mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Cỏi tụi tr tỡnh l mt trong nhng khỏi nim trit hc c nht,
ỏnh du ý thc u tiờn ca con ngi v bn th tn ti ca mỡnh, t ú
nhn ra mỡnh l mt con ngi khỏc vi t nhiờn, mt cỏ th c lp khỏc vi
ngi khỏc. Cỏi tụi tr tỡnh th hin mt cỏch nhn thc v cm xỳc i vi
th gii v con ngi thụng qua lng kớnh cỏ nhõn ca ch th v thụng qua
vic t chc cỏc phng tin ca th tr tỡnh, to ra mt th gii tinh thn
riờng bit, c ỏo mang tớnh thm m, nhm truyn t n ngi c.
Cỏi tụi tr tỡnh khỏc vi cỏi tụi nh th nhng gia chỳng li cú mi
quan h trc tip v thng nht vi nhau. Nh th l nhõn vt chớnh, l hỡnh
búng trung tõm, l cỏi tụi bao quỏt trong ton b sỏng tỏc. Nhng s kin,
hnh ng, tõm tỡnh v kớ c trong cuc i riờng cng in m nột trong th.
Cỏi tụi ca nh th cú lỳc th hin trc tip qua nhng cnh ng riờng, trc
tip giói by nhng ni nim thm kớn. Cỏi tụi ca nh th cũn hin din qua
cỏch nhỡn, cỏch ngh, qua tỡnh cm, thỏi trc th gii hin thc. Tuy
nhiờn, cỏi tụi tr tỡnh trong th v cỏi tụi ca nh th khụng h ng nht. Cỏi
tụi ca nh th ngoi i thuc phm trự xó hi hc, cũn cỏi tụi tr tỡnh trong
th thuc phm trự ngh thut. Nghiờn cu cỏi tụi tr tỡnh l thy cỏi tụi
nh th ó c ngh thut húa tr thnh mt yu t ngh thut ph quỏt
trong th, mt thnh t trong th gii ngh thut ca tỏc phm.
1.2. Cuc khỏng chin chng M cu nc khụng ch ghi du nhng
chin cụng vang di trong lch s dõn tc m cũn sinh ra mt th h nhng
nh th, nh vn ti nng, giu nhit huyt. Khụng ớt nhng tờn tui ó xut
hin v trng thnh trong cuc khỏng chin nh: Phm Tin Dut, Nguyn
Khoa im, Thu Bn, Lu Quang V, Xuõn Qunh, Phan Th Thanh Nhn,
Bng Vit, Nguyn Duy, Hu Thnh, Thanh Tho, í Nhi Bc vo thi kỡ
1
đất nước thống nhất, họ vẫn hoạt động không ngừng nghỉ, vẫn tiếp tục sáng
tác để khẳng định. Trong số đó, Ý Nhi nổi lên như một gương mặt xuất sắc,
những thành công mà chị đạt được trong giai đoạn này đã để lại ấn tượng sâu
biệt, độc đáo, một cá tính thơ “lặng lẽ nhưng quyết liệt và bền bỉ, không
ngừng tự ý thức nhằm tìm kiếm cái “bản lai diện mục” của tâm hồn” [40].
Chính vì thế, thơ của chị dễ đi vào lòng người, gây được cảm tình cho độc
giả. Với Ý Nhi, thơ luôn là một phần của tâm hồn, của tình yêu và đặc biệt là
những suy tư đối với cuộc đời.
Chặng đường thơ Ý Nhi sớm bắt đầu từ trong kháng chiến chống Mĩ.
