ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ PHƢƠNG DUNG PHONG CÁCH
THƠ VƢƠNG TRỌNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số : 602234
Hướng dẫn khoa học: GS.TS Mã Giang Lân Hà Nội – 2010 2
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 10
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
4. Phương pháp nghiên cứu 14
5. Cấu trúc luận văn 15
PHẦN NỘI DUNG 16
học ở trường làng, mình đã mê thơ, đặc biệt là Truyện Kiều. Năm học lớp 6
mình đã thuộc toàn bộ Truyện Kiều. Tuy chưa phải "thần đồng thơ" nhưng
năng khiếu thơ ca đã sớm nảy nở ở tâm hồn Vương Trọng, nhất là ông lại
sống cạnh người anh trai Vương Đình Trâm - một giáo viên dạy văn thích làm
thơ và mê Kiều. Hồi kháng chiến chống Pháp, làng Đông Bích lại được chọn
làm nơi đặt trụ sở của Hội Văn nghệ cứu quốc liên khu IV. Vương Trọng có
may mắn không chỉ được biết mặt, biết tên nhiều văn nghệ sĩ nổi tiếng của đất
nước như: Thanh Tịnh, Hoài Thanh, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư mà còn
được các nhà thơ truyền cảm hứng thưởng thức và sáng tạo văn chương.
Những áng thơ văn của các văn nghệ sĩ ấy đã ngân rung, thấm nhuần và trở
thành mạch nguồn nuôi dưỡng hồn thơ Vương Trọng.
Học phổ thông, được cử đi thi học sinh giỏi toàn quốc môn Văn nhưng
Vương Trọng lại lựa chọn thi vào Tổng hợp Toán. Dẫu vậy, cái nợ văn
chương vẫn đeo đẳng nhà thơ. Những năm tháng ngồi trên giảng đường Đại
học là những năm tháng mà cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra vô cùng
ác liệt. Theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, năm 1964, Vương Trọng rời
giảng đường Đại học để bước vào cuộc chiến đấu hào hùng của dân tộc. Từ
một sinh viên, Vương Trọng đã sống cuộc đời của một người lính. Lăn lộn
trên khắp các chiến trường từ núi rừng Trường Sơn đến Trường Sa, Côn Đảo,
từ biên cương, hải đảo đến các vùng đất địa đầu Tổ quốc, từ Nam ra Bắc, từ
4
đất mũi Cà Mau đến Cao Bằng, Bắc Cạn, Hà Giang… không đâu không có
dấu chân hăm hở, nhiệt tình của người lính - nhà thơ. Đi nhiều, thấy nhiều,
vốn sống của nhà thơ ngày thêm phong phú. Giai đoạn cống hiến nhiều nhất
sức trẻ cho kháng chiến cũng là giai đoạn mà hồn thơ tài hoa Vương Trọng đã
thực sự khẳng định được tên tuổi của mình với chùm 3 bài thơ đoạt giải: "Bài
thơ nằm võng", "Hội vật quê tôi", "Hoa trẩu".
Sau chiến tranh, trở về là một giáo viên dạy Toán của Trường Văn hóa
Bộ Quốc phòng, Vương Trọng được cử đi học lớp sáng tác của Hội Nhà văn
3. "Đảo chìm": giải thưởng Bộ Quốc phòng (1994)
4. "Mèo đi câu": giải thưởng Văn học thiếu nhi Hội Nhà văn (1996).
Vương Trọng là một nhà thơ đa cảm, có trái tim nhân hậu, bao dung.
Giữa dòng văn học nhiều ngả rẽ, ông đã lựa chọn cho mình một lối đi riêng.
Bên cạnh những trang thơ sôi nổi viết về người lính, Vương Trọng lầm lũi trở
về với cuộc sống thường nhật, với những mảnh đời bất hạnh, những số phận
éo le, những tâm trạng bộn bề với nhiều nỗi đau nhân tình thế thái. Ở mảng
thơ thế sự, thơ Vương Trọng đằm thắm lạ lùng. Ông tâm sự: "Tôi yêu Đỗ Phủ
hơn Lý Bạch, yêu Nguyễn Du hơn Hồ Xuân Hương, bởi Đỗ Phủ, Nguyễn Du
ngoài tài thơ ra còn có trái tim lớn đau nỗi đau của những cuộc đời bất hạnh.
