Đại học quốc gia hà nội
Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn
Mai Thị Ngọc Hoa
Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi
và những vấn đề lý luận tiểu thuyết sử thi Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn
Chuyên ngành:Văn học Việt Nam
Mã số: 5.04.33
2.2. Kết cấu trong tiểu thuyết Vỡ bờ 28
Chương 3: 59
Sự kết hợp sự kiện và nhân vật trong tiểu thuyết - sử thi
3.1. Sự kết hợp các tuyến sự kiện và tuyến nhân vật 62
3.2. Phân tích một số nhân vật cụ thể trong mối quan hệ với 65
sự kiện lịch sử
Chương 4: 83
Sự kết hợp giữa sử thi và tâm lý
4.1. Sự kết hợp các yếu tố sử thi và tâm lý trong tiểu thuyết 85
Chiến tranh và hoà bình của L.Tolstôi
4.2. Nghệ thuật miêu tả tâm lý của Nguyễn Du và Nam Cao 90
4.3. Sự kết hợp sử thi và tâm lý trong tiểu thuyết Vỡ bờ của 95
Nguyễn Đình Thi
Kết luận 100
Thư mục tham khảo 104 1
Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài.
Văn học Việt Nam nói chung và tiểu thuyết Việt Nam hiện đại nói
riêng, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đạt được những thành tựu lớn về mặt
nội dung và nghệ thuật, phản ánh chân thực và sinh động sự nghiệp Cách
mạng vĩ đại của dân tộc.
Lần đầu tiên từ những năm 60, chúng ta có những bộ tiểu thuyết
nhiều tập, mang cảm hứng và qui mô sử thi, những bức tranh nghệ thuật
hoành tráng xứng đáng với tầm vóc của dân tộc trong thời đại mới. Đó là
những bộ tiểu thuyết - sử thi như Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi, Cửa biển của
Nguyên Hồng, Vùng Trời của Hữu Mai, Dòng sông phẳng lặng của Tô
Nhuận Vĩ Luận văn này muốn nêu lên một số vấn đề lý luận của loại hình
nước và giữ nước, bảo vệ Tổ Quốc. Vì vậy, cảm hứng sử thi đã trở thành cảm
hứng chủ đạo của văn học hiện đại. Nhiều đội ngũ nhà văn, nhà thơ có tư
tưởng mới đã trưởng thành từ đây. Họ vừa là những nhân chứng của lịch sử,
trực tiếp cầm súng tham gia cuộc kháng chiến, vừa là “thư ký” trung thành
ghi lại một chặng đường đã qua. Vì vậy văn học thời kỳ này đã đạt được
những thành tựu đáng kể cả về mặt nội dung tư tưởng và hình thức nghệ
thuật, có sự đóng góp to lớn cho cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và nền
văn học nước nhà thêm phong phú. Đặc biệt phải kể đến từ những năm 60,
tiểu thuyết đã có một tiếng nói đặc biệt, có một sự đổi mới sâu sắc cả về nội
dung thể tài và các nguyên tắc xây dựng hình thức thể loại. Năm 1960 là năm
kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng, 15 năm nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
và cũng là năm bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. ở Miền Nam đồng
khởi nổi lên mạnh mẽ ở khắp các vùng nông thôn rộng lớn. Những năm 60
cũng chính là những năm văn học mang cảm hứng sử thi. Đồng thời xuất
3
hiện hàng loạt hồi ký cách mạng như “Trong xà lim án chém”<của Phạm
Hùng và Lê Văn Lương> Một cấu trúc thể loại mới mẻ chưa từng có trong
lịch sử phát triển tiểu thuyết Việt Nam đã ra đời với đặc trưng của loại hình
tiểu thuyết - sử thi. Thể loại đã hình thành do yêu cầu của thời đại phải đáp
ứng những nhiệm vụ nặng nề mà vinh quang. Tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn
này đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của nó.
Tiểu thuyết Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi là một minh chứng.