Tuy nhiên thời gian này chị chưa được công chúng chú ý nhiều. Cho đến năm
1985, sau thành công của tập thơ Người đàn bà ngồi đan, Ý Nhi đã tạo nên
một phong cách riêng, một giọng điệu riêng, một cái tôi riêng của thi ca Việt
Nam hiện đại. Với một giọng thơ mới lạ - “đương vào độ chín” [47] chị đã
góp một tiếng thơ độc đáo, trầm lắng đầy suy tư nhưng không kém phần tươi
mới có ý nghĩa tích cực đối với sự phát triển của thơ ca thời kì này. Kể từ đây,
đã có nhiều công trình và bài viết nghiên cứu về thơ Ý Nhi của các tác giả:
Chu Văn Sơn, Lưu Khánh Thơ, Nguyễn Hoàng Sơn, Lê Thị Hồ Quang,
Nguyễn Thị Minh Thái, Ngô Thị Kim Cúc… Nhìn chung, các tác giả này đều
đánh giá cao thơ Ý Nhi, khẳng định giọng điệu thơ và vị trí độc đáo của thơ
chị.
Đầu tiên, phải kể đến tác giả Mã Giang Lân với bài viết Người đàn bà
ngồi đan. Ông cho rằng hướng tìm tòi và phẩm chất mới của thơ Ý Nhi là nội
tâm. Ông cũng nhận ra lối tư duy giàu sáng tạo, câu thơ có độ khái quát, độ
sâu và bút pháp hồi tưởng có mặt ở hầu khắp các tác phẩm của chị. Điều này
3
khiến thơ chị tuy không dễ cảm nhận nhưng lại dễ thuyết phục người đọc bởi
những tình cảm chân thành và bản lĩnh nghệ thuật của người viết.
Tiếp theo phải kể đến nhà phê bình Chu Văn Sơn, ông là người sớm
quan tâm đến thơ Ý Nhi và cũng là người có nhiều bài viết về nữ tác giả này.
Trong bài viết Thơ của tâm hồn xao xác giữa ngày yên (báo Văn nghệ số 36
ngày 5/9/1987), tác giả nhận xét: “Đọc Ý Nhi, càng trở lại đây người đọc
càng mừng vì thấy chị càng tự tin hơn trên con đường riêng của mình. Bằng
một nội tâm mạnh mẽ, chị đã đồng hóa được thế giới bên ngoài để làm thành
nhận xét khá giống nhau về cảm hứng, kết cấu, nhịp điệu, những đối cực chói
gắt và màu sắc triết lí đậm nét trong thơ.
Tác giả Nguyễn Thị Minh Thái trong bài Thơ tình Thành phố Hồ Chí
Minh có nhận xét: “Ý Nhi có một lối thơ kín đáo, dịu dàng và đắm đuối như
hoa quỳnh hiếm hoi, nở muộn, chỉ nở một lần, thơm một lần và dâng hiến một
lần vào thời khắc ngắn ngủi giữa đêm” [49]. Cùng tác giả này trong Trò
chuyện về thơ với Người đàn bà ngồi đan đã nói: “Ý Nhi tìm được giọng điệu
riêng trên một tâm thế thanh thản và một tư thế gần gũi như “thiền”, nhà thơ
đã ngộ ra được hai điều cốt nhất của thi sĩ: bút pháp riêng và tính điệu riêng”
[50].
Để nhận xét về nghệ thuật trong thơ của Ý Nhi, Nguyễn Nhã Tiên đã
đưa ra nhận xét: “Chính sự kiệm lời trong thơ chị là một đặc trưng nổi bật
một cá tính, tạo ra sự hẫng hụt để gợi sức liên tưởng, thâm sâu tất cả những
vị đắng cay hoặc ngọt ngào”.
