BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
BÙI BÍCH HẠNH
CÁI TÔI TRỮ TÌNH
TRONG THƠ TRẺ VIỆT NAM 1965 - 1975
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
TP. Hồ Chí Minh - 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
BÙI BÍCH HẠNH
CÁI TÔI TRỮ TÌNH
TRONG THƠ TRẺ VIỆT NAM 1965 - 1975
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 62.22.34.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. TRẦN HỮU TÁ
TP. Hồ Chí Minh - 2012
1.2. Đặc trưng của cái tôi trữ tình................................................................ 30
1.2.1. Nhu cầu tự bộc lộ và nhu cầu đối thoại....................................................30
1.2.2. Biểu hiện của cái tôi mang giá trị thẩm mĩ ..............................................31
1.3. Cái tôi trữ tình trong thơ trẻ 1965 - 1975 - nhìn từ sự vận động của
cái tôi trữ tình trong thơ Việt Nam 1945 - 1975 ......................................... 36
1.3.1. Thơ trẻ 1965 - 1975 - một âm hưởng mới của thời đại ...........................36
1.3.2. Diện mạo cái tôi trữ tình trong thơ trẻ 1965 - 1975 - nhìn từ sự vận
động của cái tôi trữ tình trong thơ Việt Nam 1945 - 1975 .................................40
CHƯƠNG 2: CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ TRẺ VIỆT
NAM 1965 - 1975 - NHÌN TỪ DẠNG THỨC BIỂU HIỆN ...... 59
2.1. Cái tôi sử thi ............................................................................................ 59
2.1.1. Cái tôi ngưỡng vọng về Tổ quốc, nhân dân .............................................60
2.1.2. Cái tôi xốn xang trong sự ẩn nhường riêng - chung ...............................70
2.2. Cái tôi sử thi biến thể ............................................................................. 84
2.2.1. Cái tôi tự thức trong quan niệm về thơ .....................................................85
2.2.2. Cái tôi tự họa chân dung thế hệ ................................................................90
2.3. Cái tôi phi sử thi ..................................................................................... 98
2.3.1. Cái tôi thấm thía nỗi đau chiến tranh .......................................................99
2.3.2. Cái tôi tự nghiệm số phận đời tư.............................................................113
Chương 3: CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ TRẺ 1965 1975 - NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN ..................... 132
3.1. Trường ca và thơ tự do ........................................................................ 132
3.1.1. Trường ca - Từ triết luận cao cả đến suy ngẫm riêng tư .......................133
3.1.2. Thơ tự do - Sự tích hợp những vấn đề phức tạp của thế giới tinh thần
1945 - 1975 những khuôn diện mới, trước hết nhìn từ khía cạnh cái tôi trữ tình. Nếu
quan niệm “văn chương là một tiếng gọi” [173, tr.63] thì thơ trẻ 1965 - 1975 sẽ còn
vẫy gọi tầm đón đợi của người tiếp nhận.
Với nguyện ước làm thơ ghi lấy cuộc đời mình (Hữu Thỉnh), một lớp nhà thơ thế hệ thơ trẻ - đối mặt với chiến tranh, nếm trải bi kịch chiến tranh. Họ đến với thơ
bằng trái tim tự nguyện của lớp tuổi hai mươi, ba mươi. Sống trong nỗi đau giằng
xé, mất mát, các nhà thơ khát khao tự họa chân dung thế hệ từ âm bản hiện thực tàn
khốc của chiến tranh. Hơn nữa, với cái nhìn “cuộc sống đã mong manh tái nhạt
trong từng cá thể con người”, một bộ phận sáng tác thậm chí bóc trần những thân
phận bi kịch thời chiến. Chính vì vậy, thơ trẻ 1965 - 1975 có thể được xem là bản tự
thuật đa giọng điệu, góp phần làm sinh động diện mạo thơ Việt Nam 1945 - 1975.
2.
Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu Cái tôi trữ tình trong thơ trẻ Việt Nam 1965 - 1975 là con đường tiếp
cận khơi sâu vào bản sắc của thơ trẻ. Việc xác định những dạng thức của cái tôi trữ
tình là nhằm khái quát hệ thống quan điểm thẩm mĩ cũng như năng lực chiếm lĩnh
hiện thực của nhà thơ; trên cơ sở đó, khẳng định bản sắc của thơ trẻ giai đoạn này.