Bộ tiểu thuyết từ khi ra đời tuy có những ý kiến khác nhau nhưng nhìn chung
đã được bạn đọc đón nhận nhiệt tình và được nhiều nhà nghiên cứu phê bình
đánh giá cao, mang nhiều sức thuyết phục. Đây được coi là bộ tiểu thuyết -
sử thi. Một bộ tiểu thuyết có qui mô lớn với sự kết hợp những kiểu tổ chức
nghệ thuật của tác phẩm, từ kết cấu, các tuyến chủ đề, cốt truyện cho đến việc
xây dựng các tuyến nhân vật. Bằng vốn sống và sự tích luỹ kinh nghiệm hơn
hai chục năm ròng Nguyễn Đình Thi cho ra đời “đứa con ”tinh thần dài hơn
của “biển cả nhân dân ” “tức nước vỡ bờ ”.
Vỡ bờ gồm hai tập, mỗi tập cách nhau tám năm <1962 - 1970>
cho nên dư luận đánh giá tập sách cũng tập trung vào hai thời điểm trên. Bộ
tiểu thuyết đạt được những thành tựu đáng kể, và khi mới ra đời đã có những
bài viết, bài nghiên cứu phê bình về bộ tiểu thuyết này, xuất hiện trên các Tạp
chí Văn học, Tạp chí Cộng sản, Văn nghệ Quân đội, qua nhiều bài báo khác
nhau Phong Lê “Chung quanh vấn đề Vỡ bờ”, Nguyễn Văn Hạnh “Vỡ bờ
và nghệ thuật tiểu thuyết” của Nguyễn Đình Thi, Hà Minh Đức “Vỡ bờ một
thành công mới” của Nguyễn Đình Thi, Vũ Ngọc Phan <<Vỡ bờ>> <quyển
một> của Nguyễn Đình Thi, Phan Cự Đệ “Tiểu thuyết Vỡ bờ” của Nguyễn
Đình Thi mỗi nhà phê bình đều có cách đánh giá, nhìn nhận theo quan điểm
riêng của mình nhưng nhìn chung khen hơn là chê. Bởi điều mà Nguyễn
5
Đình Thi đạt được chính là quan điểm đánh giá, nhận thức đúng đắn, sâu sắc
một thời kỳ lịch sử. Sức mạnh của tiểu thuyết Vỡ bờ chính là tác giả đã có
một ngòi bút thấm đẫm tình cảm yêu thương, trong sáng và những lý tưởng
đẹp đẽ, cao quí, một trình độ tổng hợp và khái quát tài hoa, thông minh.
Chính tư chất đó đã tạo đà cho Nguyễn Đình Thi trong việc tổ chức kết cấu
tác phẩm, cốt truyện hiện đại không đi theo lối truyền thống, nhiều chủ đề
phức tạp, nhiều tuyến nhân vật đan xen nhau Một điều chúng ta không thể
phủ nhận là tác giả có ý thức học hỏi kinh nghiệm của các nhà tiểu thuyết lớn
đặc biệt là Lep.Tônxtôi tác giả của bộ sử thi nổi tiếng “ Chiến tranh và hoà
bình”.
Chu Nga đã đánh giá sự thành công trong tiểu thuyết Vỡ bờ ở
chỗ, Vỡ bờ hầu như là cuốn tiểu thuyết đầu tiên đã xây dựng được một hình
ảnh chân thực và tương đối hoàn chỉnh về người Đảng viên cộng sản, đó là
Khắc. “Khắc chỉ là một Đảng viên bình thường, nhưng trước con mắt chúng
ta, anh hiện lên như một mẫu người lý tưởng. Con người ấy sắt đá trước kẻ
thù, thà chết chứ không khi nào chịu đầu hàng khuất phục. Nhưng cũng chính
Phượng may cờ, thậm chí Phượng giác ngộ Cách mạng cũng không sao, bởi
không hiếm những con em tư sản, địa chủ đã đi theo cách mạng nhưng
Phượng với những tính cách như trên, có thể đi theo Cách mạng được không?
