ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ YẾN Phong cách nghệ thuật thơ Hoàng Trung
Thông
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM Hà Nội - 2005
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ MAI HƢƠNG
Phong cách nghệ thuật thơ Hoàng Trung
khái quát đƣợc thể hiện ở nhiều khía cạnh: ở câu chữ, ở đoạn thơ, ở hình ảnh
hoặc hình tƣợng thơ, ở kết cấu chủ đề toàn bài. 60
2.2 XU HƢỚNG CHÍNH LUẬN 64
2.2.1. Cảm hứng lấy tƣ duy làm điểm tựa 65
2.2.2 Triết luận trong thơ Hoàng Trung Thông 68
CHƢƠNG 3 78
MỘT SỐ PHƢƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT THƠ HOÀNG TRUNG THÔNG 78
3.1. Giọng điệu 78
3.1.1. Khái quát về giọng điệu . 78
3.1.2. Đặc sắc trong giọng điệu thơ Hoàng Trung Thông. 79
3.2. Thể thơ 82
3.2.1. Sự thay đổi cấu trúc ngữ pháp của câu thơ. 84
3.3. Hình ảnh, mô típ. 91
3.3.1. Hình ảnh 91
3.3.2. Mô típ: Kẻ thù tàn ác, dã man, hèn hạ và tƣ thế hiên ngang của ngƣời
dân yêu nƣớc. 101
C. PHẦN KẾT LUẬN 105
2
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Hoàng Trung Thông sinh ra trong một gia đình tiểu thƣơng ở Quỳnh
Đôi, Quỳnh Lƣu, Nghệ An. Quê hƣơng ông vốn có truyền thống hiếu học và
cách mạng, nổi danh với nhiều nhà khoa bảng yêu nƣớc. Tiếp thu truyền
thống của quê hƣơng,Hoàng Trung Thông rất chịu khó học và ông cũng tham
Từ vai trò và vị thế nói trên, chúng tôi chọn đề tài: Phong cách nghệ
thuật thơ Hoàng Trung Thông nhằm mục đích tìm hiểu một cách đầy đủ và
toàn diện sự đóng góp của Hoàng Trung Thông cho thơ ca và cố gắng chỉ ra
những dấu hiệu thuộc tính riêng trong nội dung và nghệ thuật của thơ ông, để
khẳng định những phƣơng diện cơ bản nhất, bản chất nhất thuộc phong cách
nghệ thuật thơ Hoàng Trung Thông.
2. Lịch sử vấn đề:
Ngay từ sáng tác đầu tay Bài ca vỡ đất (1948) thơ Hoàng Trung Thông
đã đƣợc dƣ luận quan tâm, đánh giá nồng nhiệt trong cả giới nghiên cứu phê
bình và sáng tác. Sự nghiệp thơ văn Hoàng Trung Thông ngày càng dày dặn
thì các ý kiến đánh giá về thơ ông cũng ngày càng sôi nổi.
Năm 1964 đã có những cuộc trao đổi về vấn đề phong cách thơ Hoàng
Trung Thông. Tác giả Hồ Tuấn Niêm trong bài viết: Hoàng Trung Thông và
“Những cánh buồm”, in trong Tạp chí Văn học số 8 - 1964 đã dành hẳn một
mục bàn về “Vấn đề phong cách của thơ Hoàng Trung Thông”. Tác giả viết
“Với Những cánh buồm - Hoàng Trung Thông đã có một phong cách thơ
chƣa? Vấn đề này đã từng đƣợc đem trao đổi trong một số ít anh chị em làm
4
công tác phê bình văn học. Qua cuộc trao đổi phần đông đều nghiêng về câu
trả lời khẳng định”. [38,tr.22]
Rõ ràng, vấn đề phong cách thơ Hoàng Trung Thông đã đƣợc chú ý và
đƣợc một số nhà phê bình đánh giá từ rất sớm. Hồ Tuấn Niêm cho rằng: “Tôi
nghĩ rằng anh đang tiến dần đến một phong cách thơ chứ chƣa phảỉ đã có một
phong cách hoàn chỉnh… Tuy nhiên, căn cứ vào những bài thành công nhất
trong thơ Hoàng Trung Thông, chúng ta có thể thấy trƣớc dấu hiệu của một
phong cách mới, đó là cái chắc, cái khoẻ đƣợc thể hiện qua những câu thơ
rắn rỏi bình dị nhƣ cách ngôn, tục ngữ ”. [38,tr.23]
Mấy năm sau cũng chính tác giả Hồ Tuấn Niêm lại tiếp tục bàn về phong
kiện, cảnh ngộ của đời sống thực nên thơ anh mang nét dân dã, gần gũi của
một hồn thơ chân chất mộc mạc” [29,tr.91]. Nhận xét trên của Phong Lan
chính là những nhận xét, bình giá về bình diện phong cách thơ Hoàng Trung
Thông mặc dù còn dè dặt, khái quát.
Nhà phê bình văn học Thiếu Mai khi bàn về thơ Hoàng Trung Thông có
viết: “Thơ Hoàng Trung Thông có đặc điểm khá dễ nhận dạng, nghĩa là thơ có
bản sắc, một tiếng thơ khỏe, chắc nịch, nhiều nghĩ suy, và nhìn chung thì ít bị
nồng cay, song không phải là không có những phút giây mà cảm hứng bừng
lên mãnh liệt trong thơ” [30,tr.96]. Bà còn viết: “Nhìn chung suốt cả quá trình
hơn 40 năm sáng tác của Hoàng Trung Thông, quả là khó phân biệt rạch ròi
từng giai đoạn với những đặc điểm rõ rệt. Tuy nhiên, cũng có một vài nhận
xét về đại thể để thấy rõ hơn phong cách thơ anh. Thơ Hoàng Trung Thông
khỏe, gân guốc. Cái khỏe, cái gân guốc ở đây không phải do từng câu từng
chữ mà cả trong suy nghĩ, cảm hứng của nhà thơ. Mặt khác ngƣời ta cũng
thấy thơ anh khô và không phải không ít ngƣời nghĩ rằng vì khỏe nên khô.
6
Tôi không nghĩ vậy. Theo ý tôi, nhiều bài thơ của anh có phần khô là do cảm
xúc chƣa đủ mạnh, chƣa cân bằng với lý chí vốn rất mạnh của anh” [30,tr.99].
Ý kiến của Thiếu Mai cũng góp phần chỉ rõ phong cách thơ Hoàng Trung
Thông trên nhiều bình diện biểu hiện, đồng thời tác giả cũng chỉ ra những hạn
chế của thơ Hoàng Trung Thông.
Nhà thơ Nguyễn Bao cũng có nhận xét về nghệ thuật biểu hiện của thơ
Hoàng Trung Thông: “Cách nói khỏe khoắn, dung dị, hình ảnh mộc mạc chân
chất nhƣng phía sau là những xúc cảm có thật và hết sức chân tình, là bản lĩnh
và tri thức, là tính cách một vùng đất…, tất cả tạo nên một “Hoàng Trung
Thông - thi sĩ” của xứ Nghệ không dễ lẫn lộn, không hề pha trộn với những
phong cách khác” [5,tr.6]
Nhà phê bình, nghiên cứu văn học Phan Ngọc nhận xét: “Hoàng Trung
Thông chỉ là học giả trong các bài nghiên cứu. Còn trong thơ không ai mộc
cho sự nhận biết gƣơng mặt thơ ca của Hoàng Trung Thông. Cũng mong đây
chính là điều đóng góp nhỏ bé của luận văn trong quá trình tiếp cận và giải
mã thơ Hoàng Trung Thông.
3.2. Nhiệm vụ:
Thực hiện đề tài này ngƣời viết có nhiệm vụ tiếp cận, tìm hiểu phân tích
các tác phẩm thơ Hoàng Trung Thông. Mặt khác đề tài còn có nhiệm vụ so
sánh với một số nhà thơ đƣơng thời và không cùng thời với ông để thấy rõ
bản sắc độc đáo của tác giả này. Tức là phong cách nghệ thuật thơ. “Phong
cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm mỹ, chỉ sự thống nhất tƣơng đối ổn
định của hệ thống hình tƣợng, của các phƣơng tiện biểu hiện nghệ thuật, nói
8
lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ,
trong trào lƣu văn học dân tộc”. [59,tr.256 - Tập 2]
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu:
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Hoàng Trung Thông đƣợc nhiều ngƣời biết đến với tƣ cách là một nhà
thơ nhƣng ông còn là cây bút sáng tác văn xuôi, là một dịch giả đồng thời
tham gia nghiên cứu phê bình văn học. Sự nghiệp sáng tác của ông khá đa
dạng phong phú. Do điều kiện thời gian và nhiều điều kiện khác nên chúng tôi
chỉ đi sâu tìm hiểu phong cách nghệ thuật biểu hiện trong thơ của tác giả này.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Chúng tôi xác định phạm vi nghiên cứu của đề tài này là tất cả các tập
thơ của nhà thơ Hoàng Trung Thông. Mặt khác chú ý tiếp cận, giải mã cả hai
địa hạt thể hiện phong cách là: Nội dung tác phẩm và nghệ thuật biểu hiện.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở văn bản nghệ thuật (các tập thơ của Hoàng Trung Thông) tiến
hành thống kê, phân loại một số vấn đề theo định hƣớng, từ đó thâm nhập để
phân tích lý giải về giá trị riêng của thơ Hoàng Trung Thông theo từng khu
10
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1:
NHỮNG CẢM HỨNG LỚN TRONG THƠ HOÀNG TRUNG THÔNG
1.1. Đời sống lao động nông nghiệp:
Hoàng Trung Thông là nhà thơ gắn bó sâu sắc với đời sống nông thôn.
“Tuổi thơ của Hoàng Trung Thông sống ở nông thôn. Những ngày đầu kháng
chiến chống Pháp, môi trƣờng công tác của anh cũng ở nông thôn. Anh gắn
bó mật thiết với cuộc sống nông thôn” [61,tr.285]. Hoàng Trung Thông
không phải là nhà thơ xuất thân từ nông dân nhƣng nhƣ đã từng gắn bó sâu
sắc với đời sống nông thôn. Vì vậy, ngay từ bài thơ đầu tiên, ông đã đứng trên
cƣơng vị ngƣời nông dân kháng chiến mà thể hiện cảm xúc, tình cảm của
mình và càng về sau càng có nhiều bài thành công theo hƣớng đó. Bài ca vỡ
đất đƣợc cất lên từ những ngày đầu kháng chiến, tuy còn đƣợm vẻ thanh bình
của vùng tự do, nhƣng đã trở thành tiếng hát lạc quan của ngƣời nông dân đi
khai hoang để phục vụ tiền tuyến. Trong những ngày đi vào vùng địch hậu,
nhà thơ đã viết Đồng bằng, quê hương chiến đấu. Với tình cảm sôi nổi và
lòng tin sắt đá của những ngƣời nông dân mặc áo lính trở về giải phóng đồng
bằng, giải phóng quê hƣơng. Trong năm đầu của cuộc vận động hợp tác hóa
nông nghiệp (1958) ông viết Thăm lúa, Cho lúa ta lên tới ngang trời. Tƣ thế
của ngƣời nông dân tập thể đƣợc thể hiện qua ý thơ chắc khỏe và dáng thơ
thật phóng khoáng.
Nhờ gắn bó sâu sắc với đời sống nông nghiệp và mỗi chặng đƣờng thơ
ông đều có những sáng tác xoay quanh đời sống nông nghiệp mà ngƣời đọc
cảm nhận rất rõ: Đời sống nông nghiệp là một trong những cảm hứng lớn
trong thơ Hoàng Trung Thông. Và trong cảm hứng này nhà thơ đã thể hiện
khá phong phú các sắc độ, các phƣơng diện của đời sống nông nghiệp.
11
Mừng đƣợc mùa bếp đỏ cơm thơm.”
(Thăm lúa)
Nắng thu vàng tháng tám.
Gió heo may giải đồng.
Bờ tre cò liệng trắng.
Lúa vờn xanh mênh mông
Câu ca tung cánh bổng
Mồ hôi đầm áo manh
Yêu bao nhiêu cuộc sống
Khoẻ nhƣ màu áo xanh.
(Đồng tháng
tám)
Tiếng kẻng bay dồn nhƣ gió vang
Nghe vui sao khúc nhạc xóm làng
Nghìn năm mơ ƣớc giờ trông thấy
Ruộng đất cày chung cấy tập đoàn.
(Trên gác chùa Keo).
Ngƣời cán bộ ở xóm thôn là linh hồn và trụ cột của phong trào. Trong
cuộc sống họ là những ngƣời luôn lo toan tất bật với công việc xóm làng. Họ
ít đƣợc nghỉ ngơi, sống không giờ giấc, khó khăn ở đâu cũng gọi tới, phúc lợi
lại ít đƣợc chia phần. Hoàng Trung Thông đã dựng đƣợc hình ảnh chân thực
13
về anh chủ nhiệm trong thơ. Đến với Anh chủ nhiệm ngƣời đọc không chỉ
thấy cái tƣ thế làm chủ, năng nổ tận tụy trong công việc của ngƣời nông dân
cốt cán:
Có mùa mạ cháy đồng khô cạn
Mƣời bậc nƣớc leo lên ruộng hạn.
Có mùa lúa chín, lụt tràn qua
Lại phải nghiêng đồng hắt nƣớc ra.
béo tròn, mẹ gà ấp ủ đàn con, những chú nghé vui chơi nhảy nhót… Có lúc
suy nghĩ về sự hoà hợp giữa con ngƣời và thiên nhiên đƣợc thể hiện trong
niềm vui lao động, trong cảnh trời nƣớc mênh mông. Cảnh trong bài Đoàn
thuyền đánh cá óng ánh nhƣ một bức tranh sơn mài:
Cá nụ, cá chim, cùng cá đé
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe
Đêm thở sao lùa nƣớc Hạ Long.
(Đoàn thuyền đánh cá)
Hoàng Trung Thông cũng nói về nhịp sống đang lên đó. Hình ảnh
huyện ủy miền núi về họp từ các nơi trong không khí nhộn nhịp, vui vẻ để rồi
lại trở về trong những trách nhiệm khác nhau:
Huyện ủy chia nhau về bản
15
Gấp gấp vó ngựa lên đƣờng
Ngƣời về lũng xa chống hạn
Ngƣời lên biên giới mua lƣơng.
(Huyện ủy miền núi).
Ông nhiệt tình ca ngợi sức sống mới đang đâm chồi nảy lộc trong
phong trào nông thôn hợp tác hóa:
Anh trỏ: Đây ruộng mình hợp tác
Lúa tƣơi vàng nhƣ dáng nhƣ mây
Tôi nói lúa làm chung phải khác
Hạt mẩy bông dài cây sát cây
Mặt trời chiếu má đỏ hây hây
Gió thổi hƣơng đồng sực nức
Đi thăm lúa nhƣ cờ bay trƣớc ngực
Xắn tay lên ta gặt mùa đầu.
(Thăm lúa)
Cày vỡ vai trâu tát thủng gầu.
Hay:
Có đêm nằm nghĩ cảnh gieo neo
Vợ yếu con đông chƣa hết nghèo.
Nhƣng rồi thấy rõ đƣờng đi tới
Nƣớc nổi lo chi bèo chẳng nổi.
17
Lại lao vào việc lòng say sƣa
Hết sớm thôi chiều, nắng lại mƣa.
(Anh chủ nhiệm)
Không phải chỉ Hoàng Trung Thông mới có cảm hứng về đời sống
nông nghiệp. Nhiều nhà thơ khác cũng có cảm hứng này. Trần Hữu Thung
cũng có những câu thơ gắn với đồng ruộng, với chuyện đƣợc mất của mùa
màng:
Gió mƣa chi rứa
Trời hỡi là trời
Lúa ba tháng xểnh mất rồi
Miếng ăn toan đổ vô nồi trật đi.
Trần Hữu Thung cũng là cây bút “nhập cuộc” ( có cách nói trực tiếp
của ngƣời trong cuộc) nên đã nói đƣợc những lời gan ruột của bà con trong
một lối phô diễn tự nhiên. Phải chăng Hoàng Trung Thông và Trần Hữu
Thung đã gặp nhau ở điểm này. Tuy vậy, giữa hai tác giả này vẫn mỗi ngƣời,
mỗi vẻ. Trần Hữu Thung có những câu thơ gắn bó với đồng ruộng nhƣng
nặng về tuyên truyền cách mạng. Còn “Hoàng Trung Thông viết về đất đai
đồng ruộng với bao tình nghĩa chan hoà với đất, gửi vào đất những yêu
thƣơng hy vọng” [61,tr.292]. Có lẽ vì thế mà viết về đời sống nông nghiệp đã
trở thành một nguồn cảm hứng trong thơ ông. có lẽ cũng vì thế mà Hoàng
Trung Thông viết những câu thơ về đất thƣờng sâu sắc hơn những câu thơ
viết về trời.
19
Chợ Cô - sầu
Lất phất mƣa bay
Vai em vàng thắm gánh cam đầy
Đèo cao lũng thấp đƣờng xa nhỉ
Xa mặc đƣờng xa cứ tới đây.
Đoạn cuối kết thúc bài thơ, “ Đoạn bốn buâng khuâng tình tứ:
Chợ Cô - sầu
Lất phất mƣa bay
Đừng sợ đƣờng trơn anh dắt tay
Áo chàm ai nhuộm mà xanh thế
Không rƣợu nhƣng lòng vẫn cứ say.
Cảnh gợi tình và tình thấm vào cảnh. Lời dừng mà ý còn ngân vang”.
[61,tr.297]. Còn đây lại là một buổi họp chợ khác, chợ Pa Kha. Chợ họp sơ
tán giấu trong một rừng cây. Cảnh họp chợ diễn ra ồn ã đầy tiếng nói tiếng
cƣời, hàng hóa với những sắc màu rộn rã tƣơi vui. Tiếng kèn hoà quyện
quyến luyến, lời mời uống rƣợu… vui tƣơi lôi cuốn:
Trăm loại hàng bày ra
Trăm sắc màu giữa chợ,
Cô gái Mèo xúng xính váy hoa
Ngƣời Dao đến, áo quần rực rỡ
Chim cũng theo ngƣời đi
Chó cũng cùng ngƣời đến
20
Tiếng ngựa hí vang trời
Điệu khèn sao quyến luyến!
Chen chúc nhau bên vò rƣợu nhỏ
Bát rƣợu ngô kẻ uống ngƣời mời
(Lũng Cú)
Cần nói thêm rằng, không phải Hoàng Trung Thông chỉ viết về đời
sống nông nghiệp. Ông cũng có viết về công cuộc lao động xây dựng của
ngƣời công nhân nhƣng những bài thơ nhƣ thế vừa ít về số lƣợng vừa không
mấy giá trị, mặc dầu nhà thơ vẫn diễn tả đƣợc nhịp sống hối hả của lao động
xây dựng:
Bên kia mỏ thiếc bắc ngang mây
Goòng nối đuôi nhau chạy suốt ngày
Ta đào lòng đất đào sâu mãi
Đãi đá tìm vàng là ở đây.
Chính vì thế mà nó chƣa thể trở thành một cảm hứng lớn nhƣ khi
Hoàng Trung Thông viết về đời sống lao động nông nghiệp.
Hoàng Trung Thông là một nhà thơ gắn bó sâu sắc với nông thôn. Mỗi
chặng đƣờng thơ ông đều có cảm hứng lớn về đời sống nông nghiệp. Vì thế
mà ông có đƣợc những câu thơ sâu sắc khi viết về đất. Viết về đời sống nông
22
nghiệp Hoàng Trung Thông đã thể hiện đƣợc nhiều sắc độ, phƣơng diện khác
nhau. Ở đó có cả những khó khăn vất vả, có cả những niềm vui phơi phới của
cuộc sống đang lên, có không khí hăng hái lao động và có cả tƣ thế làm chủ
của ngƣời nông dân tập thể. Đó là những đóng góp còn nhỏ bé nhƣng đáng
trân trọng.
1.2 Đời sống chiến đấu:
Hoàng Trung Thông thuộc lớp nhà thơ sinh ra, lớn lên, trƣởng thành
cùng cách mạng. Không khí cách mạng, hiện thực kháng chiến vĩ đại của đất
nƣớc, dân tộc hàng ngày thấm đẫm, ăn sâu vào trong máu thịt của những
ngƣời cầm bút. Có lẽ vì thế có thể nói không có nhà thơ nhà văn nào lại
không viết về công cuộc kháng chiến cứu nƣớc vĩ đại của dân tộc. Hòa vào xu
hƣớng chung đó Hoàng Trung Thông đã thể hiện rõ nét trong những tập thơ
của mình cái hiện thực kháng chiến của đất nƣớc, của đồng bằng chiến đấu.
Căm thù vót sắc
Căm thù khắc sâu.
Ngƣời trƣớc ngã, có ngƣời sau
Chỉ một con đƣờng: Cách mạng.
Đây đồng bằng
Quê hƣơng tháng Tám
Cờ đỏ sao vàng