Đồng thời, luận án đi sâu khám phá những dạng thức biểu hiện của cái tôi trữ tình
trong xu hướng vận động để thấy rằng chịu sự chi phối của hoàn cảnh lịch sử, bối
cảnh đời sống văn học, lí tưởng thẩm mĩ..., cái tôi trữ tình trong thơ trẻ Việt Nam
1965 - 1975 mang diện mạo riêng.
3. Nhiệm vụ
nghiên cứu
Nếu thơ trẻ miền Bắc khẳng định được vị thế trong nền thơ cách mạng và thơ
trẻ vùng giải phóng đã tạo được nhiều phong cách riêng thì ở thơ trẻ vùng tạm
chống Mỹ, cái tôi trữ tình thật sự trở thành cái tôi phương tiện, cái tôi chứng kiến sự
vận động của lịch sử. Thời kỳ chống Mỹ, cái tôi trữ tình có mờ nhạt đi” [197,
tr.191]. Theo Nguyễn Bá Thành, “Xu hướng ẩn khuất của cái tôi trữ tình ngày càng
thể hiện rõ trong thơ chống Mỹ ở giai đoạn sau. Nhất là trong loại thơ suy tưởng,
chính luận, thơ đánh giặc” [197, tr.193]. Một mặt nhà nghiên cứu này nêu lên đặc
trưng của cái tôi trữ tình thơ chống Mỹ, mặt khác chỉ ra sự nhòe mờ, ẩn khuất của
cái tôi trữ tình giai đoạn này. Trong bài viết “Về một đặc điểm của thơ 1955 1975”, Trần Đăng Xuyền khẳng định “cuộc chiến tranh chống Mĩ cứu nước không
cho phép con người nghĩ đến cái tôi cá nhân riêng tư, nhất là cái cá nhân ấy lại đối
lập, cản trở cái chung của cộng đồng, của toàn dân tộc (...) Nỗi đau của cái tôi riêng
tư hòa vào nỗi đau chung của toàn dân tộc” [33, tr.259].
Tiếp nối hướng khai thác của các nhà nghiên cứu trước về diện mạo cái tôi trữ
tình trong thơ Việt Nam 1945 - 1975, trong “Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945 - 1995
(Nhìn từ phương diện vận động của cái tôi trữ tình), Vũ Tuấn Anh đã khái quát sự
vận động, phát triển cũng như rút ra được những dạng thức biểu hiện chính của cái
tôi trữ tình trong thơ cách mạng, từ cái tôi trữ tình yêu nước - kháng chiến (1945 1954), cái tôi ngợi ca cuộc sống mới (1954 - 1964) đến sự phát triển đỉnh cao của
cái tôi trữ tình công dân (1964 -1975). Vũ Tuấn Anh nhận định thơ chống Mỹ là
“giai đoạn phát triển đến đỉnh điểm của cái tôi trữ tình công dân để trở thành cái tôi
khái quát, cái tôi tập hợp, cái tôi nhân danh cái Ta dân tộc và Thời đại” [4, tr.124].