Thơ sinh ra không phải để người đời chơi chữ, mà cốt để chuyển tải nỗi lòng.
Bài thơ hay nhiều khi không thấy thơ đâu mà chỉ thấy cuộc đời, tâm trạng và
số phận"(37). Lời bộc bạch chân thành và tâm huyết cô đúc hành trình gần
trọn đời thơ Vương Trọng - đó là thơ của những "cuộc đời bất hạnh", mảng
thơ thế sự đã trở thành một "mỏ quặng đích thực" của thơ ông. Ở mảng thơ
này, có rất nhiều bài thơ có sức lan tỏa và sức sống thực sự bền lâu trong trái
6
tim người đọc bởi nó đã đi vào từng góc khuất tâm hồn để viết lên những suy
nghĩ đâu dễ sẻ chia.
Thực tế hiện nay, thơ văn đương đại Việt Nam đã và đang xuất hiện
nhiều xu hướng "cách tân quyết liệt". Nhiều nhà thơ, nhất là các nhà thơ trẻ
luôn khát khao một sự tìm tòi đổi mới về cả nội dung, hình thức thì Vương
Trọng vẫn trung thành với quan niệm sáng tác của mình và với thơ ca truyền
thống bởi theo ông đó là tinh hoa đã được chắt lọc và khẳng định từ ngàn
năm. Điều đặc biệt, những trang thơ ra đời từ cái tạng thơ phương Đông ấy
vẫn chiếm được cảm tình của số đông độc giả .Điều này khẳng định độ chín
với những bản sắc riêng trong thơ Vương Trọng.
Vì những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “ phong cách
thơ Vương Trọng” , cố gắng khảo sát , tìm hiểu để tìm ra những nét đặc sắc
pháp, với thế giới quan, với bút pháp, với cá nhân người nghệ sĩ về thời đại,
với vẻ đặc thù dân tộc trong sáng tác của anh ta… Phong cách là sự thống
nhất cao nhất của tất cả những phạm trù đó”.Turbin thì lí giải phong cách
theo kiểu ngôn ngữ học, xem phong cách như một hình tượng chủ yếu, thậm
chí hoàn toàn có tính chất ngôn ngữ. Ông viết: “Phong cách- đó là ngôn ngữ
được xét trong mối quan hệ của nó với hình tượng , đó là tác động qua lại,
thường xuyên giữa những khái niệm và những ý tưởng nảy sinh trong ngôn từ
vốn đặt vào một văn cảnh nghệ thuật”.Khác Turbin, V.Đnepvov nhấn mạnh
sự thống nhất giữa các yếu tố nội dung và hình thức của phong cách. Ông cho
rằng hình tượng phong cách là sự tổng hợp, là hệ thống các phương tiện miêu
tả và biểu đạt, hay nói một cách khác, phong cách được coi như là một hình
thức toàn vẹn có tính chất nội dung, “phong cách là mối liên hệ của những
hình thức mối liên hệ đó và bộc lộ sự thống nhất của nội dung nghệ thuật”.Ya
Elxberg phát biểu: “ phong cách biểu hiện sự toàn vẹn của hình thức có nội
dung được hình thành trong sự phát triển, trong sự tác động qua lại và trong
sự tổng hợp các yếu tố của hình thức nghệ thuật dưới ảnh hưởng của đối
8
tượng và nội dung tác phẩm, của thế giới quan nhà văn và phương pháp của
anh ta vốn thống nhất với thế giới quan…Phong cách - đó là sự thống trị của
hình thức nghệ thuật, là sức mạnh tổ chức của nó”. Như vậy phong cách của
nhà văn là khái niệm cơ bản của thi pháp.
Ở Việt Nam, vấn đề phong cách nghệ thuật cũng được rất nhiều người
quan tâm. Nhà nghiên cứu Phan Ngọc cho rằng: “Phong cách là một cấu trúc
hữu cơ có tất cả các kiểu lựa chọn tiêu biểu, hình thành một cách lịch sử và
chứa đựng một giá trị lịch sử, có thể cho phép ta nhận diện một thời đại, một
thể loại, một tác phẩm hay một tác giả”. Nhà thơ Hoàng Trung Thông thì
khẳng định: “Phong cách và cá tính của nhà văn không phải một cái gì khó
hiểu. Đó là biểu hiện khác nhau của mỗi nhà văn trong khi xây dựng chủ đề
nhân vật, trong khi vận dụng hình tượng nghệ thuật và ngôn ngữ văn học.
