Phong cách nghệ thuật thơ Vũ Hoàng Chương - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THỊ LAN HƯƠNG

Phong cách nghệ thuật thơ Vũ Hoàng Chương Luận văn Thạc sỹ
Người hướng dẫn khoa học: GS-TS LÊ VĂN LÂN

Hà nội - 2005
2

Chƣơng 2: Con đƣờng thoát ly hiện thực .
2.1.Tìm đến thú say. 34
2.2. Trốn vào tình yêu, tìm thú vui thân xác. 35
2.3. Trở về với quá khứ. 48
Chƣơng 3: Đặc sắc nghệ thuật thơ Vũ Hoàng Chƣơng qua
Thơ say và Mây
3.1. Ngôn ngữ. 62
3.2. Hình ảnh 72
3.3.Thểthơ 80
3.3.1. Các thể thơ 80
3.3.2. Nhịp thơ 81
3.3.3.Vần thơ 85
PHẦNKẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 3
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Mục đích và ý nghĩa của đề tài
Phong trào Thơ mới 1932- 1945 là một hiện tượng văn học lớn nhất của
văn học Việt nam nửa đầu thế kỷ XX. Ra đời trong thời điểm xã hội Việt nam

tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn trở
về với hồn ta cùng Huy Cận”
 
4746.,42 tr
. Đó là toàn bộ tinh thần của Thơ
mới.
Vũ Hoàng Chương (1916 - 1976) cũng không đứng ngoài vòng tinh thần
ấy. Là thành viên của phong trào Thơ mới nhưng tài năng thi ca của ông được
khẳng định giữa lúc trên bầu trời thơ đã vằng vặc những ngôi sao Lưu Trọng
Lư, Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên … Vũ Hoàng Chương xuất
hiện như một ngôi sao lạ, mọc muộn cuối bầu trời thơ, một ngôi sao chao đảo,
mờ ảo và buồn não xung quanh một làn khói hơi men.
Mang hơi thở chung của thời đại, thơ Vũ Hoàng Chương chứa đựng một
tâm trạng cô đơn, buồn nản, chán chường và thoát ly cuộc sống. Tìm hiểu hai
tập thơ Thơ say (1940) và Mây (1943) ta thấy nhà thơ thoát ly cuộc sống bằng
nhiều con đường, trong đó tiêu biểu hơn cả là tìm đến những thú say. Đây là
nét độc đáo mà nhờ đó Vũ Hoàng Chương đã bước ngang hàng cùng với Thế
Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên…trên thi đàn Thơ mới .
Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau nên thơ Vũ Hoàng Chương cho đến
nay chưa được nhìn nhận và đánh giá một cách đúng mức, thậm chí có khi còn
bị lên án mạnh mẽ, quyết liệt. Chính vì vậy mà chưa thấy được những đóng
góp của ông cho Thơ mới. Để đánh giá và khẳng định tài năng, sức sáng tạo
cũng như đóng góp của nhà thơ trong nền văn học dân tộc chúng ta cần xem
xét dựa vào phong cách nghệ thuật của họ. Phong cách biểu hiện những đặc
điểm cá tính sáng tạo của nhà văn, là nhận thức của nhà văn về cuộc sống. Đó
là cách nhìn và sự cảm thụ thẩm mỹ của nhà văn đối với thế giới, là sự tổng
hợp các đặc điểm của hình thức nghệ thuật trong sự thống nhất nội dung. Tìm
hiểu phong cách nghệ thuật của một nhà văn ta không nên nghiên cứu, tách rời
các vấn đề như cuộc đời, thể loại, ngôn ngữ, các mô típ nghệ thuật, tư duy
nghệ thuật… mà nên xem xét chúng trong sự toàn vẹn của thế giới nghệ thuật.

nghiệp những thi hào xưa của Đông Á : cái nghiệp say. Người say đủ thứ: say
rượu, say đàn, say ca, say tình đong đưa. Người lại còn “hơn” cổ nhân những
thú say mới nhập cảng: say thuốc phiện, say nhảy đầm. Bấy nhiêu say sưa đều
nuôi bằng một say sưa khác : say thơ” .
 
352.,42 tr
. 6
Nói như vậy cái say trong thơ Vũ Hoàng Chương trước hết chịu ảnh
hưởng của các nhà thơ thế hệ trước. Chỉ có điều đến Vũ Hoàng Chương thú
say đó được phát triển phong phú đa dạng nhiều màu sắc hơn. Ông say những
thú say đời thường như say rượư , say đàn , say ca và cả những thú say hiện
đại: say thuốc phiện và nhảy đầm. Say nhiều như thế nhưng không phải là huỷ
hoại tâm hồn, tài năng của mình mà khơi nguồn bồi đắp cho một thú say khác :
say thơ.
Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan lại cho rằng “ Cái say của thơ ông (Vũ
Hoàng Chương) là cái say phát ra ở điệu thơ, ở nghệ thuật hơn là tính tình ông
thổ lộ”
 
134.,37 tr
. Vũ Hoàng Chương quả là nhà thơ có tài trong việc chọn chữ,
tạo âm điệu. Nhưng không vì thế mà thơ ông mất đi sự rung động thành thực.
Chính sự rung cảm trước cuộc đời là cái gốc phát ra điệu thơ ông. Bí quyết của
Vũ Hoàng Chương nằm ngay trong khối óc và những mất mát thăng trầm trong
cuộc đời nhà thơ. Lời nhận định của nhà phê bình Đỗ Lai Thuý trong cuốn Con
mắt thơ giúp chúng ta hiểu thêm điều đó:
"Cái say đã làm cho thơ Vũ Hoàng Chương chân thực và sâu sắc hơn.
Nhà thơ đã nắm bắt và thể hiện đời sống trong tính toàn vẹn của nó. Cuộc

130129.,18 tr

Như vậy thơ Vũ Hoàng Chương có sự kết hợp cái hư ảo của phương Đông
với cái thực, cái đời thường, cái hiện đại của phương Tây. Đó chính là cái mới
của thơ Vũ Hoàng Chương.
Với một cái nhìn tổng thể và khách quan hơn, Ngô Văn Phú trong lời giới
thiệu Thơ say - NXB Hội nhà văn 1993 đã nhận định: “ Thơ Vũ Hoàng
Chương lấy cái Tôi làm chủ thể, lấy cảm giác nhập thần vào những phút giây
mình là mình nhất mà viết …Vũ Hoàng Chương dẫn Thơ mới vào cõi sâu xa cá
tính. Thơ Vũ Hoàng Chương không hề bí hiểm nhưng Vũ chẳng giống ai trước
mình và những người sau cũng chẳng ai bắt trước nổi. Vũ tạo nhạc, tạo tranh
trong thơ, Vũ chọn từ cho từng câu đắc ý, Vũ đắm hồn vào những trang thơ mà
Vũ cho đó mới thật đáng gọi là thơ…”. Đó chính là tinh thần thơ Vũ Hoàng
Chương. Đó cũng chính là phong cách thơ Vũ Hoàng Chương.
Nhìn chung hầu hết các ý kiến trên đều đã tương đối thống nhất khi chỉ ra
những đặc điểm cơ bản của hồn thơ Vũ Hoàng Chương: thơ ông mang một nỗi
buồn nản, chán chường. Để giải toả tâm trạng ấy nhà thơ đã tìm đến thú say để
ca ngợi và nâng thú say thành thi hứng. Và sự kết hợp một cách hài hoà giữa
Cổ - Kim, Đông - Tây đã tạo nên trong thơ Vũ Hoàng Chương một nét rất
riêng, rất đặc sắc. 8
Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó thì chưa đủ để hình dung một cách toàn diện
về phong cách nghệ thuật thơ Vũ Hoàng Chương. Việc xác định phong cách
của một nhà văn không phải là xem nhà văn ấy có những đặc sắc gì về nội
dung tư tưởng cũng như hình thức nghệ thuật mà phải phát hiện ra tính chất
độc đáo trong sự kết hợp những nét đặc sắc ấy. Bởi vì phong cách nghệ thuật
trước hết phải là sự thống nhất, toàn vẹn của các yếu tố tạo nên tác phẩm.
Chính vì vậy để hiểu và đánh giá một cách đầy đủ và khách quan về phong

5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tư liệu tham khảo, phần nội dung gồm ba
chương :
Chương 1:Vũ Hoàng Chương - một cái Tôi cô đơn , buồn nản ,
chán chường nhất trong Thơ mới
Chương 2: Con đường thoát ly hiện thực .
Chương 3: Đặc sắc nghệ thuật thơ Vũ Hoàng Chương qua
Thơ say và Mây 10 PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1

được nghệ thuật hoá. Tuy nhiên trong thơ ta không nên tách rời cái Tôi - nhà
thơ với cái Tôi - trữ tình. Nhà thơ không đồng nhất với cái Tôi - trữ tình
nhưng hoàn toàn thống nhất. Đi vào nghệ thuật, cái Tôi được nâng cao, được
trình bày với những màu sắc phong phú hơn, nhưng cơ bản vẫn là tâm hồn ấy,
con người ấy. Con người ấy, tâm hồn ấy là cơ sở trực tiếp sáng tạo nên thi ca.
Nếu có sự khác biệt ở mức độ này hay mức độ khác giữa cái Tôi - nhà thơ với
cái Tôi - trữ tình thì không có nghĩa là nhà thơ đã giả dối với chính mình và
người đọc. Nhà thơ Chế Lan Viên khi chưa có dịp lên Tây Bắc nhưng lại viết
rất hay về Tây Bắc (bài thơ: Tiếng hát con tàu) ; Minh Huệ chưa một lần được
gặp Bác nhưng lại viết rất hay, rất cảm động về Người ( bài thơ Đêm nay Bác
không ngủ ). Tương tự như vậy bài Con tàu say của Rembô - nhà thơ Pháp
cũng được viết khi tác giả chưa đi biển. Có người viết rất nhiều về tình yêu
nhưng mình lại chưa bao giờ được hạnh phúc. Có người sống giữa mọi người
lại luôn luôn cảm thấy cô đơn sầu tủi… Đó chính là do tâm hồn phong phú,
giàu tưởng tượng, biến hoá đã làm cho thơ lung linh đầy màu sắc. Nhà thơ đã
biến cái Tôi của mình thành cái Tôi nghệ thuật .
1.1.2.Vài nét về cái Tôi trữ tình trong thơ trung đại
Quá trình sáng tác thơ ca về một phương diện nào đó là quá trình chủ quan
hoá, trong đó cái Tôi trữ tình đóng dấu ấn chủ thể vào trong mọi hiện tượng
qua một sự lựa chọn, một cái nhìn, một nội dung cảm nghĩ. Khả năng biến cái
chung thành cái riêng càng lớn thì tiếng nói thơ ca ngày càng phong phú. Tuy
nhiên không phải thơ ca thời đại nào cũng làm được điều đó. 12
Thời trung đại, trong thơ ca nhà nho có “cái Tôi đơn nhất” (Chữ dùng của
Trần Nho Thìn), tức là cái Tôi không xuất hiện trong một mối liên hệ cụ thể,
trực tiếp nào với hoàn cảnh sống hay với môi trường hoạt động. Bên cạnh đó
cũng có cái Tôi đang trầm tư suy nghĩ, cũng có thể là đang hoạt động, đang
thực hiện mối quan hệ giao tiếp với môi trường xung quanh. Nhưng môi

không được bộc lộ, bản lĩnh con người bị bóp nghẹt, “tất cả những gì thuộc về
cá nhân bị bỏ rọ”(Chữ dùng của Huy Cận), bị nhào nặn theo những mô hình,
công thức bất di bất dịch. Văn thơ trung đại với những ràng buộc khắt khe đã
khiến con người không có điều kiện để bộc lộ, giãi bày cảm xúc, tình cảm thực
của mình . Điều đó đã kìm hãm sự sáng tạo của thơ văn, làm cho thơ cũ gần
như khô nhựa trong luồng ngâm vịnh rất sáo mòn cả về nội dung và hình thức.
Giữa lúc đó (đầu thế kỷ XX) Tản Đà xuất hiện với một bản lĩnh độc đáo đã
“dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hoà nhạc tân kì đương sắp sửa”
 
12.,42 tr
. Ông là người dọn đường cho Thơ mới ra đời.
1.1.3. Cái Tôi trữ tình trong Thơ mới
Sự ra đời của Thơ mới không phải là ngẫu nhiên mà đó là kết quả của
sự vận động và phát triển của văn hoá dân tộc trải qua bao chặng khai phá và
tìm kiếm. Một thế hệ nghệ sĩ mới xuất hiện mang trong mình cả một hệ thống
quan niệm thẩm mỹ mới với những phạm trù nghệ thuật mới. Từ đó Thơ mới
đã mở ra nhiều chân trời, nhiều tâm trạng, nhiều sắc thái mới, làm thay đổi cả
quan niệm về nhiều điều xưa nay vốn đã được định hình trong đời sống dân
tộc. Trước hết là quan niệm về con người và thế giới. Nhà nghiên cứu Lê Đình
Kỵ đã nhận định: “Cảm hứng sáng tạo gắn liền với cá nhân tự ý thức, tự khẳng
định đưa đến một bước ngoặt quyết định trong lịch sử thơ ca Việt Nam phát
triển theo hướng hiện đại. Thơ mới là thơ của cái Tôi”
 
46.,28 tr
. Hoài Thanh,
Hoài Chân cũng gọi thời đại của Thơ mới là “Thời đại chữ Tôi” “ với cái
nghĩa tuyệt đối của nó”. Trong Thi nhân Việt Nam Hoài Thanh, Hoài Chân
viết: “Xã hội Việt Nam từ xưa không có cá nhân, chỉ có đoàn thể: lớn thì quốc
gia, nhỏ thì gia đình. Còn cá nhân, cái bản sắc cá nhân chìm đắm trong gia
đình, hoà tan trong quốc gia như giọt nước trong biển cả”. Điều đó làm cho

chung bế tắc trong sự đối lập với thực tại. Các nhà Thơ mới thu mình về trong
vỏ cá nhân với nỗi buồn uỷ mị, chán chường. Mỗi nhà thơ tự xây cho mình
một thế giới riêng biệt, một hòn đảo chơi vơi:
Ta là một, là riêng, là thứ nhất
Không có chi bè bạn nổi cùng ta
( Xuân Diệu – Hi Mã Lạp Sơn) 15
Một thế giới hoàn toàn tách biệt với đời thường. Mọi sợi dây tình cảm,
mọi liên hệ với những vấn đề trung tâm của cuộc sống đều bị cắt đứt. Đấy là vì
nhà thơ tự ràng buộc, tự ngăn cách mình với cuộc sống chứ đâu phải cuộc đời
phụ bạc với nhà thơ :
Hồn đơn như chiếc đảo rời dặm biển
Suốt một đời như núi đứng riêng tây.
(Huy Cận).
Xưa các nhà thơ trung đại luôn vươn tới sự hài hoà giữa con người với
thiên nhiên, với cuộc sống. Tuy cái Tôi trung đại chưa có môi trường xã hội để
hoạt động nhưng nó cũng chưa có nhu cầu bức bách để tự bộc lộ mình như một
cá thể tách khỏi xã hội. Nay cái Tôi ấy không còn nữa. Giờ là thời của cái Tôi
cô đơn, buồn nản, chán chường. Và mỗi cái Tôi tự tìm thấy cho mình một lối
thoát, một hoài vọng vào quá khứ, tôn giáo, hay vào những thế giới siêu hình.
Nhưng càng tìm càng lạc lối, càng thất vọng, cái Tôi lại càng cô đơn, bế tắc.
Thế Lữ thoát lên tiên, say sưa du hồn mình và dẫn dắt người đọc vào cảnh tiên
nga, mỹ ngọc vang dội lung linh. Nhưng tất cả chỉ như một làn gió lạnh đưa lại
một ít nguôi quên, làm một thứ giải toả cho tâm hồn giữa vòng vây của biết
bao lệ sầu ngang trái. Tiếng sáo thiên thai dội vào lòng nhà thơ một nỗi buồn
hiu hắt của cái Tôi cô đơn :
Ánh xuân lướt cỏ xuân tươi
Bên rừng thổi sáo một hai kim đồng

(Mưa… mưa mãi)
Lưu Trọng Lư đi giữa cuộc đời và trong mơ mộng như “Con nai vàng
ngơ ngác”. Nhưng cuộc đời với những sự thật phũ phàng khiến ông nhiều lúc
“Giật mình ta thấy mồ hôi lạnh / Mộng đẹp bên chăn đã biến rồi”. Giật mình -
tỉnh mộng nhưng vẫn không tìm được hướng đi để rồi sau phút giật mình ấy
nhà thơ lại chìm vào nỗi sầu trong mộng tưởng .
Xuân Diệu được coi là người phát ngôn đầy đủ nhất cho tư tưởng cá nhân
của phong trào Thơ mới. Đọc thơ ông ta thấy một cái Tôi trữ tình nặng trĩu nỗi
buồn cho dù ông là con người khát khao sự sống nhất trong các nhà Thơ mới.
Xuân Diệu buồn khi nhìn ra rặng liễu đứng đìu hiu, buồn khi chiều buông lưới, 17
buồn khi thu đến, xuân về…Ta bắt gặp trong thơ ông nỗi buồn chung của cả
một thế hệ về nhân tình thế thái cùng những cám cảnh thương tâm của những
phận thi sĩ nghèo và bức tranh toàn cảnh ngột ngạt tù đọng không lối thoát của
xã hội đương thời :
Chúng ta nay trong cuộc sống ao tù
Đốt điếu thuốc chiêu hồn sương quá khứ
(Mơ xưa)
Thi sĩ khư khư ôm trong mình nỗi “ sầu đơn vạn kiếp”, thu mình lại trong
thế giới “ riêng tây”. Nhiều lúc nhà thơ tự gọi mình là “chàng sầu”, có lúc ông
lại hoá thân vào con nai, con chim không tổ, núi non, hoặc người kỹ nữ. Cùng
ngơ ngơ ngác ngác giữa đời nhưng “con nai vàng” của Lưu Trọng Lư còn
bước đi để lại tiếng xào xạc còn “con nai chiều” của Xuân Diệu không thể cất
nổi bước vì bị bủa vây trong “lưới chiều” :
Tôi là con nai bị chiều đánh lưới
Không biết đi đâu, đứng sầu bóng tối
( Khi chiều giăng lưới)
Cùng ra đời với Thơ mới trong cảnh nước mất nhà tan, trong một xã hội

Vũ Hoàng Chương xuất hiện với một cái Tôi lồ lộ trong không gian
bao la của bầu trời Thơ mới. Thơ say và Mây của ông chất chứa cả một khối
sầu bởi nó xuất phát từ những nét thăng trầm, những mất mát trong chính cuộc
đời của nhà thơ. Bởi thế cái buồn trong thơ ông mang một âm hưởng rất riêng,
rất Vũ Hoàng Chương. Đó là nỗi buồn của một trái tim đa sầu đa cảm và tràn
ngập yêu thương. Nỗi sầu ấy xuất phát từ những nguyên nhân sau.
1.2.1. Cô đơn , buồn nản, chán chƣờng bởi cảm giác lạc loài
Như trên đã nói, cái Tôi Thơ mới ngay từ khi mới ra đời đã rơi vào
tình trạng bơ vơ, lạc lõng không lối thoát. Mặc cảm lạc loài đã khiến các nhà
thơ lo sợ, hốt hoảng trốn tránh cuộc đời, nhưng càng lẩn tránh càng tuyệt vọng,
càng bế tắc. Bao trùm lên thơ Vũ Hoàng Chương là một khối sầu cao ngất. Và
gắn liền với khối sầu ấy là cảm hứng cô đơn lạc loài của một cá nhân luôn
muốn tự khẳng định mình. Sống giữa cuộc đời mà thi sĩ luôn cảm thấy vô
nghĩa tầm thường, con người không thể hoà đồng với hiện tại. Thi sĩ đã tự biến 19
mình thành kẻ cô đơn xa lạ với hiện thực, đứng ngoài cuộc sống. Tâm trạng cô
đơn của Vũ Hoàng Chương phản ánh sự thiếu vắng một ý thức cộng đồng, xa
lạ và chủ quan trong nhận thức xã hội và thời đại :
Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ
Một đôi người u uất nỗi chơ vơ
Đời kiêu bạt không dung hồn giản dị
Thuyền ơi thuyền xin nghé bến hoang sơ
( Phương xa )
Cô đơn, lạc loài khiến cho nhà thơ cảm thấy xa lạ với đời, với chính mình,
với cả quê hương giống nòi. Mặc cảm “bị quê hương ruồng bỏ giống nòi
khinh” đã khiến nhà thơ nghi ngờ vào chính sự xuất thân của mình : “Lũ
chúng ta lạc loài dăm bảy đứa”, “Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ”. Không
biết bấu víu vào đâu , như chiếc thuyền giữa biển khơi mịt mùng, thi sĩ chỉ còn

ra thi thố với đời. Ta bắt gặp trong thơ ông cái Tôi nơi Nguyễn Công Trứ hay
Cao Bá Quát. Nhưng cái Tôi của Vũ Hoàng Chương lạc lõng hơn, bơ vơ hơn,
vì thế khối sầu của ông u uất, chồng chất và sừng sững hơn giữa cuộc đời :
Cánh rượu thu gần vạn dậm khơi
Nẻo say hư thực bóng muôn đời
Ai đem xáo trộn sầu kim cổ?
Trăng nước Đà Giang mộng Liêu Trai
( Đà Giang )
Cùng với thơ của Thế Lữ, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc
Tử, Vũ Hoàng Chương đóng góp những vần thơ thấm đẫm những giọt nước
mắt cô đơn, sầu tủi :
Cha mẹ mất đi lạnh hương khói,
Một chị một em sầu má hồng,
Khuya sớm cô đơn giọt lệ tủi,
Ấu thơ đã trêu gì hoá công?
( Đời còn chi )
Như chú chim non lạc mẹ Vũ Hoàng Chương kêu gào, cầu cứu trong sự
tuyệt vọng. Nhưng không gian thì rộng quá, lòng người thì thờ ơ, lạnh nhạt biết 21
tìm đâu chốn dung thân, nhà thơ chỉ biết nương tựa vào chính mình. Nương tựa
vào mình ư ? Điều đó là không thể bởi Vũ Hoàng Chương đang nghi ngờ về sự
xuất thân, về sự tồn tại của mình thì làm sao mà vượt qua được. Sự giằng co
giữa một bên là sự cô đơn lạc lõng, một bên là ước muốn hoà nhập với cuộc
đời đã đẩy thi sĩ vào tâm trạng bế tắc không lối thoát. Tâm trạng này được thể
hiện rõ nét trong Đời tàn ngõ hẹp và Tuý hậu cuồng ngâm.
Mở đầu bài thơ Đời tàn ngõ hẹp là nỗi buồn nản chán chường của nhân
vật trữ tình sau một giấc mộng dài tỉnh dậy bỗng chợt nhận ra ngày đã ngả
sang chiều và cuộc đời cũng theo đó mà khép lại:

Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen lá đá chen hoa
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà
Các thi sĩ Thơ mới cũng viết nhiều về mô típ này. Đó là một chiều “ hiu
hiu khẽ buồn” của Xuân Diệu hay một chiều cô tịch của Huy Cận :
Chiều lại xuống ở trên lầu cô tịch
Chờ thi nhân đã chết tự ngàn xưa
Còn chiều trong Đời tàn ngõ hẹp là chiều tàn tạ bức bối trong một không
gian chật hẹp bỗng chốc bị nứt vỡ trong tiếng than khắc khoải, chua chát, xót
xa :
Ôi ! ta đã làm chi đời ta?
Ai đã làm chi lòng ta
Cho đời tàn tạ lòng băng giá
Sương mong manh quạnh chớm thu già
Đây không phải là buổi chiều buồn duy nhất trong Thơ say và Mây mà
những chiều như thế cứ trở đi trở lại trong ông như một nỗi ám ảnh :
Nhìn quanh : chiều xám với tha ma!
Vắng tanh! Ôi chiều, nơi tha ma !
Nhưng đâu đây ai khóc gần hay xa
Mà thảm thiết ? Hay thu vừa nức nở ?
( Bạc tình ) 23
Trong cái không khí đang sợ ấy thi sĩ đã tạo nên một khúc nhạc buồn tê tái
đáng thương:
Chập chờn kim ốc giai nhân…
Gió lạnh đưa vèo
Khoa danh trên gối rụng tàn theo !

Lều nát hề chơ vơ, ngõ mưa lầm lội
Trăng lạnh đèn mờ, hồn đơn hề le lói;
Đọc truyện cổ nhân hề lòng ta quặn đau.
Gió bụi xôn xao hề thương vay người sau
Có biết bao nhà văn, nhà thơ đã đề cập đến vấn đề cơm áo nhưng chỉ đến
Vũ Hoàng Chương vấn đề ấy mới được nâng lên thành nỗi niềm suy tư, trăn
trở về thân phận con người. Vì thế những vần thơ của ông mới não nuột u uất
cấu xé tâm can người đọc.
Suy tư trăn trở nhiều lắm nhưng thi sĩ đành bất lực bó tay trước thời cuộc
và không thể làm gì hơn thế bởi nhân tình thế thái trớ trêu đã kìm hãm tài năng
của những kẻ có tài. Buông xuôi thi sĩ cầu cứu “ai mách giùm ta với!”. Nhưng
càng kêu cứu thì nỗi đau càng cồn cào da diết như con nước lãng mạng đang lê
mình trong dòng khô cạn, như con thuyền lênh đênh giữa sóng cao gió cả, như
chiếc lá úa sắp sửa rời cành, như đám mây tím chiều tà còn thoi thóp trong
bóng hoàng hôn :
Ôi đường gai góc là bao hề sóng cồn mặt bể!
Thương cho tay lái non hề con thuyền lao đao,
Tiếc cho cơ hội muộn hề chặt gai được sao!
Lá úa cành khô, thu đông hề nối gót,
Chếnh choáng giang san hề còn say hát ngao
Mây hồng tím phương tây hề tà huy thoi thóp
Đời sắp tàn trăng hề bấc lu dầu hao?
Đây không phải là sự nổi loạn của cái Tôi trong nỗi bất lực, buông xuôi
phó mặc cho số phận như ở bài Phương xa mà ở đây con người cá thể đã dám
tự khẳng định mình. Chỉ tiếc rằng cái Tôi ấy không thể hoà đồng vào cuộc

Trích đoạn Ngôn ngữ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status