộc lộ trong hoàn cảnh cụ thể nào đó, toát lên nhân cách của chủ
thể trữ tình, tạo ấn tượng sâu đậm.
14
Cái tôi là đơn vị tồn tại của chủ quan, là hình thức tự ý thức chủ quan
của con người. Khi đi vào nghệ thuật, cái tôi được nâng cao hơn, được trình

Hêghen, Belinski, Tsecnưsepski, đã bàn sâu về cái tôi trữ tình. Theo ông,
trong thơ, vấn đề chủ thể, cái tôi trữ tình trong thơ có một ý nghĩa đặc biệt
quan trọng. Ông quan niệm cái tôi trữ tình như là nội dung, đối tượng chính
của thơ ca, là khái niệm mang tính bản chất của trữ tình với các biểu hiện qua
các nhận vật trữ tình cụ thể. Đồng thời trong công trình nghiên cứu này, tác
giả còn chỉ ra mối quan hệ giữa cái tôi trữ tình và bản thân nhà thơ là thống
nhất nhưng không đồng nhất “cái tôi trữ tình chính là cái tôi tác giả được nghệ
thuật hóa, lí tưởng hóa, điển hình hóa”. Trần Đình Sử trong công trình Thi
pháp thơ Tố Hữu, đã tiếp cận cái tôi trữ tình như một hình tượng nghệ thuật.
Đó cũng là một hình thức trực diện bàn về cái tôi trữ tình trong thơ. Theo
Trần Nho Thìn, “cái tôi” là hình tượng tác giả trong tác phẩm, là sự giãi bày
thế giới tư tưởng, tình cảm riêng tư thầm kín của tác giả. Nhìn tư góc độ phản
ánh luận, thì cái tôi là đối tượng phản ánh, suy ngẫm của bản thân nhà thơ, là
kết quả của sự tự ý thức, tự đánh giá, tự miêu tả. Đi vào nghệ thuật, cái tôi
được nâng cao hơn, được trình bày với những màu sắc phong phú. Trong bài
viết Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945 – 1995 (nhìn từ phương diện sự vận động
của cái tôi trữ tình), Vũ Tuấn Anh đưa ra quan niệm về cái tôi trữ tình “đó là
sự thể hiện một cách nhận thức và cảm xúc đối với thế giới và con người
thông qua lăng kính cá nhân của chủ thể và thông qua việc tổ chức các
phương tiện của thơ trữ tình, tạo ra một thế giới tinh thần riêng biệt, độc đáo,
mang tính thẩm mỹ, nhằm truyền đạt năng lượng tinh thần ấy đến người đọc”
[2, 32]. Trong một cách nói ngắn gọn, khái quát, Lê Lưu Oanh trong bài viết
Cái tôi trữ tình trong thơ (qua một số hiện tượng thơ trữ tình Việt Nam 1975
– 1990) đã cho rằng, theo nghĩa hẹp, cái tôi trữ tình là hình tượng cái tôi, cá
nhân – cụ thể, cái tôi – tác giả – tiểu sử với những nét rất riêng tư; là loại nhân
vật đặc biệt khi tác giả miêu tả, kể chuyện, biểu hiện về chính mình. Theo
nghĩa rộng, cái tôi trữ tình là nội dung, đối tượng, phẩm chất của trữ tình.
Từ các ý kiến trên đây về cái tôi trữ tình, có thể thấy, các ý gần như
thống nhất với nhau về cách hiểu, coi cái tôi trữ tình bao giờ cũng là yếu tố
16