Trong văn học cũng vậy, có nhiều cái dở đến “ độc đáo” , gàn dở thì độc đáo
ấy gọi là “quái gở”, chứ không thể gọi là phong cách. Vì thế phong cách phải
mang tính thẩm mỹ. Phẩm chất thẩm mỹ ở đây không chỉ đơn thuần mang
tính kĩ xảo hình thức mà phải có sự thống nhất giữa nội dung và hình thức,
giữa cái phản ánh và cái được phản ánh . “Phong cách tuyệt nhiên không phải
là kỹ xảo, không phải là chiếc áo khoác. Nếu ví con người là nghệ thuật thì
phong cách là da trên cơ thể con người”.
Vậy chúng ta sẽ tìm hiểu phong cách của một nhà văn từ đâu? Sách
“Từ điển thuật ngữ văn học”(10): “Không phải bất cứ nhà văn nào cũng có
phong cách. Chỉ những nhà văn có tài năng, có bản lĩnh mới có được phong
cách riêng độc đáo. Cái nét riêng ấy được thể hiện ở các tác phẩm và được
lặp đi lặp lại ở các tác phẩm của nhà văn, làm cho ta có thể nhận ra sự khác
nhau… Trong chỉnh thể “nhà văn”, cái riêng tạo nên sự thống nhất lặp lại ấy
biểu hiện tập trung ở cách cảm nhận độc đáo về thế giới và ở hệ thống bút
10
phỏp ngh thut phự hp vi cỏch cm nhn y. Vy l thc cht, phong
cỏch biu hin trong sut quỏ trỡnh hat ng sỏng to ca nh vn. Yu t
lp i lp li c coi nh mt cỏ tớnh, s thớch, nhu cu, v cao hn l
nguyờn tc t chc hỡnh thc ca tỏc phm. Núi n phong cỏch ca nh vn
trc ht phi núi n h thng hỡnh tng nhõn vt m nh vn ú xõy dng
nờn. Bi vỡ thc cht ca phong cỏch mt phn c bn chớnh l ch nh vn
sỏng to ra c h thng hỡnh tng, k c hỡnh tng ngụn ng ca riờng
mỡnh, ngha l nh vn phi sỏng to ra kiu cm th v phn ỏnh ngh thut
ca riờng mỡnh. Phong cỏch toỏt lờn t h thng ngh thut ton vn ngha l
c trng ca phong cỏch khụng phi yu t riờng l ny hay yu t riờng l
khỏc, do ú, vic tỡm hiu phong cỏch ch cú th t c kt qu kh quan
khi chỳng ta t cỏc yu t cu thnh phong cỏch trong mi tng tỏc to
thnh mt chnh th thng nht. T tng, ch , hỡnh tng, ngụn ng, th
loi, mụtip v cui cựng l cỏ tớnh nh vn ó cú tỏc dng quyt nh ti s
Hăm hở và lăn lộn trên khắp các nẻo đ-ờng Tổ quốc, đến đâu, V-ơng Trọng
cũng tìm thấy nguồn mạch dồi dào, phong phú cho thơ mình. "Đi, đọc, viết là
ba khâu đ-ợc anh phối hợp khá nhịp nhàng. Trong anh, sôi nổi và thâm trầm
một nhà thơ, mẫn cán và cần cù nhà báo". Chất liệu thực tế đ-ợc chắt chiu từ
cuộc sống nhuần nhuyễn trong tâm hồn nhạy cảm của nhà thơ đã tạo nên một
V-ơng Trọng đa thanh. Tuy vậy "cuộc đời, con ng-ời, số phận" trong thơ ông
theo sự chuyển mình của thời đại cũng đã có sự vận động và biến đổi. Trên cơ
sở những cố gắng tìm tôi, đổi mới của đề tài thơ V-ơng Trọng, chúng tôi mạnh
dạn tìm hiểu thơ ông ở hai mảng chủ đạo: mảng thơ trận mạc và mảng thơ thế
sự để có đ-ợc cái nhìn toàn diện và sự đánh giá chính xác nhất về thơ ông. 12
2. Lịch sử vấn đề
Vương Trọng là một nhà thơ mặc áo lính. Ông nổi tiếng trước hết với
những vần thơ trận mạc: Lạc quan, tin tưởng vào chiến thắng là giọng điệu
chung của thơ ca chống Mỹ. Đương thời, Xuân Diệu, Hoài Thanh rất thích bài
thơ này – Bài thơ nằm võng, đặc biệt hai câu thơ:
"Nằm võng thấy cây rừng chao động
Tán lá như sàng các vì sao".