Xuất phát từ nhận định đó, tác giả xác định hai dạng thức biểu hiện cơ bản của cái
tôi thơ chống Mỹ là “cái tôi sử thi” và “cái tôi thế hệ”. Với tâm thế cái tôi sử thi,
tiếng nói của cái tôi trữ tình ở các nhà thơ trẻ chống Mỹ “có sức âm vang của hàng
ngàn giọng nói, có sức thuyết phục của chân lý phổ quát” [4, tr.126]. Vũ Tuấn Anh
nhìn thấy mối quan hệ khăng khít giữa cái tôi - cái ta như là một sự thể hiện nhất
quán của cái tôi sử thi, đồng thời cũng nhận dạng một kiểu cái tôi trữ tình chủ yếu
thuộc vào lớp nhà thơ trẻ, “thể hiện cách nhìn, cách cảm riêng của một lứa tuổi trẻ
gánh trên vai họ thử thách nặng nề nhất của cuộc chiến tranh, với những gian lao,
hy sinh mà họ nếm trải đến tận cùng xương thịt” [4, tr.137]. Chính sự xuất hiện của
“cái tôi thế hệ” đã tạo nên tư thế trữ tình mới của thơ 1945 - 1975: là độc thoại, đối
sử thi và cái “tôi” thế hệ là hai dạng thức tiêu biểu của cái tôi trữ tình trong sáng tác
của các nhà thơ trẻ thời chống Mỹ cứu nước, trong đó cái tôi thế hệ “thống nhất với
cái “tôi” sử thi và có thể coi là một biến thể, một dạng độc đáo và cụ thể của cái
“tôi” sử thi” [92, tr.112]. Theo Nguyễn Văn Long, “cái “tôi” sử thi trong thơ thời kì
chống Mỹ tuy rất thống nhất nhưng không đơn điệu, không hoàn toàn thủ tiêu cái
“tôi” của tác giả, vì thế bản sắc, cá tính của mỗi nhà thơ vẫn có chỗ để bộc lộ, phát
huy” [92, tr.112]. Nguyễn Văn Long cảm nhận: “từ cái náo nức, say sưa với cảm
hứng của buổi đầu, đến sự trải nghiệm với nhiều suy tư, trầm tĩnh trong giai đoạn
cuối của cuộc chiến tranh, cái “tôi” của thơ trẻ muốn tìm cho mình một tiếng nói
trầm tĩnh, trực tiếp, thậm chí đến trần trụi, chối bỏ những gì hoa mĩ và sáo mòn
trong thơ” [92, tr.114]. Bài viết “Chuyển biến nhận thức của đội ngũ nhà thơ trẻ
trong chiến tranh giải phóng” của Lê Thị Bích Hồng cũng góp phần khái quát một
số biểu hiện của cái tôi trữ tình, trong đó có những nhận định khá xác đáng trên tinh
thần phát triển thành quả nghiên cứu của người đi trước: “Chữ tôi trong thơ mang
một tâm thế hoàn toàn mới mẻ. Đó là cái tôi chung, cái tôi cộng đồng, cái tôi giai
cấp, cái tôi thế hệ. Có lúc thơ phải bằng lòng một sự phiến diện để yên lòng người
đánh giặc” [66, tr.15]. Tuy nhiên, biểu hiện của cái tôi trữ tình trong thơ trẻ Việt
Nam 1965 - 1975 được các nhà nghiên cứu đặt trong quá trình vận động của cái tôi
trữ tình trong tiến trình văn học cách mạng, vì thế vẫn chưa phải là một cách nhìn
nhận toàn diện về diện mạo cái tôi trữ tình.
Xem cái tôi trữ tình như một biểu hiện của quan niệm nghệ thuật về con
người trong thơ chống Mỹ, Trần Đình Sử đánh giá: “Con người của văn học mười
năm cả nước đánh Mỹ vẫn là con người chính trị và dân tộc, con người của sự
nghiệp chung, quên mình vì nghĩa lớn, vì tập thể” [130, tr.68] và theo Trần Đình
Sử, “chiến tranh dầu ở đâu cũng là một hoàn cảnh bất thường, và gương mặt con
người trong chiến tranh thường là gương mặt đau thương, nghị lực và ý chí” [130,
tr.73] nhưng các nhà thơ “tránh nói những gì đau thương mất mát” [130, tr.73]. Đây
cũng là một gợi ý để tác giả luận án có cơ hội tìm tòi, suy ngẫm thêm về những biểu
tr.118]. Đây là một dạng thức cái tôi mà hầu hết các nhà nghiên cứu phê bình trước
đây gần như không bàn đến, hoặc chỉ khẳng định đó là diện mạo cái tôi trữ tình của
thơ sau 1975, khi cuộc sống dần trở lại những quy luật bình thường, con người phải
đối mặt với bao nhiêu biến động của xã hội. Lúc đó, cái tôi cá nhân mới thực sự
bừng tỉnh, “trở về những giá trị truyền thống nhân bản” [4, tr.174]. Lê Thị Bích
Hồng khẳng định: “Thật ra, cái tôi nhìn theo số phận cá nhân đã có mặt ngay trong
thời điểm chiến tranh” [68, tr.108]. Tác giả chuyên luận này cũng đã tập trung vào
chủ yếu hiện tượng thơ Lưu Quang Vũ; bên cạnh đó, tác giả còn nhắc đến một số
cây bút “bên kia chiến tuyến” ở các đô thị miền Nam khi đề cập đến xu hướng chiến
tranh nhìn từ sự mất mát, hi sinh.
Bên cạnh những công trình mang tính chất nhận định về diện mạo cái tôi trữ
tình trong thơ trẻ Việt Nam 1965 - 1975, còn một số bài viết đi vào khảo sát phong
cách nghệ thuật của thơ trẻ, ít nhiều cũng đề cập đến một vài nét biểu hiện của cái
tôi trữ tình. Tuy nhiên, các công trình chủ yếu mới dừng lại phác thảo một số dạng
thức cái tôi trữ tình trong thơ trẻ một cách khái quát hoặc chỉ dừng lại khảo sát chân
dung cái tôi trữ tình trong một số ít hiện tượng tiêu biểu.
4.2. Một số bài viết như: “Thơ miền Nam, tiếng hát của quê hương” (Tế Hanh
- Khái Vinh), “Sự nghiệp giải phóng dân tộc và thơ trẻ ở miền Nam” (Bùi Công
Hùng), “Thơ ca chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam 1954 - 1970” (Phạm Văn Sĩ)…
đã đề cập đến tư tưởng, quan điểm nghệ thuật, cảm hứng sáng tác của thơ trẻ miền
Nam. Song hầu hết chỉ mới dừng ở mức độ giới thiệu, khái lược, chưa đi sâu nhận
diện bản chất của cái tôi trữ tình.
Đối với các nhà thơ trẻ vùng tạm chiếm miền Nam, giới nghiên cứu phê bình
dành không ít sự quan tâm. Bàn về tư duy nghệ thuật của một số cây bút học sinh
sinh viên, Thạch Phương đã nhận định tiếng nói chủ đạo của lực lượng sáng tác thơ
trẻ miền Nam giai đoạn này là “tiếng nói phủ định cái trật tự xã hội khốn nạn “đầy
rẫy những dây kẽm gai, mộ địa và lưỡi lê” [158, tr.46]; cho rằng đây là “một sự chối
bỏ toàn diện” nhằm “lật tung cái bộ mặt thật của thuộc địa trá hình” [158, tr.47].
một số nét cá tính sáng tạo, cốt phác họa diện mạo thơ trẻ ở bộ phận này như một
yếu tố mới của văn học vùng tạm chiếm miền Nam. Tuy nhiên, các cây bút phê bình
phần nào đã điểm chân dung của cái tôi trữ tình trong một số hiện tượng thơ. Chiếm
lĩnh thế giới nghệ thuật thơ Du Tử Lê, Nguyễn Vy Khanh nhận thấy: “Trong cuộc
tìm kiếm chính mình, chính bản chân diện mục, cái Tôi sâu thẳm và thực, có khi
nhận ra cái Tôi bị động, tan nát, vì tâm động” [254] hay đến với thơ tình Du Tử Lê,
tác giả bài viết này lại khám phá: “Du Tử Lê còn có những bài đầy một nỗi buồn
tuyệt vọng và chân thành, nhiều giãi bày và tiên tri của một người tin ở sứ mệnh đến
với đời” [254]. Trong “Thơ Tô Thùy Yên - quán trọ hồn Đông phương”, Nguyễn Vy Khanh
nhận diện cái tôi “hãnh tiến trong hoang vu cũng như trong bức rối của thời đại”
[255]. Còn đứng từ góc nhìn về tâm thức của các nhà thơ vùng tạm chiếm miền
Nam đầu thập niên 70 của thế kỉ XX nói chung và Nguyễn Tất Nhiên nói riêng,
Nguyễn Bảo Hưng đã nhìn nhận: “Thảm kịch của tuổi trẻ miền Nam Việt Nam ở
những năm đầu của thập niên 70 là thế đó. Và Nguyễn Tất Nhiên đã sống đằm mình
trong thảm kịch này. Anh đã sống đày đủ. Sống nhiệt tình. Sống trọn vẹn. Như mọi
thanh niên cùng lứa tuổi” [251]...
Tuy hầu hết các bài viết, công trình chưa đi sâu khám phá cái tôi trữ tình, song
qua đó tác giả luận án cũng nhận diện một số đặc trưng cơ bản trong tư tưởng nghệ
thuật của thơ trẻ đô thị miền Nam, có cơ sở khoa học trong việc nhìn nhận những
nhân tố tác động đến đặc điểm thơ của thế hệ trẻ đồng thời cũng có cái nhìn khái
quát về một số phong cách thơ tiêu biểu như Ngô Kha, Trần Quang Long, Thái
Ngọc San, Ngụy Ngữ, Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Du Tử Lê, Tô Thùy Yên,
Trần Dạ Từ, Nguyễn Bắc Sơn… Từ đó, tác giả luận án mở rộng diện nghiên cứu và
đi sâu tìm hiểu sắc diện của cái tôi trữ tình trong thơ trẻ vùng tạm chiếm miền Nam.
Nhìn chung, các cây bút nghiên cứu phê bình đã khám phá được một số dạng
thức cơ bản cũng như khái quát một số biểu hiện của cái tôi trữ tình trong thơ trẻ
Việt Nam 1965 - 1975. Qua đó, thấy được diện mạo mới của cái tôi trữ tình trong
một giai đoạn lịch sử văn học đầy biến động thông qua cái nhìn đối chiếu với cái tôi
trữ tình của những thế hệ nhà thơ lớp trước. Một số công trình khá dày dặn song
6.4. Phương pháp so sánh - đối chiếu: So sánh những biểu hiện của cái tôi trữ
tình trong thơ trẻ 1965 - 1975 với các giai đoạn văn học khác, đồng thời kiến giải
những nét tương đồng, khác biệt của cái tôi trữ tình giữa các vùng thơ.
6.5. Phương pháp thống kê: Thống kê tần số xuất hiện của thể thơ tự do - một
phương tiện nghệ thuật quan trọng biểu đạt cái tôi trữ tình trong thơ trẻ 1965 - 1975.
7. Những đóng góp mới
Khảo sát diện mạo cái tôi trữ tình trong thơ trẻ Việt Nam ở cả miền Bắc, vùng
giải phóng và vùng tạm chiếm miền Nam, luận án góp phần mở rộng nội hàm thơ
trẻ Việt Nam 1965 - 1975, hướng tới khái quát một cách toàn diện hơn chân dung
cái tôi trữ tình và nhận diện một cách thỏa đáng hơn tư tưởng nghệ thuật, cũng như
đặc điểm nổi bật của thơ Việt Nam 1965 - 1975. Đồng thời, mong muốn khôi phục
khuôn mặt vốn đa diện của thơ 1945 - 1975, trước hết là giai đoạn 1965 - 1975. Từ
đó, luận án mở ra hướng nghiên cứu mới, khi quan điểm đánh giá không còn “trượt
theo quán tính” hầu hết cho rằng văn học Việt Nam 1945 - 1975 chỉ là sự hợp thành
của văn học miền Bắc và vùng giải phóng.
Luận án nhận định trong thơ trẻ 1965 - 1975, cái tôi sử thi là diện mạo cơ bản
của cái tôi trữ tình song cái tôi sử thi biến thể, cái tôi phi sử thi mới là những dạng
thức biểu hiện nổi trội, in đậm bản sắc thơ trẻ giai đoạn này.
8. Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận án được cấu trúc thành 3 chương
Chương 1. Cái tôi trữ tình trong thơ trẻ Việt Nam 1965 - 1975
- một cái nhìn khái quát
Chương 2. Cái tôi trữ tình trong thơ trẻ Việt Nam 1965 - 1975
- nhìn từ dạng thức biểu hiện
Chương 3. Cái tôi trữ tình trong thơ trẻ Việt Nam 1965 - 1975
- nhìn từ phương thức thể hiện
được thiết lập trong quan hệ với chính mình và được lí giải trên học thuyết “vô
ngã”. Đạo Phật đưa con người đến nhu cầu hướng nội. Như vậy không có nghĩa là
Phật giáo phủ nhận hoàn toàn sự tồn tại của cái tôi. “Con đường đắc đạo của đạo
Phật là một con đường cá nhân, chứ không thể cộng đồng” [150, tr.75]. Tuy tam
giáo đều quan niệm về cái tôi cá nhân dựa trên khuynh hướng “vô ngã” song hoàn
toàn không phải là sự triệt tiêu cái “ngã”. Lão giáo dùng “ngã” để khước từ, tiêu
diệt danh lợi chính là khẳng định vai trò của yếu tố cá nhân trên con đường thực
hiện lí tưởng đó. Nho giáo một mặt đặt con người vào mối quan hệ khăng khít với
thiên mệnh, khuôn con người vào cương thường, luân lí; mặt khác lại đưa con người
quay vào thế giới nội tại. Điều này có nghĩa là “cá nhân hòa tan vào một bản chất
chung của con người - tự nhiên, con người - chức năng, con người - cương thường,
và không còn ý nghĩa như một cái tôi tồn tại độc lập” [4, tr.22]. Như vậy, dù xuất
phát từ quan niệm về cái tôi cá nhân của mỗi triết thuyết có những đặc trưng khác
nhau song đều thừa nhận ý nghĩa của con người trong việc thực hiện tư tưởng. Ở
mỗi triết thuyết, con người cá nhân dù không tồn tại độc lập nhưng vẫn được bộc lộ
ở một hình thức nhất định. Và “tất cả đều dựa vào phẩm chất cá nhân để giải phóng
cho cái “ngã” nội tại khao khát tự do được bước sang một thế giới khác, không gò
bó, tạm bợ” [150, tr.75].
Đến với một số triết thuyết phương Tây, có thể cũng tìm thấy những quan
niệm về con người. Với Descartes, con người đặt mình trong tư thế đối diện với vũ
trụ, là một “bản thể suy tư”; bản chất con người là bản chất cá thể. Theo quan niệm
của Descartes, con người không chỉ tồn tại trong mối liên hệ giữa thể xác và linh
hồn mà người là Người vì người biết đau khổ, đam mê trong sự so sánh với tộc loại;
con người dù nhỏ bé cũng không bị cô lập trong vũ trụ mà luôn tự nhận thức mình
là một phần của trật tự toàn vẹn và có vị thế nhất định trong trật tự toàn vẹn đó. Như
Héraclite quan niệm “giữa vũ trụ và con người luôn luôn có một liên hệ” [114,
tr.182]. Dừng lại ở Kant, một đại diện tiêu biểu của triết học duy tâm, cũng thấy rất
rõ ý nghĩa của cái tôi trong đời sống con người. Cái tôi tồn tại vừa là chủ thể vừa là
Theo lí giải của triết học, cái tôi là một yếu tố của chủ thể, là quan niệm của
chủ thể về chính mình. Hay nói cách khác, cái tôi chính là khả năng tự nhận thức
của chủ thể. Sự khu biệt cơ bản nhất của hai phạm trù này là nếu chức năng của chủ
thể là nhận thức và cải tạo thế giới thì chức năng của cái tôi là xác lập vị thế của
mình trong thế giới. Chủ thể, theo quan niệm của triết học, không hẳn là một cá
nhân đơn lẻ, mà đó có thể là một tập thể, một cộng đồng. Như vậy, tương ứng với
chủ thể của mỗi thời đại là sự biểu hiện một loại hình cái tôi phù hợp.
“Sẽ giản đơn, siêu hình nếu xem cái tôi cá nhân là một cái gì nhỏ hẹp, hạn chế,
khép kín” [181, tr.136]. Mang những đặc tính riêng, cái tôi không đơn thuần là cái
tôi cá nhân riêng lẻ, nhỏ hẹp, bất biến mà đó là một phạm trù mang tính “động”,
“không chỉ là chức năng tự ý thức của chủ thể, mà còn là chức năng tự ý thức về
bản chất xã hội của chủ thể” [181, tr.136]. Cái tôi tự thân có sức dung chứa vô cùng
bởi cái tôi có chức năng thâu nhận thế giới khách quan qua lăng kính nội cảm. Sự
thâu nhận này đã tạo nên một thế giới chủ quan của cái tôi, ở đó sức nội cảm của cái
tôi tỉ lệ thuận với sự phong phú đa dạng của cuộc đời. Đây chính là thế giới của
những giá trị qua cách nhìn của cái tôi, là thế giới khó tách bạch đâu là chủ quan
đâu là khách quan: Khúc thu/ Khúc thu/ Bần bật lá vàng/ Đôi giày nhỏ xinh xinh
nàng công chúa (Dương Kiều Minh); Con bò vàng ngộ nghĩnh đuổi theo sau/
Sương trắng rỏ đầu cành như giọt sữa/ Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa/ Núi
uốn mình trong chiếc áo the xanh (Đoàn Văn Cừ). Chính đặc tính này tạo nên sự đa
dạng trong những dạng thức biểu hiện của cái tôi trữ tình: cái tôi hướng nội, cái tôi
hướng ngoại… Cái tôi luôn tự thiết lập một cách ứng xử “thống nhất bền vững” đối
với cuộc sống. Điều đó không có nghĩa cái tôi là một phạm trù bất biến. Sự bền
vững ở đây có thể hiểu là sự nhất quán trong bản chất tinh thần con người, nghĩa là
ý thức khẳng định bản chất tinh thần qua nhiều biến cố của đời sống: Biển vẫn cậy
mình dài rộng thế/ Vắng cánh buồm một chút/ đã cô đơn (Hữu Thỉnh); Ký hiệu đời
tôi là một chấm xanh xanh ngắt/ Ký hiệu thơ tôi là sự minh bạch trong rắc rối đến/
khôn cùng (Phùng Khắc Bắc). Như đã khẳng định, cái tôi là một phạm trù có tính
“động”. Đây có thể là sự xung đột trong nội tại cái tôi, hay cũng có thể hiểu là sự
thuật và bằng nghệ thuật, cái tôi của hành vi sáng tạo, là quan niệm về cái tôi được
thể hiện thông qua phương tiện trữ tình” [4, tr.26-27].
1.1.2. Cái tôi trữ tình
Theo Hegel, nguồn gốc và điểm tựa của thơ trữ tình là “ở chủ thể, và chủ thể
là người duy nhất và độc nhất mang nội dung” [60, tr.995]. Thơ ca là tiếng nói xuất
phát từ nhu cầu nội tại của con người, có khi đó là nhu cầu độc bạch của thế giới
tâm hồn. Nhiều định nghĩa về thơ trữ tình đều hướng đến giải mã sự thôi thúc của
nhu cầu sáng tạo xuất phát từ góc độ đó. Thơ là sự bắt nhịp của những tâm hồn
đồng điệu, là tiếng nói tri âm… Quá trình sáng tạo thơ ca trước hết là nhu cầu rung
cảm tự thân của người nghệ sĩ, là con đường tìm sự đồng vọng. Thơ trữ tình với tư
cách là sự biểu hiện của cái tôi, là phương tiện để con người cảm thấy sự tồn tại của
mình” [181, tr.140]. Bản chất của thơ chính là sự hiện diện của cái tôi trữ tình. Vì
thế có thể xem cái tôi là nhân tố xuyên suốt hành trình sáng tạo thơ trữ tình.
“Thơ trữ tình là phương tiện để con người tự khẳng định bản chất tinh thần
của mình so với tồn tại vật chất, là phương tiện để tự đồng nhất mình, xây dựng
hình tượng về mình…” [181, tr.140]. Cái tôi có vai trò quan trọng trong thơ với tư
cách là trung tâm để bộc lộ tất cả suy nghĩ, tình cảm, thái độ bằng giọng điệu riêng;
nhờ vậy làm nên cái độc đáo không lẫn giữa thế giới nghệ thuật của mỗi nghệ sĩ.
Sáng tạo thơ ca là kết quả tất yếu của quá trình dồn tụ cảm xúc, là khoảnh khắc
thăng hoa của cái tôi thi sĩ khao khát tự bộc bạch, giãi bày. Không có sự thúc bách
bên trong đời sống nội cảm, không có cái tôi chênh chao giữa thế giới hiện hữu,
không có niềm vọng tưởng về một quá khứ mờ xa thì không thể có Điêu tàn đi về
trong những miền hư tưởng. Sẽ không có Di cảo thơ như một cuộc chạy đua dốc
sức cuối cùng về với bến bờ của đời người nếu không có một tâm hồn luôn trên
hành trình suy tưởng về số phận, về cái chênh vênh giữa cõi sống và cõi lò thiêu.
Cũng như nếu không có cái tôi cảm nghiệm thân phận buồn trống trải thì không thể
có thơ tình Lâm Thị Mỹ Dạ, không thể có lời tự thú xót cay: Nhiều khi muốn mình
như chiếc bóng/ Tan trong màn đêm/ Để không ai nhận ra/ Mình có mặt trong đời
Não nề đến rên xiết, cô độc đến trống rỗng, khát thèm đến đê mê… là cõi
riêng tây của hồn thơ Hàn Mặc Tử. Trong đó, Đau thương là duyên phận lỡ làng
của đời thơ ông. Lỡ làng yêu đương, lỡ làng thân phận và cuộc phiêu diêu vào
mộng tưởng cũng lỡ làng. Ở đó, người thơ dấn thân vào tận cùng bi kịch bằng một
cái tôi mê dại. Xa đời, xa người và xem thế giới ảo mộng là người tình tri kỉ, Hàn
Mặc Tử mê tơi trong những ảnh hình kì dị. Cái tôi trao phận vào cõi hư vô ắp đầy
ám gợi. Để tự giải thoát sượng sần thân xác. Để thỏa ẩn ức đời tư và bức bách hơn
là để chạm tới cạn sâu những ước vọng mà chủ thể không tìm thấy trong thực tại:
Ta đã ngậm hương trăng đầy lỗ miệng/ Cho ngây người mê dại đến tâm can (Rướm
máu). Không nén nổi cơn khát yêu mà trong ngắn ngủi cuộc đời, nhà thơ vắt kiệt
mình nếm trải. Vườn yêu trong cõi Hàn Mặc Tử dậy men tình mà cũng chật ních
rạn vỡ tái tê. Dự cảm đổ vỡ đón đợi người thơ ngay trong khoảnh khắc say sưa nhất
của ái tình, sẽ chán chường và sẽ chán chê (Tối tân hôn). Trải nghiệm đau thương là
đối mặt với định mệnh. Song tận sâu tâm thức Hàn Mặc Tử là sự cưỡng lại thân
phận. Say trăng, rượt trăng, chơi trên trăng hay ngủ với trăng âu cũng là sự phân
thân của cái tôi mê dại. Cái tôi đắm mình trong trăng đến hoang tưởng. Rượt đuổi
trăng mà viễn tưởng đến ái tình không xác thịt. Ngủ với trăng lại tưởng vọng đến
thổn thức, phập phồng niềm yêu đương… Không phải là sự quy chụp cuộc đời bệnh
tật của Hàn Mặc Tử vào thế giới nghệ thuật thơ của chủ thể, giữa cái tôi nhà thơ và
thế giới hình tượng thơ vẫn có một độ “vênh” nhất định. Sáng tạo thơ ca trước hết là
cái nhìn qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ. Dẫu là cuộc đời thi sĩ đấy nhưng
chưa hẳn là đời, là tôi nhưng cũng không hoàn toàn là tôi. Song nếu không có một
Hàn Mặc Tử cô đơn giữa cõi người rộng rinh trong mặc cảm bệnh tật giày vò,
không có một Hàn Mặc Tử cồn cào khát sống thì sẽ không có Đau thương. Quả
thật, khi người thơ đóng dấu ấn đời tư vào tác phẩm, cái tôi trữ tình ít nhiều đều
mang bóng dáng của cái tôi tác giả như là sự phơi trải chính mình.
Cái tôi trữ tình có thể bộc lộ gián tiếp qua cảnh ngộ không phải của riêng mình
mà tác giả chỉ nói lên cảm nghĩ của mình về những cảnh ngộ, những sự kiện đó.
Hoàng Phủ Ngọc Tường nhiều lần chạm vào cái chết. Con người hiện sinh trong
ông dằn vặt quá nhiều với sự cô đơn đến trống rỗng. Đến nỗi thi sĩ ban cho mình