17
Ý Nhi thuộc thế hệ các nhà thơ sống và trưởng thành từ cuộc kháng
chiến chống Mỹ. Cuộc đời của Ý Nhi đã từng trải nghiệm và cọ xát qua hai
cuộc chiến tranh, nhưng tuổi trưởng thành và bắt đầu sự nghiệp sáng tác thơ
của Ý Nhi gắn liền với thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Sự nghiệp sáng tác của
chị trải dài qua hai giai đoạn trước và sau năm 1975. Đây là thời điểm xã hội
có nhiều biến cố tác động rất lớn đối mọi mặt của đời sống xã hội nói chung,
với cuộc đời, đời thơ Ý Nhi nói riêng. Mười năm đầu của cuộc kháng chiến
chống Mỹ (1964 – 1975) là một quãng thời gian không dài trong cả thế kỉ XX
đầy biến động của dân tộc cũng như tiến trong tiến trình thơ Việt Nam hiện
đại nhưng có ý nghĩa đặc biệt. Cả dân tộc bước vào cuộc kháng chiến vô cùng
khốc liệt. Với lòng yêu nước và truyền thống đấu tranh anh dũng, bất khuất,
nhân dân ta đã đảm nhận một sứ mệnh lịch sử hết sức vẻ vang. Trong cuộc
chiến đấu hào hùng để giành lại và bảo vệ chủ quyền, độc lập của dân tộc và
tự do cho nhân dân, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc đã ngã xuống trên
chiến trường và đã trở thành tấm gương tiêu biểu cho thế hệ con người Việt
Nam mới, trung thành với lý tưởng và hiến dâng thân mình cho sự nghiệp giải
phóng dân tộc vĩ đại. Tất cả đã thổi một luồng gió mới vào đời sống văn học
nghệ thuật nước nhà. Nó chính là nhân tố khách quan tạo nên diện mạo mới
với những đặc điểm và quy luật vận động riêng của một giai đoạn văn học,
trong đó có thơ ca. Luôn đồng hành và gắn bó với vận mệnh của dân tộc, đi
qua những bước thăng trầm của lịch sử và thời đại, văn học thực sự đã tạo ra
được những biến đổi sâu sắc, toàn diện và đã tạo cho mình một diện mạo mới
trong giai đoạn mới. Cũng như mọi lĩnh vực hoạt động văn hóa tinh thần
khác, thơ kháng chiến chống Mỹ đã được huy động vào cuộc chiến đấu của
dân tộc, trở thành vũ khí tinh thần có sức mạnh to lớn trong việc khơi dậy
lòng yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ý chí chiến đấu, niềm tin
vào thắng lợi cuối cùng của mỗi người cũng như toàn dân tộc Việt Nam. Thơ
chặng đường này thể hiện rất rõ khuynh hướng mở rộng và đào sâu vào chất
hiện thực, đồng thời tăng cường sức khái quát, chất suy tưởng, chính luận.

dựng lên gương mặt của một nhà thơ nữ trẻ trung trong giới văn nghệ sỹ thời
chống Mỹ lúc bấy giờ.
19
Mặc dù đến với thơ từ rất sớm và viết nhiều, nhưng đỉnh cao thơ Ý Nhi
là vào những năm 80 của thế kỷ XX. Đây là thời điểm gắn liền với những
bước ngoặt quan trọng của lịch sử nước nhà. Cuộc kháng chiến chống Mỹ đã
hoàn toàn kết thúc thắng lợi, đất nước bước vào thời kì Đổi mới, dưới sự tác
động của những chính sách kinh tế – xã hội của Nhà nước, sự mở rộng các
sinh hoạt dân chủ trong đời sống văn hóa tư tưởng cũng như sự chín muồi về
tài năng và sự tự ý thức về phẩm chất một nhà thơ, thơ Ý Nhi đã có nhiều
biến đổi mới về nội dung và phương thức biểu đạt gớp phần tạo nên diện mạo
mới của nền văn học Việt Nam.
1.2.1.2. Những năm tháng đổi mới sau chiến tranh
Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc kéo dài 30 năm đã kết thúc toàn
thắng, lịch sử dân tộc ta chuyển sang trang mới. Từ sau năm 1975, đất nước
từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, cuộc sống dần dần trở lại với những quy
luật bình thường. Đất nước đứng trước những vận hội mới, hứa hẹn một
tương lai tươi sáng, nhưng cũng đứng trước khó khăn, thử thách cam go của
thời kỳ hậu chiến.Tình hình đó đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của
văn học, làm thay đổi quan niệm nghệ thuật của các nhà văn. Sáng tác của Ý
Nhi giai đoạn này cũng không nằm ngoài qui luật chung đó.
Trong khoảng mười năm đầu sau chiến tranh (1975 – 1986), đất nước
gặp vô vàn thử thách, khó khăn, nhất là khó khăn về kinh tế, rơi vào khủng
hoảng ngày càng trầm trọng. Niềm tin vào cuộc sống mới đã ít nhiều giảm
thiểu trong đông đảo nhân dân, đặc biệt là những người trí thức, nghệ sĩ. Nền
văn học cũng chững lại và không ít người viết lâm vào tình trạng bối rối,
hoang mang, dao động, thậm chí mất niềm tin. Ý thức nghệ thuật của số đông
người viết và công chúng chưa chuyển biến kịp thời với thực tiễn xã hội,
những quan niệm và cách tiếp cận hiện thực vốn quen thuộc trong thời kì
trước đã tỏ ra bất cập trước hiện thực mới và đòi hỏi của người đọc. Đây là

thể được xem là giai đoạn chuyển mình của văn học, như Phong Lê đã nhận
xét, “Văn học có dấu hiệu chuyển lên một đường ray mới, có lúc ngập ngùng
rụt rè, có lúc bạo dạn sấn sổ, dẫu thế nào mặc lòng nó không còn chấp nhận
sự bình ổn, bình yên kiểu cũ”. Có thể nói, năm 1986 với sự nghiệp đổi mới
21
diễn ra ở mọi cấp độ đã làm thay đổi diện mạo đất nước, ảnh hưởng trực tiếp
đến tư tưởng, tình cảm và tư duy sáng tạo nghệ thuật của các nhà thơ cũng
như các nhà nghệ sĩ nói chung. “Phát huy yếu tố con người và lấy việc phục
vụ con người làm mục đích cao nhất của mọi hoạt động” (Văn kiện Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ VI – Đảng Cộng sản Việt Nam) là định hướng
quan trọng cho mọi suy nghĩ và hành động. Mấy chục năm trước do hoàn
chiến tranh, đất nước tạm thời bị chia cắt cùng với những nhận thức ấu trĩ,
cực đoan một thời, con người cá nhân, giá trị cá nhân chưa được quan niệm
đúng đắn. Giờ đây, đời sống văn học nghệ thuật có nhiều chuyển biến, cái tôi
nhà thơ được khẳng định, cá tính sáng tạo được tôn trọng, con người cá nhân
được đặt lên ở vị trí ưu tiên. Bên cạnh giọng điệu ngợi ca, thơ mở ra và chấp
nhận nhiều giọng điệu, nhiều sắc thái tâm lý: nỗi buồn, cô đơn, tâm trạng xao
xuyến không yên,… của thời mở cửa, kinh tế thị trường phát triển.
Tiếp theo đó là Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị về văn học, nghệ thuật
và văn hóa, “Văn học nghệ thuật là một bộ phận trọng yếu của cách mạng tư
tưởng và nhân văn”, và với cuộc gặp gỡ của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh
với đại diện giới văn nghệ sĩ vào cuối năm 1987, tất cả những điều đó tác
động trực tiếp vào đời sống văn học nghệ thuật nước nhà, mở ra một thời kì
đổi mới của văn học Việt Nam trong tinh thần đổi mới tư duy, nhận thức lại
hiện thực với cảm hứng phê phán mạnh mẽ trên tinh thần nhân bản. Đó là
những động lực tinh thần cho văn học của thời kì đổi mới phát triển mạnh mẽ,
sôi nổi. Sự đổi mới ý thức nghệ thuật nằm ở chiều sâu của đời sống văn học,
nó vừa là kết quả vừa là động lực cho những tìm tòi đổi mới trong sáng tác,
nhưng đồng thời cũng chịu sự tác động mạnh của độc giả mang lại. Trong
hoàn cảnh hòa bình, nhu cầu thẫm mĩ của người tiếp nhận văn học đã thay