(Bài thơ nằm võng)
Cái nhìn ngộ nghĩnh, thú vị và rất mơ mộng, lãng mạn của chàng lính
trẻ trong khói bom lửa đạn đã tạo nên sức sống cho bài thơ và tên tuổi Vương
Trọng.
Tuy nhiên, phải đến sau này, khi nhà thơ phát hiện ra "mỏ quặng đích
thực của thơ mình" là mảng thơ thế sự thì sự nổi tiếng và sức lan thấm của
những vần thơ ấy mới tạo được chú ý của các nhà phê bình và báo giới.
dư âm trong lòng, thường là nỗi day dứt hay sự băn khoăn về một câu
chuyện trái ngang nào đó. Từ đó, Ts Nguyễn Thanh Tú khẳng định: "Hình
như với anh, không có một trường phái, một chủ nghĩa nào. Thơ anh là thơ
dành cho số đông bạn đọc đang cầm súng, cầm cày, cầm búa ".
Bên cạnh những bài viết có giá trị ghi nhận những đóng góp to lớn của
thơ Vương Trọng với nền thơ ca Việt Nam hiện đại, còn có rất nhiều các bài
phỏng vấn, nói chuyện của nhà thơ Vương Trọng được đăng tải trên các
phương tiện thông tin đại chúng. Qua các cuộc trò chuyện chân thành và cởi
mở của Vương Trọng, Văn Châu thấy ở Vương Trọng sự "hóm hỉnh, dí dỏm
của người lính, sự sâu sắc, thâm trầm đậm chất triết lý của ông đồ Nghệ",
còn Nguyễn Xuân Hải thấy ở Vương Trọng "dáng vẻ thầy đồ" và thơ Vương
Trọng là thứ thơ "tải đạo giúp đời"
14
Như vậy, tuy chưa có một công trình nào thực sự lớn viết về thơ Vương
Trọng, nhưng qua những bài nằm rải rác trên các mặt báo, các tác giả đã có sự
ghi nhận với những đóng góp to lớn của nhà thơ trên nhiều phương diện đối
với thơ ca hiện đại Việt Nam. Trên cơ sở đó, đã có một số sinh viên mạnh dạn
lựa chọn thơ Vương Trọng làm đề tài nghiên cứu khoa học hay khóa luận tốt
nghiệp của mình.
Đề tài nghiên cứu đầu tiên về thơ Vương Trọng là của sinh viên
Nguyễn Thị Thanh Nhung , Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn với tiêu
đề: "Vƣơng Trọng - một hồn thơ nhân ái". Ở đề tài này, tác giả Nguyễn
Thị Thanh Nhung đã tiếp cận thơ Vương Trọng và bước đầu nhận thấy giá trị
nhân đạo trong tư tưởng nghệ thuật của nhà thơ.
Công trình nghiên cứu lớn hơn là khóa luận tốt nghiệp: "Số phận con
ngƣời thời hậu chiến trong thơ Vƣơng Trọng" của sinh viên Dương Thị
Hường, Đại học Khoa học xã hội - Nhân văn.Ở khóa luận này, Dương Thị
Hường tập trung khai thác xoáy sâu vào số phận, cuộc đời, tâm sự của những
con người thời hậu chiến trong thơ Vương Trọng như hình ảnh người mẹ chờ
đáo có tính chất khu biệt, định danh nhưng mới chỉ dừng lại ở từng mảng đề
tài, hay ở bài thơ, tập thơ. Với lòng yêu mến, đồng cảm tiếng thơ Vương
Trọng, người viết bài này mong muốn đi suốt đời thơ Vương Trọng để khái
quát lên một "phong cách thơ Vương Trọng", giúp người đọc nhận diện một
gương mặt "thi sĩ có tài trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại"(38.)