Trong cuốn Thơ và một số gương mặt thơ Việt Nam hiện đại, Lưu
Khánh Thơ khi nhận xét về tập thơ Vườn đã nói: “Ý Nhi sử dụng một thứ
ngôn ngữ văn xuôi chắt lọc đầy suy tưởng và hết sức kiệm lời…nhịp điệu
5
trong thơ là nhịp điệu của tâm trạng chứ không phải của câu chữ” [52]. Và
thành công nhất trong sáng tác của Ý Nhi là gia tăng chất nghĩ cho thơ. Trong
bài viết Nỗi khắc khoải từ miền kí ức, tác giả Lưu Khánh Thơ cũng đã chỉ ra
cái khoảnh khắc của tâm trạng thơ Ý Nhi - khoảnh khắc được dồn nén bởi suy
tư và cảm xúc: “những nỗi niềm suy tư ẩn chứa trong những dòng thơ được
viết bằng những xúc cảm dồn nén của tâm trạng” [52]. Còn tác giả Thúy Nga
lại có một phát hiện mới mẻ, độc đáo về tập thơ này của Ý Nhi. Với chị, tình
yêu và nỗi buồn ở đây là một thứ tình yêu: “đậm đặc không gào thét, không
đau đớn vật vã, không gọi tên được, nhưng cứ âm ỉ trong lòng, cứ trong ngần
như những giọt nước mắt lặng lẽ” [24].
Trong bài Thơ Ý Nhi, nhà thơ Hoàng Hưng nhận xét: “Thi pháp thơ Ý
Nhi phơi bày trong bài thơ chủ chốt ấy của đời thơ chị. Kìm nén hoặc để
một nền thơ ca Việt Nam hiện đại vốn nặng chất “duy tình”, “duy cảm”. Mỗi
vần thơ của Ý Nhi càng đọc càng thấy hấp dẫn bởi sự nhẹ nhàng mà sâu lắng
của nó. Và cũng bởi thơ của chị không theo một khuôn khổ, không chịu sự
ràng buộc, gò bó nào. Chị đã trải hồn mình vào thơ, đã sống thật với thơ
không hề giấu diếm.
Như vậy có thể thấy rằng qua những bài viết nghiên cứu về thơ Ý Nhi,
các nhà phê bình đã có đóng góp nhất định trong việc phát hiện những nét đặc
sắc, độc đáo trong thơ Ý Nhi. Nhìn chung các ý kiến đều thống nhất trong
việc khẳng định những thành công trên bước đường sáng tác của nhà thơ,
đánh giá chị là cây bút giàu tính sáng tạo, có phong cách riêng mới lạ, cảm
hứng sáng tác phong phú, đặc sắc…Với chúng tôi, những ý kiến trên có ý
nghĩa định hướng quan trọng và trên cơ sở những gợi ý đó, luận văn hi vọng
có thể làm rõ hơn về Cái tôi trữ tình trong thơ Ý Nhi.
7
3. §èi tîng vµ ph¹m vi nghiªn cøu
Nguồn tư liệu mà chúng tôi khảo sát là tất cả các tập thơ đã xuất bản
của Ý Nhi:
- Trái tim và nỗi nhớ (1974)
- Đến với dòng sông (1978)
- Cây trong phố chờ trăng (1981)
- Người đàn bà ngồi đan (1985)
- Ngày thường (1987)
- Mưa tuyết (1991)
- Gương mặt (1991)
- Vườn (1998)
- Thơ Ý Nhi (2000)
- Thơ với tuổi thơ (2002)
4. Môc ®Ých nghiªn cøu
Với đề tài này, luận văn xác định những nhiệm vụ nghiên cứu chính
như sau:
dung.
- Ch¬ng 3. Cái tôi trữ tình trong thơ Ý Nhi nhìn từ phương diện nghệ
thuật.
9
Chơng 1
Hành trình vận động của cái tôi trữ tình
trong thơ ý nhi
1.1. S vn ng ca th Vit Nam sau nm 1975
1.1.1. Nhng bin ng v thi i
i thng mựa xuõn nm 1975 ó thu non sụng gm vúc Vit Nam v
mt di, m ra mt k nguyờn mi trong lch s dõn tc - nc nh c hon
ton c lp, dõn ta c hon ton t do. iu ny tỏc ng mnh m ti
ton b sinh hot vt cht v tinh thn ca nhõn dõn, trong ú cú lnh vc vn
hc ngh thut. Tuy nhiờn, i sng thi hu chin cng t ra nhiu thỏch
thc i vi con ngi núi chung v nhng nh vn, nh th núi riờng. Bi l
nhng ngi ngh s luụn ho mỡnh trong nhng s kin ln ca t nc ca
dõn tc. Vi nhng bc i mi ca lch s buc h phi nhn thc li nhiu
vn v thi i cng nh cỏc mi quan h nhõn sinh sao cho phự hp vi
tớnh a chiu, phc tp ang hỡnh thnh trong xó hi lỳc by gi. Khụng ngc
nhiờn khi cú nhiu ngi ngh s ó lỳng tỳng trc nhng i thay nh nh
th Nguyn Trng To ó tng vit: Thi tụi sng cú bao nhiờu cõu hi/
Cõu tr li tht chng d dng chi .
Nm 1986 l thi im quan trng i vi lch s Vit Nam, sau 10
nm vũng vo trong thi kỡ bao cp, i hi ng ton quc ln th VI ó
ỏnh du mt bc phỏt trin mi ca dõn tc, t nc thc s cú bc
chuyn mỡnh i lờn. Mi mt ca i sng kinh t, chớnh tr xó hi u t
c nhng thnh tu to ln. Ni dung quan trng nht ca s nghip i mi
l: Phỏt huy yu t con ngi v ly vic phc v con ngi lm trung tõm
[23] ó tỏc ng mnh m n tt c mi ngi, trong ú cú lc lng nhng
ngi cm bỳt. V nh mt l tt yu, thi i lch s - xó hi c th ú ó
những bước phát triển mới. Đặc biệt đời sống sinh hoạt vật chất và tinh thần
của nhân dân được cải thiện đáng kể. Một kỉ nguyên mới được mở ra. Cũng
từ đây, một chặng đường mới của nền văn học Việt được bắt đầu. Và thực tế
đã chứng minh, trong giai đoạn này, thơ ca nước nhà đã chuyển mình mạnh
mẽ, tiến những bước dài trên con đường hiện đại hóa, hội nhập nền văn học
của nhân loại.
1.1.2. Sự vận động của thơ Việt nam sau 1975 - Sự đổi mới trong tư duy
Khi nước nhà hoàn toàn độc lập, đời sống thường nhật của nhân dân
thay đổi một cách sâu sắc, mạnh mẽ, và toàn diện. Trong những đổi thay đó
không thể không kể đến sự thay đổi của văn học nghệ thuật. Thời kì mới với
tinh thần “đổi mới tư duy, khẳng định sự thật trong văn học nghệ thuật” [10]
đã tạo cơ sở tư tưởng cho hướng dân chủ hóa trong văn học được khơi dòng
và phát triển mạnh mẽ. Tư tưởng này bén rễ, ăn sâu vào đời sống văn học ở
nhiều cấp độ đòi hỏi người nghệ sĩ phải có cái nhìn mới về hiện thực, chủ
động, tìm tòi hơn để vươn tới bề sâu của những vỉa tầng còn ẩn khuất của đời
sống tâm trạng và tinh thần con người để khai thác và hướng tới những hiệu
quả nghệ thuật mới. Đây chính là động lực quan trọng để mỗi người nghệ sĩ
tạo nên những giá trị mới của nghệ thuật thi ca hiện đại.
Trên thực tế, sau 1975, Văn học Việt Nam đã có một hành trình mới
với nhiều tìm tòi đột biến cả về nội dung và hình thức đặc biệt là sự thay đổi
về tư duy. Khái niệm đổi mới là tiêu chí được đề cao trong trong giai đoạn
này. Và thơ cũng không nằm ngoài sự vận động đó. Trăn trở trước thời cuộc,
trăn trở trước yêu cầu phải đổi mới triệt để trong tư duy sáng tác đã làm day
dứt tâm hồn không ít các nhà thơ. Vấn đề này đã được tác giả Bùi Minh Quốc
mạnh dạn đưa ra trong bài viết Cuộc sống hôm nay và trách nhiệm của thơ.
Ông cho rằng: “Thơ cần phải mở rộng khai phá ra mọi đề tài của đời sống xã
hội cũng như thế giới nội tâm sâu kín của con người, nhưng trước hết thơ
12
không thể quay lưng lại với yêu cầu bức bách hiện nay của cuộc đấu tranh xã
hội…”. Ông cũng nhấn mạnh: “Vấn đề sinh tử của cuộc sống cũng là vấn đề
chiến tranh vệ quốc đã dẫn đến việc đề cao quá mức thuộc tính phản ánh hiện
thực. Vấn đề hình thức nghệ thuật bị hiểu một cách phiến diện hẹp hòi cũng
như sự tìm tòi sáng tạo của cá nhân bị coi nhẹ. Bản chất hiện thực chưa được
khai thác và thể hiện một cách sâu sắc và phong phú như vốn có một phần
cũng vì quan niệm phản ánh ấu trĩ và thô sơ này. Đời sống nội tâm, tinh thần
của con người cá nhân không được chú ý đúng mức thậm chí những biểu hiện
của tình cảm riêng tư có khi còn bị đồng nhất với chủ nghĩa cá nhân cực đoan.
Văn học nghệ thuật nói chung, thơ nói riêng đã không phản ánh được một
cách toàn vẹn và khách quan hiện thực tâm hồn con người. Bên cạnh đó,
những ngang trái, bất công trong xã hội, những bi kịch mất mát đau thương,
những tình cảm riêng tư, khao khát bản năng trong đời sống cá nhân… trong
giai đoạn này cũng bị coi như là điều “húy kị” cần phải né tránh. Các văn
nghệ sĩ bị vướng bận với những kiểu hiện thực chủ yếu và hiện thực thứ yếu,
bị bó buộc trong những khung tư tưởng định sẵn của hoàn cảnh lịch sử lúc
bấy giờ. Nói một cách khác: “cả lối tư duy, cả vật liệu tư duy và kết quả là cả
sản phẩm của nó đều mang dấu ấn của hiện thực một thời đại nhất định, xác
nhận một tọa độ không - thời gian nhất định, nghĩa là phản ảnh hiện thực
thời đại ấy” [7].
Như một lẽ tất yếu: “khi tiếng nói sử thi lắng xuống, thì tiếng nói thế
sự
vang lên”, sau 1975, tinh thần “phản tỉnh” đã trỗi dậy mạnh mẽ trong thơ ca
Việt Nam nhằm hướng tới một quan niệm đầy đủ hơn, sâu sắc hơn và đa
chiều hơn về hiện thực đúng như tác giả Nguyễn Đăng Điệp đã nhận định:
14
“Cuộc sống thời hậu chiến có quá nhiều điểm khác biệt so với cuộc sống thời
chiến tranh. Điều đó đòi hỏi nghệ sĩ phải xác lập vị thế của mình sao cho
thích hợp với hoàn cảnh lịch sử mới. Từ chỗ là những ca sĩ ngợi ca đất nước
và nhân dân bằng cái nhìn sử thi và cảm hứng lãng mạn, giờ đây các nhà thơ
chuyển từ “bè cao” sang “giọng trầm”. Cái nhìn sử thi đã dần phai nhạt và
thay vào đó là cái nhìn phi sử thi. Đây là yếu tố hết sức quan trọng khiến cho
diện. Văn học cảm thông thấu hiểu và nâng đỡ con người nhưng đồng thời
cũng đòi hỏi cao ở con người và luôn chú ý thức tỉnh sự tự ý thức của con
người để hướng tới cái thiện, cái đẹp và sự hoàn thiện nhân cách. Muốn làm
được điều đó đòi hỏi những người nghệ sĩ phải có sự đổi mới mạnh mẽ trong
cách cảm, cách nghĩ, đồng thời “xác lập với nhau cái ý thức về tư thế, tư cách
xã hội của nhà văn là nhà văn hóa của dân tộc. Nhà văn phải nhìn thẳng vào
sự thật, nói và viết sự thật, không chiều theo ai, càng không được tự nuông
chiều mình” [5].
Nói như vậy có nghĩa, thơ ca giờ đây không chỉ là “chữ đẹp”, những
chữ “ngọt ngào” đã được sử dụng “quen tay đến nhẵn mòn sờn rách” mà
phải là “những chữ lấm lem đứng dậy từ đời thực”- (thơ Lưu Quang Vũ). Và
nhiệm vụ cấp bách của nhà văn lúc này là dùng văn chương làm vũ khí sắc
bén đóng góp vào công cuộc làm đẹp, làm giàu cho đất nước. Phát huy cao độ
tinh thần trách nhiệm, bản lĩnh và lương tri của người cầm bút. Họ “không
được quyền chỉ vỗ tay hoan hô mà còn phải cảnh tỉnh, không có quyền chỉ
chào đón những người anh hùng đang có đầy triển vọng mà còn phải nhìn
thấy trước và báo động về nguy cơ của cái xấu đang về đích trước hay cùng
một lúc với cái đẹp. Đó là nghĩa vụ xã hội độc đáo của văn học” [55] .
16
Do bị chi phối bởi ý thức xã hội mới, ý thức thẩm mĩ mới đầy tinh thần
trách nhiệm mà thơ sau 1975 mang đậm màu sắc duy lí, với cảm hứng nhân
văn sâu sắc. Nói cách khác, nét nổi bật của thơ trong giai đoạn này là sự
khẳng định con người cá tính, trong đó con người không tự thoả mãn, tự bằng
lòng mà luôn trên hành trình tìm kiếm các giá trị tinh thần.
Trước 1975, cả nền thơ thống nhất trong cái tôi trữ tình chính trị, cái
tôi công dân, cái tôi nhân danh cộng đồng dân tộc, ý thức đại chúng dường
như trùm lấp ý thức cá nhân. Nói như tác giả Lã Nguyên thì đây là thời kì
mà:“Văn học sử thi đặt ra những vấn đề mang tầm vóc lịch sử, liên quan tới
vận mệnh và sự sống còn của cả một dân tộc. …Văn thơ nhìn cuộc sống hiện
tại bằng con mắt của tương lai, con mắt của cháu con, hậu bối” [26]. Trong
dạng, phong phú, sinh động trong quan niệm và thị hiếu thẩm mĩ của mỗi nhà
thơ. Họ điều chỉnh thái độ thẩm mĩ của mình và chủ trương lí giải cuộc sống
bằng lăng kính chủ quan, lăng kính cá nhân thông qua những trải nghiệm và
nhận thức riêng, trên cơ sở đó mà phân tích, cắt nghĩa về cuộc đời:
Ký hiệu đời tôi là một chấm xanh xanh ngắt
Ký hiệu thơ tôi là sự minh bạch trong rắc rối đến không cùng.
Thế mới là tôi
Thế mới là đời
Thế mới là thơ
Tất cả hoà nhập như ánh sáng trộn cùng bụi.
(Phùng Khắc Bắc)
Có thể khẳng định, nhu cầu xã hội và cá nhân làm thức tỉnh cái tôi trữ
tình của người làm thơ. Những thay đổi trong quan niệm nghệ thuật đã đem
lại những sản phẩm nghệ thuật mang tinh thần đổi mới. Đó là những sáng tạo
18
mang đậm màu sắc của chủ thể, là những sản phẩm rất riêng tư, rất độc đáo
không lặp lại, chỉ là đơn nhất. Trong thơ của chúng ta hôm nay trỗi dậy không
chỉ những mô tip, chủ đề vĩnh cửu như: tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình,
tình yêu thiên nhiên… mà còn làm thức tỉnh những suy ngẫm về hạnh phúc và
bất hạnh, đau khổ, về thời cuộc, được thua, thành bại, mất còn, sự hữu hạn
của con người và sự vô hạn của thời gian Hãy lắng nghe họ tâm sự: “Em
muốn giang tay giữa trời mà hét/ Yêu anh… đại lộ hay khúc quanh/ Nào có
nghĩa gì” (Phạm Thị Ngọc Liên), hay “Tôi nhìn trong khoảng mông lung ấy/
Chỉ có tôi ngồi với bóng tôi” (Hoàng Phủ Ngọc Tường)…
Đây cũng là giai đoạn mà hoạt động sáng tác của nữ giới khởi sắc. Họ
nhanh chóng hòa nhịp vào sự đổi thay của đất nước, của xã hội, tích cực
tham gia vào tiến trình hiện đại hoá văn học dân tộc. Nhiều gương mặt thơ nữ
với những cá tính sáng tạo mới mẻ, mạnh mẽ và độc đáo đã trỗi dậy. Có thể
kể ra đây một số những nhà thơ nữ tiêu biểu như: Xuân Quỳnh, Ý Nhi, Phạm
Thị Ngọc Liên, Vi Thùy Linh, Đoàn Thị Lam Luyến… Và thơ nữ quyền trở
câu thơ êm ái, du dương, mượt mà trước đây nhường chỗ cho những câu thơ
tự do, không vần, lắm lúc theo lối vắt dòng tự nhiên kêu gọi sự tiết chế gia
tăng chất trí tuệ, tưởng tượng:
xuân hạ thu đông
đi jiữa mùa em jó lộng
thu cùng
đi jiữa mùa xuân
jó lạnh xuân mùa
thay áo
mùa sương em
sương ngượng
ngỡ ngàng
20
ngấp nghé
(Đặng Đình Hưng)
Sự sáng tạo mang đến một luồng không khí mới mẻ cho thơ. Muốn làm
được điều này đòi hỏi người nghệ sĩ phải có sự cách tân. Tuy nhiên cách tân
không có nghĩa là chối bỏ tuyệt đối những kinh nghiệm vốn có trong thơ
truyền thống. Nhiệm vụ của họ là vừa sáng tạo làm mới cho thơ đồng thời
phải biết phá vỡ những quy phạm truyền thống.
Vừa tiếp nối nền thơ ca truyền thống vốn có, vừa không ngừng tìm tòi
và nỗ lực cách tân thi pháp thơ mới, trên thực tế có không ít những nhà thơ đã
khẳng định được tên tuổi của mình. Những nhà thơ đầu tiên đặt nền móng cho
“ngôi nhà cách tân thơ” không thể không kể đến: Trần Dần, Lê Đạt, Đặng
Đình Hưng, Hoàng Cầm, Dương Tường. Sau này có thêm Vi Thùy Linh,
Inrasara, Phan Huyền Thư, Nguyễn Bình Phương… “Trong “ngôi nhà chung”
đó, mỗi người nghệ sĩ đều có những chân dung thơ ca riêng phản ánh phong
cách sáng tác của mình” (Nguyễn Việt Chiến). Tuy chưa tạo được những
đỉnh cao nghệ thuật như ta vẫn trông đợi, song với sự thay đổi về tư duy nghệ
thuật, sự nhận thức toàn diện hơn về bản chất thơ ca và cấu trúc thể loại, mỗi
tính. Nó xuất phát từ một trái tim nồng ấm, luôn khao khát thấu hiểu, để đồng
cảm và chia sẻ hơn với con người và với cuộc đời. Nói như tác giả Lê Thị Hồ
Quang: “trong thơ Ý Nhi một niềm tin và sức mạnh nội tại mãnh liệt. Cho nên
nhà thơ không ngần ngại khi tự trình bày trước độc giả bằng những đường
nét thẳng thừng, gai góc, không tô vẽ và có thể làm giật mình ai đó bởi tính
chất “đối mặt” quyết liệt và không khoan nhượng của nó” [40].
Thông thường, trong cuộc sống, người phụ nữ hay được miêu tả yếu
22
đuối, dịu dàng… Nhưng trong một số sáng tác của Ý Nhi, chúng ta đã thấy rõ,
tính quyết liệt không khoan nhượng của chị đã được đẩy lên đến độ cao tuyệt
đối:
Tôi là đứa trẻ muốn kêu to lên để nghe thấy đời mình
trong biển
là người đàn bà tìm về kết cục
tôi đang tìm về kết cục
tôi đang đứng kề bên cái vạch nhỏ xíu
của thủy chung và phản trắc, của tan vỡ và hi vọng
của hằn thù và tha thứ.
( Biển chiều)
Ngôn ngữ thơ không cầu kỳ, hoa mỹ mà rất giản dị, chân thành như
chính nỗi lòng của Ý Nhi. Tịếng thơ chính là tiếng lòng của chị, tiếng thổn
thức của tâm tư trước những phức tạp của hiện thực. Những va đập, những
mất mát những khó khăn mà chị trải qua, chứng kiến trong cuộc sống đã làm
cho chị có một cái nhìn gai góc, quyết liệt trước cuộc đời:
Lòng đố kị được dấu kín dưới những từ ngữ đẹp đẽ
sự phản trắc được giải thích bằng những lí lẽ sắc sảo
ham muốn bình thường được che đậy bằng những câu chuyện
bông đùa
và nỗi sợ hãi
hầu như vô nguyên cớ
chân dung của một người phụ nữ “đời thường”: “loay hoay trang sách cũ…/
quần của con cần xuống gấu/ gạo hết, lo xếp hàng… đấu tranh cho sự cân
24
bằng của giá cả”. Trước cuộc đời, người đàn bà phải đối diện với biết bao lo
toan vất vả. Họ phải vượt lên mọi thử thách, mọi cám dỗ của đời thường để
luôn giữ những giá trị tinh thần tốt đẹp. Đó cũng chính là người phụ nữ với
bản tính chân thật, bản lĩnh không hề tô vẽ mà chị đã xây dựng nên trong
những trang thơ của mình. Với một tính cách mạnh mẽ và dám sống hết mình
đã thể hiện ngay từ chủ kiến dứt khoát trên của tác giả, thơ chính là người,
đúng là như vậy!
1.2.2. Một tâm hồn giàu trí tuệ và triết lí độc đáo.
Có một nhà phê bình đã từng viết: “một tác phẩm thơ cũng trở thành
trác tuyệt. Vậy cái gì đã làm nên giá trị và sức sống của một thi phẩm? Đó
chính là sự hài hoà thẩm mỹ giữa trí tuệ và cảm xúc; giữa cái ảo và cái chân;
giữa hình thức và nội dung. Trong đó, tính triết lý là một phương diện cần có
để làm giàu nhận thức, liên tưởng và suy tưởng của con người”. Thật vậy,
triết lí là sự ý thức về đời sống trên những phương diện mang tính khái quát,
phổ quát. Nếu như chất trí tuệ khiến nhà thơ có xu hướng nhìn nhận hiện thực
trong sự phân chia, tách bạch khá rạch ròi thì tính triết lí lại đưa đến cho
người nghệ sĩ cách nhìn nhận về cuộc đời trong sự tổng hợp, khái quát, nhằm
tìm ra quy luật có tính phổ biến của nó. Thực ra giữa trí tuệ và triết lí không
tồn tại tách rời, ngược lại, chúng kết hợp chặt chẽ trong nhau, bổ sung cho
nhau, đem lại một nhãn quan nhận thức mang đậm tính duy lí tỉnh táo. Với
một hồn thơ ưa ngẫm nghĩ như Ý Nhi, thì chất chất trí tuệ và triết lí dường
như là một cảm hứng sáng tạo có tính phổ quát, chi phối hầu hết các sáng tác
của chị.
Trên bước đường khát khao sáng tạo của mình, có những lúc Ý Nhi
thường ưu tư và hoài nghi về sự hiện hữu của mọi thứ trong cuộc sống. Chị
đã bất lực nhìn lại gương mặt sầu muộn của mình và không khỏi nghi vấn về
những kinh nghiệm sống. Và khi đó, nhu cầu được “nghĩ” và được “hiểu” về