văn học giai đoạn này trở về với đời sống thường nhật và vĩnh hằng, đồng
thời có ý thức và nhu cầu tự đổi mới hơn bao giờ hết về hình thức nghệ thuật,
phương thức biểu hiện của nhà văn để phù hợp với nguyện vọng của người
đọc cũng như quy luật phát triển khách quan của nền văn học. Tuy nhiên văn
23
học về cơ bản cũng trở lại những quy luật mang tính bình thường, nhưng
không xa rời định hướng đổi mới đã hình thành từ giữa những năm 80.
Với cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại, văn học thể hiện được những hình
tượng cao đẹp về đất nước, về nhân dân, về các tầng lớp, thế hệ con người
Việt Nam vừa giàu phẩm chất truyền thống, vừa mang đậm những nét mới
của thời đại. Đặc biệt từ sau Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986), văn học vận
động theo hướng dân chủ hóa, đổi mới quan niệm về nhà văn, về văn học và
quan niệm nghệ thuật về con người, phát huy cá tính sáng tạo và phong cách
nghệ thuật của nhà văn với những tìm tòi, thể nghiệm mới tạo nên sự đa dạng
về cá tính sáng tạo, sự đa giọng điệu, đa phong cách của văn học góp phần tạo
nên diện mạo mới cho văn học Việt Nam sau năm 1975.
1.2.2. Cuộc sống và phẩm chất cá nhân
1.2.2.1. Đời sống cá nhân
Nhà thơ Ý Nhi tên thật là Hoàng Thị Ý Nhi, sinh năm 1944 tại Thị xã
Hội An, tỉnh Quảng Nam. Chị xuất thân trong một gia đình hoạt động văn
hóa, cha là nhà nghiên cứu tuồng nổi tiếng Hoàng Châu Ký. Ông rất say mê
hát bội và thích làm thơ, vì thế từ rất sớm ông đã có những vần thơ rất tinh tế.
Ông là một người nhân hậu nhưng rất sâu sắc và nghiêm cẩn trong nghiên cứu
khoa học. Ý Nhi thừa hưởng được ở người cha lối tư duy khúc chiết, mạch
lạc, biết mình nói gì và biết cách làm cho sự việc từ chỗ mơ hồ, rối rắm trở
nên giản dị, dễ hiểu. Mẹ Ý Nhi là một phụ nữ nội trợ nhưng cũng rất yêu thơ,
bà thuộc nhiều thơ của Huy Cận, Xuân Diệu, Tế Hanh, Có thể nói gia đình
đã là môi trường đầu tiên nuôi dưỡng và làm nảy nở hồn thơ ở Ý Nhi sau này.
Tuổi thơ, Ý Nhi chịu nhiều vất vả, hằng ngày phải bưng rổ bánh đi bán
rao để giúp mẹ. Ý Nhi thuộc lớp người được sinh ra từ sau Cách mạng,

tác. Đây chính là những tiền đề cho đời thơ Ý Nhi.
Hiện nay Ý Nhi đã nghĩ hưu không còn công tác ở Hội nhà văn và
đang cùng chồng là giáo sư Nguyễn Lộc sống ở Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ
Chí Minh.
1.2.2.2 .Phẩm chất cá nhân
25

Trích đoạn Sử dụng ngôn từ gần gũi với đời sống Linh hoạt, biến hóa trong kiến trúc câu thơ Một số biện pháp tu từ nổi bật Tương phản, đối lập
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status