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Thơ Vương Trọng
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Các tập thơ của Vương Trọng
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
16
Ở luận văn này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp cơ bản sau:
4.1. Phương pháp hệ thống
Sáng tạo thơ ca là một hình thức lao động "khổ hạnh". Nhà thơ là "phu
chữ". Mỗi bài thơ, tập thơ ra đời, đánh dấu sự hoàn tất một quá trình miệt mài
lao động và sự trưởng thành của từng ngòi bút. Đặt trong một hệ thống sẽ
giúp chúng ta có được một cái nhìn toàn diện, đầy đủ, chính xác từ đó có
được những nhận định thỏa đáng khi đánh giá một phong cách thơ.
4.2. Phương pháp thống kê
Phương pháp này giúp chúng ta có thể tìm tòi, phát hiện ra những dấu
hiệu đặc trưng của nhà thơ, đặc biệt trên phương diện nghệ thuật (ngôn ngữ,
hình ảnh, biểu tượng ) từ đó, góp phần phát hiện ra những sở trường, thế
mạnh của nhà thơ.
4.3. Phương pháp lịch sử
Văn học là sự phản ánh con người và thời đại một cách chân thực nhất.
Sử dụng phương pháp này, chúng tôi có thể thấy được sự tìm tòi, đổi mới, sự
trưởng thành của nhà thơ Vương Trọng qua từng chặng đường sáng tác của
riêng ông trong tương quan với các chặng thơ của thơ ca đương thời.
18
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1: VƢƠNG TRỌNG - NHÀ THƠ TRẬN MẠC, NHÀ THƠ
CÔNG DÂN.
1.1. Thơ ca chống Mỹ và những đóng góp của nhà thơ Vương Trọng.
“Thơ là sự phản ánh con người và thời đại một cách cao đẹp”(11).
Qua thơ văn, độc giả không chỉ chiêm ngưỡng vẻ đẹp tâm hồn, chiều sâu tư
Huy Cận - người đi “lượm lặt những chút buồn rơi rác để rồi sáng tạo nên
những vần thơ ảo não” giai đoạn trước cách mạng, thời kì này ông đóng góp
cho thơ chống Mỹ liên tục nhiều tập thơ có giá trị : Đất nở hoa , Bài thơ
cuộc đời, Hai bàn tay em,…
Bên cạnh các nhà thơ “lão thành” là các nhà thơ trưởng thành từ giai
đoạn kháng chiến chống Pháp, trong những năm hòa bình, xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc như Chính Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nông Quốc
Chấn, Hoàng Trung Thông, … Và đặc biệt, thơ ca chống Mỹ “tươi trẻ”, khỏe
khoắn hơn với sự xuất hiện ngoạn mục của thế hệ các nhà thơ trẻ với nhiều
tên tuổi: Phạm Tiến Duật, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Duy, Nguyễn Khoa
Điềm, Dương Hương Ly, Thanh Thảo So với đội ngũ nhà thơ chống Pháp
thì các nhà thơ trẻ thời chống Mỹ đã tạo ra cho thế hệ mình một phong cách
riêng: trẻ trung, năng nổ, xông xáo, nhiệt huyết và luôn phơi phới niềm hân
hoan và niềm tin tất thắng.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ là cuộc chiến tranh toàn dân, chiến tranh
vệ quốc vĩ đại của dân tộc. Đáp ứng nhiệm vụ xây dựng pháo đài tâm hồn dân
tộc, làm sáng tỏ mục đích cao cả của cuộc chiến đấu, tác động vào tình cảm,
20
nâng cao năng lực và ý chí chiến đấu bất khuất giành chiến thắng, thơ ca thời
kỳ này biểu hiện sâu sắc lòng yêu nước, lòng tự hào về truyền thống, về thắng
lợi hiện tại và niềm tin vào tương lai. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng là nội
dung chủ yếu , là cảm hứng chủ đạo được thơ khai thác và biểu hiện với nhiều
sắc thái khác nhau. Thơ ca thời kỳ này xoáy sâu vào đề tài Tổ Quốc, vào cuộc
chiến đấu xây dựng và bảo vệ đất nước. Nằm chung trong mạch nguồn sôi nổi
ấy, tiếng thơ Vương Trọng thời kỳ này đã hòa vào dàn đồng ca chung ngợi ca
đất nước , bộc lộ niềm tin tưởng , lạc quan vào chiến đấu và chiến thắng của
dân tộc, thể hiện sức mạnh của tuổi trẻ, chất lính trẻ trung, tếu táo của một
nhà thơ mặc áo lính.