Hay nói sát hơn, một cô Phượng như vậy đã có thể trang bị cho mình những gì
để đi theo Cách mạng ? ”<16>. Phải chăng Nguyễn Đình Thi miêu tả Phượng
bằng tất cả tình cảm, yêu mến của mình, chính điều đó mà hình tượng Phượng
lại làm cho người đọc khó chịu. “Một con người vô dụng, quen ăn bám, sống
một cuộc sống vô vị, mang một nhân sinh quan rất “lắm vấn đề ”một cô
nương ”“phè phỡn” đang chán ứ lên trong cảnh sống trưởng giả, như cách nói
của Lê Nin, thử hỏi có gì khiến cho tác giả băn khoăn nhiều đến thế. Nhân vật
7
đó có ý nghĩa gì? Tác giả đấu tranh cho cái gì ở họ? ”<16, tr173>. Nguyễn
Đình Thi giới thiệu cho bạn đọc “một cô Phượng đáng thương hơn là đáng
giận” <Nguyễn Văn Hạnh>. Riêng Phượng, người ta chưa thể hình dung
Phượng muốn đổi một cuộc đời như thế nào, và có khả năng đổi được không,
trong khi Phượng chẳng có một “vốn liếng” gì cả, ngoài sắc đẹp, ngoài khả
năng ăn chơi, đầu cơ, và những ham muốn hưởng thụ của đời sống tư sản.
Những cô gái như thế có lẽ chỉ có khả năng may cờ và mặc quần áo đẹp. Mà
cách mạng thì không phải như thế <Phong Lê>. Đối với nhân vật Phượng còn
có nhiều ý kiến bàn luận nữa, nhưng trong khuôn khổ của bài viết này người
viết chỉ đưa ra những ý kiến nổi bật hơn cả.
Vỡ bờ đã phản ánh một hiện thực khá rộng lớn của xã hội Việt
Nam trước Cách mạng tháng tám 1945. Thời kỳ chiến tranh thế giới bùng nổ,
Pháp thua trận, Nhật đến chiếm đóng Đông Dương, nhân dân ta phải ở dưới
hai ách thống trị, Cách mạng do Đảng lãnh đạo âm ỉ rồi bùng cháy trong quần
chúng. Sự đè nén áp bức cũng chỉ đến độ và cảnh “tức nước vỡ bờ ”đã diễn ra.
Nhiều tầng lớp người đã được khắc hoạ trong Vỡ bờ, các thành phố lớn, nhỏ là
nơi các nhân vật hoạt động đi về. Các nhân vật hiện lên sinh động, có cá tính
và nhất là những diễn biến trong quá trình phát triển nội tâm của nhân vật. Vỡ
- Sự kết hợp giữa các yếu tố sử thi và tâm lý
4. Phương pháp nghiên cứu.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ nghiên cứu trên, luận văn vận dụng một
số phương pháp nghiên cứu như sau:
4.1. Phương pháp phân tích tổng hợp - nhằm nghiên cứu một
cách khái quát từ chi tiết cụ thể đến tổng hợp giúp cho việc nghiên cứu có sức
thuyết phục cao.
9
4.2. Phương pháp loại hình <loại hình sử thi, loại hình tiểu
thuyết - sử thi, và loại hình tiểu thuyết nói chung >.
5. Cấu trúc luận văn.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của luận văn được triển
khai trong 4 chương.
Chương 1:
Một số vấn đề lý luận về thể loại sử thi và tiểu thuyết sử thi.
Chương 2:
Kết cấu Vỡ bờ và những vấn đề về tiểu thuyết - sử thi hiện đại. Chương 3:
Sự kết hợp giữa sự kiện và nhân vật trong tiểu thuyết - sử thi.
Chương 4:
Sự kết hợp giữa sử thi và tâm lý.
Kết luận.
Thư mục tham khảo.
nó đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền văn hoá dân tộc: Ramayana,
Mahabharata, Illiade, Odyssée, Đam san, Xinh nhã là những tác phẩm
thuộc các nền văn học khác nhau nhưng dường như chúng có những tiêu
điểm chung là đều đem đến cho bạn đọc những lý tưởng tốt đẹp, xứng đáng
là những tác phẩm được lưu truyền mãi mãi không bị mai một theo thời gian.
Ra đời từ một thế giới “khởi nguyên‟‟, một thế giới tốt đẹp, thế
giới “ban mai”, đặc biệt là một thế giới mang tính cộng đồng và ý thức cộng
đồng sâu sắc, đoàn kết muôn người như một là động lực mạnh mẽ tạo ra một
sức mạnh phi thường để hướng tới một cuộc sống cao đẹp. Mỗi cá nhân đều
có ý thức, trách nhiệm hoà đồng vớí mục đích chung của cộng đồng.
Sử thi được chia làm hai loại: sử thi cổ sơ và sử thi cổ đại. Thời
đại của sử thi cổ sơ là thời đại chưa có giai cấp và đối kháng giai cấp. Sử thi
Ê Đê ra đời trước khi hình thành nhà nước chiếm hữu nô lệ. Còn sử thi cổ đại
ra đời sau khi hình thành nhà nước: “Sự liên kết thành nhà nước của các bộ
tộc là một nhân tố quyết định của sự phát triển của sử thi. Chính yếu tố nhà
nước này trong tuyệt đại đa số tác phẩm, qui định sự khác nhau giữa sử thi cổ
sơ và sử thi cổ đại‟‟. Vấn đề này ta thấy rõ trong sử thi ấn Độ. Xã hội trong
Mahabharata có sự mâu thuẫn lớn giữa “dân chủ bộ lạc và chiếm hữu nô lệ,
mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp bao gồm mâu thuẫn các dòng họ và các cá
nhân”<4, tr577>. Những mâu thuẫn trên, là nguyên nhân của chiến tranh.
Chiến tranh làm nhiệm vụ “bà đỡ của lịch sử”, thống nhất lực lượng đưa cộng
đồng thành bộ lạc đến bộ tộc và liên minh bộ tộc dần dần đến dân tộc. Vậy
chiến tranh chính là đề tài của sử thi. Bởi nó mang những xung đột dữ dội từ
xã hội đến tư tưởng tình cảm con người. Mỗi dân tộc, mỗi đất nước đều mang
những sắc thái dân tộc khác nhau. Tuy nhiên điều khác biệt ở sử thi ấn Độ
khi miêu tả chiến tranh là nhằm phục vụ cho tư tưởng “phi bạo lực”<4, tr
12
577>. Sự tàn sát thảm hại của chiến tranh cho người ta bài học về tự kìm chế,
phẫn nộ và căm thù. Mọi sự kiện, mọi vấn đề phong tục, nghi lễ, các tầng lớp
sống trong tinh thần cộng đồng hoà hợp theo tinh thần đoàn kết, bình đẳng
thương yêu nhau và đặc biệt là chưa hình thành nhà nước. Bên cạnh đó sử thi
ấn Độ ra đời khi ấn Độ đã hình thành nhà nước, có trình độ văn hoá phát triển
cao, có nhiều ngành nghề như luyện kim, trong xây dựng đã biết chế biến đá,
gỗ và gạch ngói, biết chế biến nhiều loại thuốc trong đó có cả loại thuốc ướp
được xác chết có nghĩa là tình hình công nghiệp, thủ công nghiệp, nội ngoại
thương phát triển cao.
Những đặc trưng trên đã chi phối toàn bộ các phương diện, các
thành tố của cấu trúc xã hội và ý thức xã hội. Khi đó con người chưa có ý
thức tách khỏi cộng đồng của nó cả trong sinh hoạt thực tiễn lẫn trong ý thức.
“Cá nhân mang trong mình một phân số nào đó của lực lượng thể chất của
tập thể, và đồng thời lại có được tất cả những hiểu biết, tất cả sức mạnh tinh
thần của tập thể”. Thời kỳ có sự thống nhất giữa cá nhân và cộng đồng, sự
thống nhất trong cơ cấu cộng đồng được phản ánh trong ý thức, và làm thành
sự thống nhất nội tại của tâm lý, và tính cách con người .
Theo Bielinxki, anh hùng ca chỉ xuất hiện trong thời đại chưa có
sự phân rã của đời sống thành những yếu tố biệt lập. Phải có sự gắn kết giữa
cá nhân và cộng đồng cả trong cách cảm, cách nghĩ và trong hành động. Sự
thống nhất này chính là đặc trưng tiêu biểu của đời sống cổ đại. Thậm chí nó
còn nằm ở nhiều mặt, xét cả ở chiều sâu <trong tâm hồn con người>, chiều
rộng <qui mô cộng đồng, tập thể > cả chiều dài <giữa quá khứ và hiện tại>.
Đó chính là cơ sở tâm lý và xã hội cho sự hình thành, sự tồn tại và sức tác
động mãnh liệt của những cảm hứng lịch sử, và cảm hứng nhân dân vốn là
linh hồn của sử thi cổ đại.
14
1.2. Sự giống nhau và khác nhau giữa sử thi và tiểu thuyết - sử
thi.
Tiểu thuyết ra đời cách xa với sử thi, vì vậy cuộc sống được miêu
tả trong tiểu thuyết hướng đến cuộc sống bình thường hàng ngày của quần
và độc giả. Vì thế thời đại của tiểu thuyết cách xa với thời đại của sử thi, đó
là thời đại của chủ nghĩa hiện thực, một thời đại mà khoa học chiếm vị trí
quan trọng trong đời sống, nó không còn là thế giới của thần bí, siêu hình.
Trước đây con người nằm trong sự thống nhất trực tiếp với cộng đồng, thì giờ
đây con người được tách riêng với tư cách là một cá nhân. Con người làm
chủ bản thân mình theo nghĩa chung của nó, không còn lệ thuộc vào bất cứ sự
hoang đường hay viễn tưởng nào cả. Nó không còn là khát vọng, là ước mơ
mà nó đã trở thành hiện thực .
Tiểu thuyết và sử thi là sản phẩm của những thời đại khác nhau.
Sử thi tuyệt đối hoá quá khứ, phân cách nó với hiện tại bằng “khoảng cách sử
thi tuyệt đối ”. Sử thi kể những gì ngược trở lại với thời gian, một quá khứ
tuyệt đối” vốn đã hoàn tất, và khép kín cả trong tổng thể cũng như ở từng bộ
phận của nó. Vì thế bộ phận nào cũng có thể có được bố cục và trình bày như
một chỉnh thể. ở trong đó diễn ra các sự kiện quan trọng có ý nghĩa lớn đối
với toàn thể cộng đồng. Trong đó họ xây dựng nhân vật anh hùng có thể là
một tù trưởng, người đứng đầu một bộ tộc, một buôn làng và tập trung tất cả
những mặt tốt đẹp, sức mạnh của cả cộng đồng. Theo quan niệm của tác giả
sử thi, đó là tổ tiên của cộng đồng. Sử thi không dành chỗ cho hiện tại, nó
quan tâm đến những cái đã hình thành, cái hoàn thiện, có nghĩa cái đã thuộc
về phạm trù quá khứ. “Sử thi không tranh luận mà nó khẳng định, sử thi
không gợi ý, nó khuyến cáo, không đề nghị suy nghĩ mà đòi hỏi thừa nhận ;
không giả định mà mặc nhiên tự coi là đã giải quyết trọn vẹn, một lần cho
16
mãi mãi ”<8>. <<Ký ức chứ không phải nhận thức là sức mạnh là năng lực
sáng tạo cơ bản của văn học cổ đại truyền thống về quá khứ là thiêng liêng.
Không thể nào lại có ý thức về tính tương đối của bất kỳ quá khứ nào hết” sử
thi tuyệt đối hoá quá khứ, nó bị tách rời hiện tại “nó bị phân cách bằng một
ranh giới tuyệt đối với tất cả những cái hiện đại kế tiếp và trước hết là với
hiện đại của ca sỹ và thính giả của nó; cái ranh giới đó nằm trong bản chất
mang sức mạnh tinh thần, sức mạnh thể chất lớn lao chưa từng có. Là con
người của sự hoàn thiện hoàn mĩ, phẩm giá của nó ở tất cả các mặt, sức mạnh
cũng như tài năng, đạo đức cũng như ngoại hình đều tương xứng với vị trí
hiển quí của nó. Ngược lại với sử thi cổ đại, tiểu thuyết - sử thi có khả năng
xây dựng một kết cấu ngôn ngữ đa thanh, bởi trong tiểu thuyết nói chung và
tiểu thuyết - sử thi nói riêng, các nhân vật trong tác phẩm có những thế giới
quan và nhân sinh quan khác nhau, từ đó có những quan điểm sống, cách
sống khác nhau. Có nghĩa là trong tiểu thuyết xuất hiện những tư tưởng và
ngôn từ của các nhân vật khác nhau. Cùng một sự vật, hiện tượng có thể được
hiểu theo nhiều cách khác nhau, và được đánh giá từ nhiều phía, được soi rọi
từ nhiều khía cạnh và ai cũng tự cho mình là chân lý. Vấn đề này đối với
người này thì có giá trị, nhưng đối với người khác nó lại không mang ý nghĩa
gì. Như vậy ngôn ngữ trong tiểu thuyết - sử thi rất đa dạng và phong phú, nó
mang tầm rộng lớn của tri thức, đòi hỏi các tác giả phải có vốn sống lớn và
phải tiếp nhận thế giới thực tại để rồi lại mở rộng, phản ánh một cách toàn
diện. Ngôn ngữ trong sử thi không có khả năng đi sâu vào thế giới bên trong
của từng nhân vật. Tiểu thuyết - sử thi của chúng ta có một lợi thế là có khả
năng phân tích. Phân tích thực tại, phân tích thế giới vô cùng bí ẩn nó nằm
sâu trong tâm hồn con người một cách sâu sắc .
18
“illiade”là bài ca về thành Iliông, Achille - người anh hùng trong
chiến trận, nhân vật chính của tác phẩm đã được tác giả miêu tả thành một
biểu tượng về sức mạnh thể chất của người Hi Lạp và cũng là hình ảnh lý
tưởng của người anh hùng bộ tộc trong chiến tranh thời đại Homerơ. Hay
Ramayana là thiên sử thi vĩ đại đầy chất bi hùng, chói lọi hào quang huyền
thoại, đây là bức tranh xã hội rộng lớn phản ánh hiện thực đời sống, tư tưởng
của nhân dân ấn Độ cổ đại. Nó còn là bài ca vĩ đại, ca ngợi chiến công hiển
hách, khí phách hào hùng của những vị anh hùng, mẫu người lý tưởng mà
nhân dân ấn Độ đề cao và ngưỡng mộ. Rama con người thiện của đẳng cấp
từ góc độ của những vấn đề chung, những sự kiện cộng đồng đó. Tiềm năng
nhận thức, ưu thế về tầm vóc bao quát thực tại được mở rộng, được khai thác
đến mức tối đa trong sử thi cận đại, với những mẫu mực của nó như: <<Chiến
tranh và hoà bình” của L.Tolstôi. Và người ta lại thấy xuất hiện trong nghệ
thuật một cái gì đó ngang bằng về tầm vóc, kích thước, cũng toàn vẹn, hoành
tráng, sâu sắc và hùng mạnh như sử thi truyền thống xa xưa. Với tư cách là
một dạng, một biến thể của tiểu thuyết, một hiện tượng nghệ thuật có quan hệ
sinh thành trực tiếp với tiểu thuyết, sử thi cận đại nằm trong “vùng tiếp xúc
trực tiếp với cái hiện tại” sự chú ý của nó, trọng tâm nhận thức của nó hướng
vào cái hiện tại chứ không phải là vào quá khứ truyền thuyết như trong sử thi
cổ đại nữa .
Đối với tiểu thuyết, không còn sự phân tách thực tại ra thành cái
cao quí và cái thấp hèn, cái đáng tái hiện nghệ thuật và cái không đáng được
tái hiện như thế một cách tiền định nữa. Đời sống được cảm thụ biện chứng
hơn. Những cái gì trước kia ở cách biệt nhau thì ngày nay hoá ra tất cả đều
chịu sự chi phối chung của qui luật. Với chủ nghĩa hiện thực, tiểu thuyết đã
diễn ra một quá trình dân chủ hoá rõ rệt trong nghệ thuật, kể từ đề tài đến cách
20
xử lý đề tài, phương thức nhìn nhận, đánh giá thế giới và con người cho đến
quan niệm về công chúng và phương thức tác động của nghệ thuật về công
chúng. Đứng từ góc độ khác, đây là quá trình mở rộng, quá trình trở nên bớt
khắc nghiệt, cứng đờ tuyệt đối của ranh giới giữa cái thẩm mĩ và cái phi thẩm
mĩ, giữa thông tin nghệ thuật và thông tin phi nghệ thuật.
Tiểu thuyết và sử thi cổ đại là những thể khác nhau trong loại
hình tự sự, sản phẩm của những thời kỳ nhất định và mang những giá trị thẩm
mĩ độc đáo khác nhau.
Tiểu thuyết - sử thi gần như một thể loại đứng giữa tiểu thuyết và
sử thi. Nó qui mô hơn, hoành tráng hơn tiểu thuyết nhưng lại chưa đạt đến
chất lượng của sử thi như Chiến tranh và hoà bình của L.Tônxtôi hay Sông
bên nhau “từ gốc lúa bờ tre hồn hậu, cũng đứng lên thành những anh hùng”
chống lại kẻ thù cướp nước và bè lũ tay sai. Một lần nữa những con người
thần đồng của thế kỷ 20 lại được thử thách trong khói lửa của chiến tranh và
cách mạng. Chính hiện thực hào hùng đó đã tạo nên cảm hứng sử thi cho
nhiều bộ tiểu thuyết.
Nhìn chung, trước năm 1945 trong nhiều tác phẩm các nhân vật
của văn học hiện thực phê phán thường đi về hoạt động trong một môi trường
hẹp, hoặc một góc chợ ở làng quê hay trong một gia đình Nhưng giờ đây
hiện thực của chiến tranh và cách mạng không cho phép chỉ miêu tả nhân vật
trong một hoàn cảnh tù đọng, mà phải tạo điều kiện cho nhân vật tiếp xúc với
hoàn cảnh xã hội rộng lớn, tắm mình trong dòng sông bao la cuồn cuộn của
lịch sử, của thời đại. Hiện thực đó đòi hỏi các nhà văn phải nâng cao tầm khái
quát, tổng hợp vốn sống từ nhiều mặt, cho phép mở ra những hoàn cảnh rộng
với nhiều thành phố, nhiều vùng nông thôn rộng lớn Trong các nhà văn hiện
thực phê phán, ngoài Nam Cao còn có Nguyên Hồng là những người có
22
chuyển biến rất nhanh ngay sau Cách mạng tháng Tám. Điều đó không phải là
ngẫu nhiên: ngay từ những năm 1938, 1939 Nguyên Hồng đã tham gia phong
trào Mặt trận dân chủ và viết được một vài tác phẩm chịu ảnh hưởng rõ rệt của
phong trào; năm 1943 Nguyên Hồng lại có chân trong nhóm Văn hoá cứu
quốc bí mật.
Để có được những tác phẩm phù hợp với thời đại, các nhà văn
đều phải trải qua một bước ngoặt về thế giới quan và phương pháp sáng tác.
Sự chuyển biến về phương pháp sáng tác thường bắt đầu bằng một sự chuyển
biến về thế giới quan. Nguyên Hồng đã lao vào cuộc kháng chiến một lòng
một dạ đi theo cách mạng, nhưng tư tưởng nhà văn không phải lúc nào cũng
biến chuyển kịp với tình hình cách mạng. Cho nên phải đến bộ tiểu thuyết
Cửa biển <4 tập> thì tiểu thuyết của Nguyên Hồng mới có quy mô sử thi, bao
quát được những thời kỳ lịch sử quan trọng với hàng loạt sự kiện và biến cố,
Tóm lại, sử thi và tiểu thuyết - sử thi là hai khái niệm gần gũi
nhau, mặc dù vậy nhưng chúng vẫn có những sắc thái khác nhau. Đó là sự vận
động theo thời gian, những điều kiện lịch sử xã hội, nhu cầu thẩm mĩ tạo nên
sự khác biệt về nội dung cũng như về phong cách nghệ thuật, kể từ những bộ
sử thi cổ đại đến sử thi cận đại cho đến những bộ tiểu thuyết mà chúng ta gọi
là tiểu thuyết - sử thi hiện thực xã hội chủ nghĩa. Sử thi tuyệt đối hoá quá khứ,
xa rời thực tại, còn tiểu thuyết - sử thi tiến đến thế giới thực tại và những gì
còn đang ở trong tương lai.