- 1 -
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài :
Nguyễn Khoa Điềm là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ nhà
thơ xuất hiện và trưởng thành trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước.Tìm hiểu thơ Nguyễn Khoa Điềm không chỉ nhận diện một nhà thơ có chất
giọng riêng mà còn có ý nghĩa góp phần tìm hiểu, đánh giá thành tựu của nền thơ
Việt Nam hiện đại trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Từ nhiều năm nay một số bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm đã được đưa vào
chương trình sách giáo khoa nhà trường như: “Khúc hát ru nhữnh em bé lớn lên trên
lưng mẹ” (Văn học 6,tập 2), “Đất nước” (trích “Mặt đường khát vọng”) (Văn hoc
12, phần văn học Việt Nam). Vì vậy, tìm hiểu thơ Nguyễn Khoa Điềm sẽ có ý nghĩa
thiết thực trong việc giảng dạy văn học ở trường Trung Học Phổ Thông sau này.
Là lớp người thuộc thế hệ sinh ra và lớn lên sau năm 1975, tôi muốn tìm hiểu
thơ Nguyễn Khoa Điềm nói riêng và thơ ca những năm chống Mỹ, cứu nước nói
chung như tìm đến tâm hồn thế hệ trẻ Việt Nam trong một chặng đường lịch sử, từ
đó giúp những cảm nhận của mình về cuộc sống, về tình yêu, về tuổi trẻ, về khát
vọng của một thế hệ sâu sắc hơn mà mình chưa có dịp trải qua.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: thơ Nguyễn Khoa Điềm
Phạm vi nghiên cứu:
Nguyễn Khoa Điềm không chỉ viết thơ mà còn có cả bút ký “Cửa thép”,
nhưng ở đây chúng tôi chủ yếu tìm hiểu qua 3 tập thơ:
“Đất ngoại ô” (Nhà xuất bản Giải phóng năm 1972)
“Mặt đường khát vọng” (Nhà xuất bản Giải phóng năm
1974)
“Ngôi nhà có ngọn lửa ấm” (Nhà xuất bản Tác phẩm mới
năm 1986)
Trong thế giới nghệ thuật phong phú của thơ Nguyễn Khoa Điềm, luận văn
chỉ giới hạn tìm hiểu một vài khía cạnh chính:
- Đặc trưng của các tập thơ.
âm hưởng, làm giảm đi sức truyền cảm, rung động trong thơ ông.”(22.t387)
- Giáo sư Hà Minh Đức với bài viết “Đất ngoại ô của Nguyễn Khoa Điềm”,
đã đề cập đến những vấn đề cơ bản nhất về nội dung, nghệ thuật của tập thơ và đi
đến nhận xét : “Sức hấp dẫn của thơ Nguyễn Khoa Điềm có thể ở giọng nói mới
mẻ, những tìm tòi trăn trở khi viết nhưng trước hết và chủ yếu ở tâm hồn thơ trẻ
nồng cháy lý tưởng…Anh có lúc thiên về lý trí và khát khao suy nghĩ. Anh chưa có
những suy nghĩ khắc sâu về nhiều mặt của một đời thơ từng trải. Những suy nghĩ
tốt của “Đất ngoại ô” là những suy nghĩ gắn liền với hoài bão, khát vọng chân thành
- 3 -
của tuổi trẻ trong chiến đấu hoặc xuất phát từ đời sống thực mà Nguyễn Khoa Điềm
am hiểu, thông thuộc …(16.t218)
- Tôn Lan Phương trong bài viết “Nguyễn Khoa Điềm”, trên cơ sở phân tích
những bài thơ, chương thơ tiêu biểu của Nguyễn Khoa Điềm đã đi đến kết luận:
“Nguyễn Khoa Điềm đã góp vào nền thơ một phong cách đầy suy tưởng , cảm xúc,
kết hợp hài hoà yếu tố hiện thực và lãng mạn, vốn sống trực tiếp và vốn sống văn
hoá. Điều đó không dễ cây bút nào cũng có được.”(34 t493)
- Nguyễn Xuân Nam với bài viết “Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa
Điềm”, đã chỉ rõ những đặc sắc, hạn chế trong nghệ thuật của thơ Nguyễn Khoa
Điềm và những nét lặp lại, nâng cao ở trường ca “Mặt đường khát vọng” so với
“Đất ngoại ô”. Ông đã nhận định :“Mặt đường khát vọng không phải là bài thơ ca
ngợi . Đúng hơn đó là một bài thơ về quá trình nhận thức để hành động. Nó có
giọng trầm trầm của sự phân tích, nhận định, âm điệu chính vừa phù hợp với yêu
cầu của đề tài, vừa quen thuộc với phong cách Nguyễn Khoa Điềm ta đã thấy ở
“Đất ngoại ô”…Thơ Nguyễn Khoa Điềm không đặc sắc về tạo hình, màu sắc nhưng
thơ anh có sức liên tưởng mạnh. Anh đưa người đọc đi từ quá khứ đến tương lai, từ
khổ đau đến hạnh phúc, từ sách vở đến đời sống . Tác giả có ý định khá lớn, có cách
diễn đạt mới, có sức sáng tạo dồi dào trực tiếp từ cuộc sống đấu tranh của quê
hương, đất nước mình”.(26 . t 110) .
- Vũ Tuấn Anh trong bài viết “Nguyễn Khoa Điềm với Ngôi nhà có ngọn lửa
ấm”, đã chỉ rõ : “Chưa có thể nói rằng đây là một tập thơ đặc sắc đánh dấu sự vượt
cứu khác nhau: từng bài thơ, từng tập thơ và cũng có tác giả cảm nhận chung về thơ
Nguyễn Khoa Điềm như Mai quốc Liên và Nguyễn Trọng Hoàn. Tuy nhiên, chưa
có một tác giả nào nghiên cứu một cách toàn diện thơ của ông . Luận văn này cố
gắng tập hợp, kế thừa ý kiến của những người đi trước, bước đầu tìm hiểu thơ
Nguyễn Khoa Điềm một cách toàn diện qua ba tập thơ :
- “Đất ngoại ô”(Nhà xuất bản Giải phóng - 1972)
- “Mặt đường khát vọng”( Nhà xuất bản Giải phóng - 1974)
- “Ngôi nhà có ngọn lửa ấm”( Nhà xuất bản Tác phẩm mới - 1986)
6.Cấu trúc luận văn :
Ngoài phần mở đầu, kết luận và các phụ lục, nội dung chính của luận văn
được cấu trúc như sau:
Chương 1: Nhìn lại đội ngũ nhà thơ những năm chống Mỹ, cứu nước.
1.1. Đội ngũ sáng tác .
1.2. Đôi nét về nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm.
Chương 2: Thơ Nguyễn Khoa Điềm từ “Đất ngoại ô”, “Mặt đường khát vọng”
đến “Ngôi nhà có ngọn lửa ấm”.
2.1. “Đất ngoại ô”.
2.1.1
2.1.2
2.2 “Mặt đường khát vọng” .
2.2.1
2.2.1
- 5 -
2.3 “Ngôi nhà có ngọn lửa ấm”.
2.3.1
2.3.2
Chưong 3: Bước đầu nhận diện cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Khoa Điềm.
3.1. Nguyễn Khoa Điềm - Một cái tôi trữ tình vừa trẻ trung vừa giàu suy tư
tình nghĩa .
3.2. Nguyễn Khoa Điềm - Một cái tôi trữ tình giàu tri thức văn hóa.
trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp vẫn giữ phong thái chắc, khỏe, vẫn viết
đều tay, khẳng định sức đi lên của thơ mình : Hoàng Trung Thông, Chính Hữu,
Nông Quốc Chấn, Xuân Hoàng, Minh Huệ, Trần Hữu Thung, Phạm Hổ, Trinh
Đường, Nguyễn Viết Lãm, Bàng Sĩ Nguyên…. Đông đảo, hùng hậu và đáng chú ý
hơn cả là thế hệ những nhà thơ xuất hiện và trưởng thành từ những năm xây dựng
chủ nghĩa xã hội và trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tre già măng mọc
trong nền thơ việt nam chống Mỹ, lớp tre càng xanh càng chắc thì đợt măng kế tiếp
- 7 -
đã đâm chồi. Họ dã đem đến cho thơ sức sáng tạo mới, trẻ trung, trong sáng, nhạy
cảm, trong số đó có không ít tài năng sớm được chý ý và khẳng định như : Lê Anh
Xuân, Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa
Điềm, Hữu Thỉnh …
Thế hệ những nhà thơ trẻ trong nững năm kháng chiến chống Mỹ , mỗi tác
giả mang một phong cách khác nhau nhưng họ đều có những đặc điểm chung của
thế hệ mình .
Thế hệ nhà thơ trẻ đã đem đến sự đông vui ồ ạt cho cả nền thơ chống Mỹ
bằng tiếng nói sôi nổi, mới mẻ và duyên dáng của riêng lứa tuổi họ, lứa tuổi lớn lên
trong nôi của chủ nghĩa xã hội, tha thiết tin yêu cách mạng và đang có mặt trên
khắp các mặt trận sản xuất, chiến đấu. Thơ đốI vớI họ, không phải chỉ là một cách
tự biểu hiện, tự ca hát, chính từ cuộc sống, từ niềm thôi thúc muốn ca hát về thực tế
kỳ vĩ của cuộc kháng chiến chống Mỹ mà họ đến với thơ. Cho nên, thơ họ trẻ, hồn
nhiên mà vẫn có những suy nghĩ sâu sắc đầy trách nhiệm về Tổ quốc, dân tộc. Thế
hệ những nhà thơ trẻ trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có nhiều
ưu thế và thuận lợi hơn so với những thế hệ trước. Được đào tạo trong nhà trường
xã hội chủ ghĩa, vốn kiến thức văn hóa nói chung, những hiểu biết có hệ thống về
văn học và thơ ca dân tộc đã nằm ngay trong hành trang của họ trên những bước
đường đầu tiên đến với thơ - thuận lợi này, nhiều nhà thơ thuộc thế hệ trước không
dễ gì có được. Nếu như các nhà thơ xuất hiện trướccách mạng phải trăn trở, tìm tòi
cho mình một hướng đi đúng sau cách mạng thì những nhà thơ trẻ lại được bước đi
trên con đường thẳng, rộng, dài của nền thơ cách mạng đã được vạch sẵn từ mấy
xít trên báo chí công khai năm 1930. Mẹ là thành phần nòng cốt của phong trào Phụ
nữ địa phương .
Tuổi thơ của Nguyễn Khoa Điềm gắn với số phận chung của dan tộc. Mới 3
tuổi sống xa bố, 11tuổi phải chịu cảnh mồ côi bố, đến năm 12 tuổi sống xa gia đình
và quê hương .
Tốt nghiệp Phổ Thông, Nguyễn Khoa Điềmthi vào Đại học Sư phạm. Những
năm tháng ở giảng đường Đại học ông đã chịu khó học hỏi và tỏ ra là một thanh
niên giàu nghị lực, có bản lĩnh. Tháng 7 năm 1964 tốt nghiệp Đại học, ông viết đơn
tình nguyện vào miền Nam công tác. Ông vinh dự được ở trong đoàn giáo viên đấu
tiên vào Nam hoạt động. Trong đoàn của ông có Lê Anh Xuân, Từ Sơn và nhiều
đồng chí khác. Đầu tiên đoàn đến chiến trường Trung Ương cục sau đó phân bố đi
các vùng. Nguyễn Khoa Điềm cùng mười đồng chí khác về chiến trường Thừa
Thiên. Sau này trong nhóm chỉ còn lại một mình ông, đây chính là điều để lại cho
ông những ý nghĩ và tình cảm sâu sắc về tình đồng chí, đồng đội trong thơ ông .
Đến Thừa Thiên,Nguyễn Khoa Điềm được phân công công tác vận động
thanh niên ở Thành ủy có nhiệm vụ chính là làm báo và bắt mối với cơ sở thành
phố. Tháng 9 năm 1967, ông bị bắt trong một trận càn, phải vô nhà tù Thừa Phủ.
Đến ngày 3 tháng 2 năm 1968 ông dược ra tù rồi tham gia vào bộ đội. Ban đầu ông
được phân làm lính thông tin hữu tuyến. Khi bộ đội chuẩn bị rút khỏi mặt trận Huế
ông được chuyển sang trung đoàn 9 tiểu đoàn 818 làm lính trinh sát .
- 9 -
Sau giải phóng miền nam năm 1975,Nguyễn Khoa Điềm tham gia công tác
chính trị ở thành phố quê hương. Ông từng làm Chủ tịch Hội văn nghệ Bình Trị
Thiên, Phó bí thư thường trực tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế. Ôngđã tham gia Ban chấp
hành hội nhà văn khóa III. Từ tháng 8 năm1993 ông ra hà nội làm Thứ trưởng Bộ
văn hóa –thông tin. Năm 1995, ông được bầu làm tổng thư ký Hội nhà văn khóa V.
Năm 1996, ông được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 8 bầu vào Ban chấp hành
Trung ương Đảng và Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam bổ nhiệm
làm Bộ trưỏng Bộ văn hóa - thông tin .
Nguyễn Khoa Điềm được sinh ra trong gia đình có nhiều người hoạt động
2.1. Đất ngoại ô:
Tập thơ “Đất ngoại ô” (xuất bản 1972) gồm 31 bài, bắt đầu với hình ảnh của những
con người:
“Chân đất đợi áo nối vai
Le te chợ Hôm, chợ Mai
đầu tắt mặt tối”
trong “Đất ngoại ô” và khép lại bằng hình ảnh người mẹ Tà Ôi địu con, giã gạo với
tư thế hiên ngan giành trận cuối cùng lời ru tha thiết nồng hậu say đắm lòng người:
“Em Cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi.
Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ”
trong “Khúc hát ru những em bé lớn lên trên lưng mẹ”
Nguyễn Khoa Điềm ước mơ trở thành người thầy giáo nhưng giặc Mỹ đã không cho
ông thực hiện ước mơ ấy. Quê hương thân yêu rơi vào cảnh bom đạn, chiến tranh,
ông giã từ “mối tình sách” với “buổi học đầu ấp ủ yêu thương”, khoác ba lô đi thẳng
vào chiến trường miền Nam đánh Mỹ, đi về phía “Tiền phương súng dội. Mà ngực
râm rang bao tiếng trống trường”. Chính trong hoàn cảnh chiến tranh, nếm đủ cảnh
đói khát, tù đày với suy nghĩ sâu xa về trách nhiệm của tuổi trẻ trước sự sống còn
của Tổ quốc, đã nung nấu và khơi dậy trong ông nguồn cảm hứng sáng tác.
Mỗi một nhà thơ đều chọn cho mình một mảnh đất thơ để thả hồn mình vào
đó. Nếu như Dương Hương Ly tìm về Quảng Nam “Mảnh đất nuôi ta thành dũng
sĩ”, Lê Anh Xuân tha thiết với Bến Tre rợp bóng “Hoa dừa”, Phạm Tiến Duật say
sưa cùng Trường Sơn thì Nguyễn Khoa Điềm tìm về với “Đất ngoại ô”.
Những năm tháng xa quê, kỉ niệm một thời với Nguyễn Khoa Điềm không
chỉ là “màu mực tím”, những buổi đi học “qua hàng cây với cặp sách che đầu” mà
còn là bao kỉ niệm về một khu phố ngoại ô nghèo:
“Khu phố ngoại ô nằm nghe mưa nguồn và sóng vỗ
đêm thầm tính những chuyến đò về trong giấc ngủ
trăn trở năm nào
vỗ về một ngày lam lũ”
(Đất ngoại ô)
Giặc Mỹ tràn đầy quê hương cũng chính là lúc những người dân ngoại ô
sống trong cảnh thành phố mọc đầy những nấm độc “x-nách-ba”, những “Mỹ và
đĩ”. Mùa xuân hôm nào còn “hạnh phúc tròn trong hơi sữa. Nồng nàn mùi đất sang
xuân” nay chỉ còn:
“Một mùa xuân quay cuồng và tan rã
Một mùa xuân cố trốn một mùa đông”
(Con gà đất, cây kèn và khẩu súng)
- 12 -
Không sống cam chịu, người dân ngoại ô muốn tháo tung tất cả những ràng
buộc của cảnh đời khốn khó, muốn sống hạnh phúc, họ đấu tranh dành quyền sống
từ tay kẻ thù:
“Ngoại ô xuống đường
Những bàn tay giơ cao
Vẫn những bàn tay giơ cao đòi những đoá hoa của lợi quyền, hy vọng áo cơm
và đòi được sống
Sau bao đêm đếm giá trị cuộc đời trên những mảnh rách nát mồ hôi”
(Những đồng tiền ngoại ô).
Nếu ngày hôm qua người dân ngoại ô còn là những “cuộc đời sụt lỡ” thì hôm
nay họ trở thành những người con trung kiên của quê hương, đất nước. Với tình yêu
quê hương mãnh liệt, họ đã tạo nên một “khuôn mặt” mới cho quê hương mình.
“Thành phố buồn đau” hôm nào, giờ đây trở thành một vùng đất chiến đấu vô cùng
anh dũng:
“Ngoại ô mở rồi trăm cửa ta băng băng
Trái tim hồng ta lắp súng chống tăng
Ta đã lớn, ơi mẹ, em, đồng chí
Mái nhà xưa nhìn theo ta ứa lệ
Sức trăm năm nay chuyển xuống lòng đường
Cả ngoại ô thành chiến luỹ sông Hương”
(Đất ngoại ô)
Hoà vào không khí đánh giặc chung của quê hương là những cuộc đấu tranh
(Quang Dũng). Mặc dù phải đối mặt với cái chết các anh vẫn ôm ấp mơ ước ngày
hoà bình để trở về bục giảng:
“Ôi những trang sách và đàn em mong đợi
Ta về đây nguyên dép lốp chiến trường”
(Sẵn sàng cho bài học đầu tiên)
Bên cạnh người lính, chúng ta còn bắt gặp hình ảnh người con gái chằm nón
bài thơ dịu hiền bên bờ sông Bồ:
“Bàn tay xây lá, tay xuyên chỉ
Mười sáu vành mười sáu trăng lên”
(Người con gái chằm nón bài thơ)
Cô gái đẹp tựa trăng tròn và những vầng trăng đã mọc lên từ tay em trong
sáng, yên lành. Giặc Mỹ đến “đạp gãy vành”, máu bà con in trên lá nón, em đi làm
cách mạng “bảo vệ quê nhà với chú anh”. Cô gái “ăn chưa no, lo chưa tới” hôm nào
đã lớn lên, dày dạn qua bao thử thách chiến tranh. Chiếc nón “đi về thêm thiết tha”
bây giờ “đi đón cả ngày giông bão, dựng dậy phong trào soi ước mơ”.
Giữa núi rừng Thừa Thiên, chúng ta còn bắt gặp em bé giao liên mang dáng
“Lượm” hôm nào:
“Tóc kẹp vắt chỏm
Cái áo xanh xanh
Em như chim ngẳng
Nhanh nhanh nhanh
- 14 -
(Chiếc nôi vàng)
Khi “Tổ quốc thân yêu thành cao điểm giệt thù” cũng chính là lúc những em
bé “chưa đến tuổi cầm súng”(Thơ ơi), tóc còn “kẹp vắt chỏm”(chiếc nôi vàng) cũng
theo anh chị tham gia cách mạng.
Đọc thơ Nguyễn Khoa Điềm chúng ta không chỉ thấy cháy bỏng trong thơ
tình yêu những lý tưởng lớn, những tình cảm lớn, niềm hy vọng lớn mà chúng ta
còn bắt gặp tình yêu đôi lứa rất đỗi ngọt ngào. Nếu như thơ tình trong chiến tranh
thường nói đến sự chia ly, xa cách. Nguyễn Đình Thi viết: “Chia tay trong đêm Hà
(Ánh sáng trên lưỡi rìu)
Tiếng cười của các anh là tiếng cười làm nên chiến thắng:
“Trong thời gian, không gian gian lao\
Ta trầm tĩnh nhân sức mình vô hạn”
(Ánh sáng trên lưỡi rìu)
Dân tộc chúng ta phải đối mặt với một kẻ thù hung bạo và lớn mạnh nhất
thời đại, hy sinh mất mát là điều không tránh khỏi. Dẫu biết vậy nhưng các anh vẫn
tự tin để bước vào trân chiến, đón những cái chết nhẹ tựa lông hồng:
“Nếu tôi phải ngã xuống
Xin đặt tôi bên đường
Cho tôi vành sao nhỏ
Gác đường Hồ Chí Minh”
(Tôi lại đi đường này)
Niềm tin tưởng lạc quan ấy chỉ có ở những tâm hồn thanh niên có khát vọng
lý tưởng cao đẹp hoà quyện trong một tình cảm thắm thiết về quê hương, nhân dân,
đất nước.
Từ những đôi trai gái lặng lẽ đặt tình yêu Tổ quốc lên trên tình cảm riêng tư,
em bé giao liên, o bí thư 17 tuổi, những chiến sĩ lạc quan yêu đời, Nguyễn Khoa
Điềm đã cho chúng ta hiểu hơn về tuổi trẻ trong cuộc chiến đấu hôm qua.
Một khu phố ngoại ô với bao kỉ niệm về một thời thơ ấu và những tháng
ngày tranh đấu luôn là niềm tự hào của nhà thơ:
“Con lớn lên mùa thu thanh kỉ niệm
Của đời riêng trong sắc biếc trời cho
Khi thành phố còn một giờ giặc chiếm
Con xót xa nhớ nơi Bác từng qua”
(Nơi Bác từng qua)
Ý thơ được triển khai theo kỉ niệm riêng tư, theo dòng suy nghĩ về nhân dân,
đất nước và đọng lại ở lòng yêu Bác, yêu thành phố ở quê mẹ:
“Ôi nơi mẹ sinh ra là nơi Bác từng qua
Vệt ánh sáng rải đường con chiến đấu
Qua tập thơ này chúng ta có thể nhận thấy thơ Nguyễn Khoa Điềm rất giàu
sức liên tưởng. Ông đã dẫn dắt người đọc vào mạch liên tưởng độc đáo bất ngờ.
Đặc biệt là ông muốn đưa chất liệu cuộc sống hào hùng mà mình đã trải qua vào
thơ, song thơ ông hấp dẫn không chỉ ở chất liệu ấy mà còn ở những suy nghĩ, tình
cảm của ông trước hiện thực đó.
Để nâng cao gía trị của tác phẩm Nguyễn Khoa Điềm cũng đã cố gắng tìm
cho mình cách nói phù hợp với tâm trạng, hoàn cảnh cụ thể: có khi là tiếng nói yêu
thương trìu mến qua thể thơ lục bát(Khoảng trời yêu dấu), khi là lời tố cáo đanh
thép tội ác của kẻ thù(Nghĩ về một nhãn hiệu). Ở tập thơ này, ông đã kết hợp hài
hoà các thể thơ(phụ lục) Để tránh sự khô khan cứng nhắc trong thơ, trong tập thơ
này ông sử dụng các thể thơ rất hài hoà.(Phụ lục)
- 17 -
Tuy “Đất ngoại ô” chưa có được những suy nghĩ khắc sâu về nhiều mặt của
một đời thơ từng trải nhưng Nguyễn Khoa Điềm đã góp vào nên thơ ca chống Mỹ
một tiếng nói trữ tình giàu liên tưởng gắn liền với hoà bão, khát vọng chân thành
của tuổi trẻ và sự am hiểu, thông thuộc về một vùng đất.
2.2 Mặt đường khát vọng:
Nguyễn Khoa Điềm không bằng lòng đóng khung trong những bức tranh gọn
hẹp, những cảm xúc ngắn gọn mà ông luôn luôn có khát vọng vươn dài nới rộng để
khám phá và biểu hiện tầm sử thi của cuộc sống cách mạng cho nên ông đã tìm đến
thể trường ca và đã thành công với “Mặt đường khát vọng”. Trường ca “Mật đường
khát vọng” (xuất bản 1974) được gợi cảm hứng từ bản giao hưởng số 5 của
Betthôven và nhiều đoạn trong “Lửa đèn” của nhà thơ Phạm Tiến Duật. Trường ca
này có 9 chương, nói về con đường “thức nhận”, dấn thân vào cuộc đấu tranh của
tuổi trẻ đô thị miền Nam, và đó cũng chính là con đường tìm về với nhân dân, với
dân tộc.
2.2.1 Quá trình thức nhận của tuổi trẻ đô thị miền Nam:
Trong chương thơ mở đầu của tác phẩm-“Lời chào”, Nguyễn Khoa Điềm
đến với tuổi trẻ thành phố quê hương bằng tình yêu của những người bạn “thưở
thiếu thời”, tình yêu quê hương “nửa phần là nắng gió, nửa phần là gương mặt yêu
người trên mũi mác”:
“Rồi những Khantacta bỗng bước ra từ bão cát
Rồi những cuộc Thập tự chinh với đầu người trên mũi mác
Rùng rùng đi tàn phá nước non này”
Tên bạo chúa thời trung cổ và giặc Mỹ bây giờ đều chung bản chất dã man
và tàn bạo, có khác chăng giặc Mỹ tinh vi và tài năng hơn trong phương cách giết
người:
“Xưa giết người bằng roi, bằng rìu cũ kĩ
Nay giết người bằng hoá chất, điện tử, prôtông
…Xưa một người chỉ đâm chết một người
Nay một cái bẩm nút, một cái đạp cản bom Mỹ giết ta hàng chục hang trăm ngọt
xớt”
Với lối so sánh xưa và nay, Nguyễn Khoa Điềm đã vạch trần được tội ác dã
man của “tên bạo chúa” thế kỷ 20. Thời trung cổ, sự dã man của Khantácta đã khiến
cho loài người khiếp sợ, nay tội ác của giặc Mỹ còn tàn ác dã man hơn hàng trăm,
hang ngàn lần.
Giặc Mỹ đến Việt Nam nhằm xoá bỏ tất cả công lí, chúng “uốn công lí quăn
queo làm thước kẻ”. Chúng sẵn sàng reo rắc cái chết trên đất nước ta miễn sao đảm
bảo lợi ích và quyền lợi của lầu Năm Góc. Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng tương
quan “vì…phải” như một mệnh đề, một logic “độc đoán, cuồn điên” của kẻ thù để
chỉ rõ:
“Vì một cuộc hành quân phải huỷ diệt hàng vạn mẫu tây rừng
Vì sự tồn vong của học thuyết màu da phải đầu cơ hàng vạn xác da vàng
- 19 -
Vì Tổng thống phải xích tay hàng vạn người biểu tình nổi loạn”.
Để đạt được mục đích của mình, giặc Mỹ không từ bất cứ một thủ đoạn dã
man nào nhằm đè bẹp, thiêu cháy tinh thần dân tộc trong mỗi người dân Việt Nam
hòng biến chúng ta thành những con người không khối óc, không yêu thương:
“Chúng đánh ta để không tìm được chiều cao
của thân thể, của ước mơ hạnh phúc”
- 20 -
“Lòng ta không yên
Lòng ta đây khắc khoải”
Chính vì thế mà tiếng trống trường không còn “khép ta vào yên tĩnh nữa” và
“màu bảng đen” lại gợi nhớ đến “màu mặt đường”-mặt trận. Nhà thơ Nguyễn Khoa
Điềm thấu hiểu hơn ai hết tâm trạng của những chàng trai cô gái ngồi trên ghế nhà
trường mà lòng đau nỗi mất nước, bới bản thân ông cũng là một trong số họ:
“Có gì đâu chúng con nhìn lên bản đồ Việt Nam
Sao tổ quốc mà chỉ còn nửa nước.
Dẫu địa lý chúng con thường ít thuộc
Nhưng nỗi đau này chúng con nhớ hơn”
Nếu như ở chương “Giặc Mỹ” với giọng thơ đanh thép hùng hồn để lên án
kẻ thù: “Tên Mỹ kia! Mày bị căm ghét đời đời” thì ở “Tuổi trẻ không yên” chúng ta
lại bắt gặp một giọng thơ thầm thì như những lời tâm sự. Vẫn là cánh phượng rơi
“hoài hoài như đếm tuổi” ở chương “Lời chào” nhưng bây giờ nó đã trở thành biểu
tượng của nỗi “đau như máu của tâm hồn tươi trẻ”.
Mặc dù cả một thế hệ tuổi trẻ miền Nam trăn trở, nghĩ suy trước thực tại đau
thương của quê hương, đất nước, muốn thoát khỏi cảnh “khung trời ngang trái”,
nhưng họ vẫn chưa tìm được cho mình hướng đi đúng. Họ đã không ngần ngại khi
thú nhận rằng :
“Sông Hương ơi, sông Hương
Ngươi còn nguồn với bể
Để đi và để đến
Còn ta 25 tuổi
Trôi cạn trên mặt đường”
Trong quá trình “thức nhận” đã có nhiều thanh niên trốn lính, chống lại trật
tự hiện hành của xã hội bằng cách chọn cho mình lối sống Hip-pi, trở thành những
“đàn cừu vọng ngoại”, và cũng không thiếu những thanh niên không tìm ra lẻ sống,
không muốn cầm súng bắn vào đồng bào mình, đã phải tự “huỷ hoại từng đường
gân bắp thịt. Từ màu mắt cho đến nụ cười hồng” của bản thân để rồi “vật vờ như cỏ
nhân ích kỉ, cực đoan. Và bên kia là tiếng nói tuổi trẻ nhận ra chân lý, nhận ra
phương hướng sống sau bao nhiêu dằn vặt, tìm tòi, xuống đường hoà vào dòng thác
đấu tranh của nhân dân. Với giọng thơ khi thủ thỉ tâm sự, khi đầy tính chính luận
sắc bén, Nguyễn Khoa Điềm đã chỉ cho họ thấy rằng, để giành được tự do và hạnh
phúc chỉ có một con đường duy nhất đúng:
“Chỗ đứng chúng ta không phải ở Hoa-Lư
Mà trên con đường ta tìm về dân tộc”
Từ cảm xúc những ngày sống hết mình với cuộc chiến đấu, từ vốn tri thức phong
phú của mình, qua chương thơ “Đất nước”, Nguyễn Khoa Điềm đã cắt nghĩa sâu xa
cho việc tìm về cội nguồn dân tộc. Đó là con đường đúng đắn nhất cho tuổi trẻ đô
thị miền Nam lúc bấy giờ. Đối lập với âm mưu kẻ thù đưa tuổi trẻ rời xa những giá
trị tinh thần thiêng liêng, từ bỏ nhân dân,Nguyễn Khoa Điềm kéo họ về với buổi
- 22 -
ban đầu cha ông dựng nước, với truyền thống nhân hậu, bất khuất, anh dũng, kiên
cường của dân tộc.
Trước và cùng thời với Nguyễn Khoa Điềm đã có không ít nhà thơ viết về chủ đề
quê hương, đất nước. Như Nguyễn Đình Thi tạo nên một hình dáng đất nước với vẻ
đẹp đau thương mà rất đỗi hùng tráng:
“Nước Việt Nam từ máu lửa
Rủ bùn đứng dậy sáng loà”
(Đất nước)
Huy Cận tự hào khám phá thấy một Việt Nam bất khuất mà tài hoa, hiên ngang mà
nhân ái tượng hình trong bóng dáng cha ông:
“S ống vững chải bốn nghìn năm lịch sử
Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa
Trong và thật sáng hai bờ suy tưởng
Sống hiên ngang mà nhân ái chan hoà”
(Đi trên mảnh đất này)
Cũng có lúc đất nước được hình dung như người lính ra trận dày dạn, bền bỉ “hành
quân không mỏi” trong thơ Chính Hữu…
và những hi sinh to lớn của nhân dân trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Cũng
như những nhà thơ trẻ cùng thời, ông đã thể hiện những suy ngẫm của mình về
nhân dân thông qua những trải nghiệm của chính bản thân mình. Tư tưởng “Đất
nước của nhân dân, Đất nước của ca dao thần thoại” là tư tưởng chủ đạo chi phối cả
nội dung và hình thức của chương 5. Chỉ trong mỗi một chương “Đất nước” ông đã
sử dụng tới 61 lần danh từ Đất Nước.
Trở về với nhân dân, với cội nguồn dân tộc là sự lựa chọn đúng đắn nhất.
Chỉ có nhân dân mới làm nên đất nước với truyền thống 4000 năm lịch sử, với
những Sơn Tinh “nhìn ta đăm đăm”, cô Tấm “lừng hương trong qủa thị”, có vua
Hùng với “những ngựa đá xuống đường, những rồng đá bay lên”. Tuổi trẻ tìm về
với dân tộc chính là tìm về với sức mạnh “bốn mươi thế kỉ cùng ra trận”. Trở về cội
nguồn để nhận trách nhiệm của mình trước lịch sử, tuổi trẻ miền Nam không bơ vơ
lạc lõng nữa-họ hoà vào dòng thác cuộn chảy của dân tộc. Trong “ánh lửa cháy
hồng hào mặt đất. Mùa chín tình yêu, mùa chín hận thù” đã nghe vang vang tiếng
hát của tuổi trẻ qua bao trăng trở, dằn vặt, day dứt, băn khoăn nhận đường:
“Ôi sông núi uy nghi ngàn dặm đất
Có nghe tiếng chúng con: xin có mặt
Nguyện làm người xung kích của quê hương
Đây tiếng chúng con, tiếng hát xuống đường”
2.2.2 Tiếng hát xuống đường của tuổi trẻ đô thị miền Nam:
Nếu như nhà thơ Thu Bồn với trường ca “Bài ca chim Chơrao” đã viết tặng
chúng ta những hình ảnh của miền Nam chiến đấu, của con người miền Nam bất
khuất với tình yêu thương dao dạt như nước sông Ba, khí phách anh hùng lẫm liệt
như dãy Trường Sơn hùng vĩ thì Nguyễn Khoa Điềm với trường ca “Mặt đương
khát vọng” đã đưa người đọc nhập cuộc với những ngày tháng sôi sục xuống đường
- 24 -
trên những thành phố ngập tràn tiếng thét và tiếng hát, âm vang tiếng bước chân
mạnh mẽ và thấm máu tuổi trẻ.
Sau quá trình “thức nhận”, tuổi trẻ đô thị miền Nam đã hoà mình vào cuộc
đấu tranh chung của dân tộc. Họ đã biến mặt đường thành mặt trận-một mặt trận mở
- 25 -
Một thế hệ ra trận với hành trang nhân nghĩa, yêu thương, với những ước
mơ, hoài bão lớn lao của tuổi trẻ. Họ đã ra đi để lại sau lưng bao kỉ niệm hỏc trò, để
xả thân vì đất nước.
Trường ca “Mặt đường khát vọng” là thành công mới của Nguyễn Khoa
Điềm sau “Đất ngoại ô”. Bản trường ca này được tổ chức theo kết cấu của bản giao
hưởng – ông đã đem đến cho bạn đọc âm điệu dịu dàng, thắm thiết ở chương “Đất
nước”, âm điệu căng thẳng, dồn nén ở chương “Tuổi trẻ không yên”, âm điệu tưng
bừng náo nức ở chương “Áo trắng và mặt đường” và “Xuống đường”.
Với trách nhiệm của mỗi người cầm bút, không dễ dãi, hời hợt như một vài
người viết về cuộc chiến tranh ở miền Nam, Nguyễn Khoa Điềm đã nói được cái
gay gắt, cái dữ dội, quyết liệt của cuộc sống chiến đấu và những chấn động lớn lao,
những trăn trở không yên trong lòng người. Không né tránh, không dỗi mình bằng
một thứ tô vẽ lãng mạn, nên thơ, ông không sa vào những chi tiết vụng vặt, không
mải miết đi tìm chất thơ ở những chỗ nhẹ nhàng, ông đã hướng thơ mình vào thẳng
hiện thực lớn lao, đề cập đến những vấn đề thực sự có ý nghĩa để kêu gọi, động viên
thanh niên đô thị miền Nam xuống đường.
Chất say, sự liên tưởng phong phú, cách sử dụng ngôn ngữ bạo dạn, phóng
túng vốn là điểm mạnh của “Đất ngoại ô”, lại được Nguyễn Khoa Điềm tiếp tục
phát huy trong “Mặt đường khát vọng”. Nếu như sau mỗi một bài thơ trữ tình ngắn
trong “Đất ngoại ô” nhà thơ chỉ đêm đến cho người đọc một nét lắng lại trong cảm
xúc qua một vài sự kiện, một vài con người, một vài cảm xúc suy nghĩ thì với
trường ca “Mặt đường khát vọng”, ông đã đem đến cho bạn đọc cả một dòng tâm
trạng chuyển đổi, biến thiên quanh một nét chủ đạo, là cả một mạch tư tưởng, cảm
xúc được triển khai cả chiều rộng lẫn chiều sâu trong dạng vận động tiến triển.
Trong “Đêm không ngủ” ở “Đất ngoại ô”, Nguyễn Khoa Điềm có viết về phong
trào đấu tranh của tuổi trẻ học đường chỉ với một cấu tứ từ một sự kiện cụ thể và
ông có hướng tới những vấn đề quá khứ và hiện tại, tuổi trẻ và hiện hình đất nước
nhưng phải đến trường ca “Mặt đường khát vọng”, bộ mặt chung về phong trào đấu
tranh của học sinh sinh viên mới được phản ánh trên một diện rộng. Bởi lẽ, so với