1.2. Cảm hứng về con ngƣời trong chiến tranh và thời kỳ hậu chiến
Không trở mình suốt đêm không mỏi
Nằm ngoài trời mà nắng sương không tới
Bởi cây rừng biết chiều ý ta”
(Bài thơ nằm võng)
“Bài thơ nằm võng” là một trong những tác phẩm đầu tay của Vương
Trọng, đó là bài thơ đạt giải báo Văn nghệ năm 1969 – 1970. Bài thơ ra đời
năm 1969, năm khốc liệt nhất, khó khăn nhất của của cuộc kháng chiến chống
Mỹ. Cả nước hừng hực khí thế “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”.
Trên khắp nẻo đường Tổ quốc, từ nông thôn đến thành thị, từ miền xuôi đến
miền ngược, từ Nam ra Bắc đâu đâu cũng một tinh thần “xẻ dọc Trường Sơn
đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai”( Tố Hữu) . Nằm trong mạch
nguồn ấy, “Bài thơ nằm võng” là khúc hát mê say, lạc quan, tin tưởng. Ở đó
hình ảnh người lính hiện lên thật thi vị, lãng mạn. Sau những trận đánh hay
22
lúc hành quân mệt mỏi, tạm dừng chân trú quân trong rừng rậm, cánh võng
trở thành nơi lý tưởng nhất để ngả lưng.
“Nằm võng thấy cây rừng chao động
Tán lá như sàng các vì sao”
Bầu trời nhìn qua cánh rừng trong đôi mắt người lính thật lấp lánh: “Tán lá
như sàng các vì sao”. Sự liên tưởng, tưởng tượng phong phú, thú vị có lẽ chỉ
bắt gặp trong tâm hồn mơ mộng, lãng mạn của những chàng lính trẻ yêu đời,
hồn nhiên, trong trẻo. Tuy nhiên, “Bài thơ nằm võng” không chỉ đẹp bởi tâm
hồn trẻ trung, mộng mơ của người lính, bài thơ đẹp còn bởi ở đó, người đọc
bắt gặp lý tưởng sống, lý tưởng cách mạng cao cả của họ. Nằm võng suốt
đêm, không có gối, không trở mình sao mà không mỏi, nằm võng ngoài trời
sao mà nắng sương không tới, không thấm vào da thịt? Đó không chỉ là cách
nói mà còn là cách sống, là lý tưởng sống của họ. Phải ở nơi tận cùng của khó
khăn, nguy hiểm, phải đứng ở ranh giới của sự sống và cái chết, phải chứng
kiến sự ra đi của những người đồng đội hôm qua còn sát cánh bên mình, hôm
hiếm hoi và vẻ đẹp tâm hồn lãng mạn, mộng mơ; “Chiến hào ra trận” ầm
ầm bom nổ, tiếng súng đạn rít gầm. Cả bài thơ là một cuộc rượt đuổi nguy
hiểm thách thức, một trận tàn sát giữa trên đầu là máy bay địch lồng lộn quần
đảo, phía dưới là những đoàn xe vật lộn kiên cường tải hàng ra trận. Cái chết
rình rập, hiện hình từ phía kẻ thù bất cứ lúc nào. Tuyến đường ra trận đầy
hiểm họa
“Bom nổ gần nổ xa
Đạn cày ngang cày dọc
Đất tung lên bám vào đầu vào mặt
Đất tung lên lấp đầy mui xe.”
( Chiến hào ra trận)
24
Những khó khăn, nguy hiểm, thách thức đã trở nên nhỏ bé trước sức chiến
đấu phi thường của người lính, sức mạnh nội lực được hội tụ bởi sức mạnh
thời đại và dân tộc:
“Ấy là khi
Mắt người lái xe bốc lửa
Sáng hơn ánh chớp đạn bom
Bắp tay cuộn tròn
Lái xe như chở chiến hào ra trận”
( Chiến hào ra trận)
Ở “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật, người
lính hiện lên có cái đáng yêu, cái say sưa, khinh thường nguy hiểm mà không
có chút gì phiêu lưu mạo hiểm. Họ ngang nhiên, xông xáo, xe vỡ hết cả kính
vẫn cứ đi, đi vì nhiệm vụ:
“Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi.