Tội phạm nữ ở thành phố Hồ Chí Minh và khả năng tái hội nhập của họ - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trần Thò Tân Hương

TỘI PHẠM NỮ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VÀ KHẢ NĂNG TÁI HỘI NHẬP CỦA HỌ

LUÂN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
Mã số: 62 31 30 01.
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Vũ Hào Quang
2. PGS. Đỗ Thái Đồng
CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VÀ TIẾP CẬN LÝ THUYẾT VỀ TỘI
PHẠM NỮ VÀ KHẢ NĂNG TÁI HỘI NHẬP CỦA HỌ
1.1.Các khái niệm và tiếp cận lý thuyết trong nghiên cứu tội phạm nữ 11
1.1.1.Các khái niệm trong nghiên cứu tội phạm nữ 11
1.1.1.1. Các khái niệm trong nghiên cứu tội phạm 11
1.1.1.2. Khái niệm về “phụ nữ” và “giới” 13
1.1.1.3 Khái niệm văn hóa, giá trò, chuẩn mực và lệch chuẩn 14
1.1.2. Các lý thuyết trong nghiên cứu tội phạm 20
1.1.2.1. Tiếp cận nhân chủng học và tiếp cận tâm lý học 20
1.1.2.2. Các tiếp cận xã hội học về tội phạm 21
1.1.3. Các tiếp cận lý thuyết trong nghiên cứu tội phạm nữ 26
1.1.3.1. Các tiếp cận sinh học và tâm lý học về tội phạm nữ 26
1.1.3.2. các lý thuyết xã hội học về tội phạm nữ 30
1.2. Các khái niệm và lý thuyết về tái hội nhập của tội phạm nữ 50
1.2.1. Các khái niệm về “tái hội nhập xã hội” 50
1.2.2. Các lý thuyết về tái hội nhập của tội phạm nữ 51
CHƯƠNG 2.
THỰC TRẠNG, CƠ CẤU VÀ LOẠI HÌNH TỘI PHẠM NỮ HIỆN NAY
Ở TP.HCM
2.1.Sơ lược về thực trạng tội phạm ở Việt Nam và ở TP.HCM 56
2.1.1. Thực trạng tội phạm ở Việt Nam trong những năm gần đây 56
2.1.2. Vài nét về thực trạng tội phạm ở TP.HCM hiện nay 63
2.1.2.1. Đặc điểm kinh tế – xã hội TP.HCM hiện nay 63
2.1.2.2. Thực trạng tội phạm ở TP.HCM hiện nay 65
2.2. Thực trạng cơ cấu loại hình tội phạm nữ ở TP.HCM hiện nay 69
2.2.1. Tình hình cơ bản về tội phạm nữ ở TP.HCM 69
2.2.1.1. Số lượng tội phạm nữ ở TP.HCM 69
2.2.1.2. Thành phần tội phạm nữ 72
2.2.2. Cơ cấu loại hình tổng thể tội phạm nữ hiện nay ở TPHCM 79
2.3. Các loại hình tội phạm khác nhau ở tội phạm nữ 88

QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT TP.HCM………………………………………………………………….Thành phố Hồ Chí Minh DANH MỤC CÁC BIỂU

Biểu 2.1. Tỷ lệ tội phạm theo nhóm tội danh giai đoạn 1998-2003 66
Biểu 2. 2. Tỷ lệ tội phạm theo tội danh giai đoạn 1998 – 2003 68
Biểu 2.3. Tỷ lệ tội phạm so với số dân trên toàn TP.HCM giai đoạn
1991-1997, 1998- 2003 70
Biểu 2.4. Tỷ lệ cơ cấu tuổi của tội phạm nữ ở TPHCM giai đoạn 1998-
2003 73
Biểu 2.5. Tỷ lệ tuổi của tội phạm và tội phạm nữ ở TPHCM giai đoạn
1998- 2003 74
Biểu 2.6. Tỷ lệ tình trạng hôn nhân của tội phạm nữ giai đoạn
1998 -2003 75
Biểu 2.7. Tỷ lệ trình độ học vấn của tội phạm nữ giai đoạn
1998 -2003 .76
Biểu 2.8. Cơ cấu nghề nghiệp của tội phạm nữ giai đoạn 1998 -2003 .77
Biểu 2.9. Nơi cư trú của tội phạm nữ giai đoạn 1998 -2003 78

1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết và vấn đề nghiên cứu của đề tài
Tình hình tội phạm nữ những năm gần đây cho thấy: nếu thời kỳ 1985-
1986 số phụ nữ bò đưa ra xét xử chỉ chiếm 3-4% trong tổng số người bò đưa ra
xét xử thì năm 1987 là 12,3%, năm 1990 là 18,85%… Tại TP.HCM số can
phạm, phạm nhân nữ đang bò giam giữ tại trại giam Chí hòa từ 1991-1998
chiếm khoảng từ 11,1% đến 13,3% trên tổng số tội phạm hàng năm. Theo số
liệu của Toà án TP.HCM và các quận huyện, số bò cáo nữ chiếm 13,2% vào
năm 2003. Về loại hình tội phạm của phụ nữ những năm gần đây cũng xuất
hiện tội phạm mới nguy hiểm như buôn bán phụ nữ, tổ chức môi giới mại
dâm với quy mô lớn, buôn bán ma túy vv…
Từ những diễn biến về tình hình tội phạm nữ, một số câu hỏi được đăt ra
như sau: (1) Tại sao tội phạm nữ thường ít hơn tội phạm nam? Điều gì đã tạo
ra sự khác biệt này? (2) Sự tăng giảm tỷ lệ tội phạm nữ diễn ra như thế nào
và do ảnh hưởng của những yếu tố nào? (3)Tại sao phụ nữ ngày càng tham
gia vào những hình thức phạm tội mới mà trước đây thường chỉ có ở nam
giới? (4)Nguyên nhân nào đã xô đẩy phụ nữ vào con đường phạm tội?(5)
Khả năng tái hội nhập của tội phạm nữ như thế nào? Những yếu tố ảnh
hưởng đến khả năng tái hội nhập của tội phạm nữ là gì ?
Có nhiều quan niệm khác nhau giải thích về hành vi tội phạm nữ và
khả năng tái hội nhập của họ. Xuất phát từ quan điểm xã hội học, luận án
xem xét hiện tượng này với những ý tưởng cơ bản sau:

liên hệ giữa phong trào giải phóng phụ nữ và tình trạng phạm tội của phụ

3
nữ. Đồng thời qua nghiên cứu thực nghiệm, tác giả đã mô tả thực trạng tội
phạm phụ nữ ở Mỹ, phân tích những ảnh hưởng của sự thay đổi vai trò
người phụ nữ Mỹ đến thực trạng phạm tội của phụ nữ ở Mỹ.
Frances Heidensohn-Martin Farrell trong tác phẩm “Crime in Europe”
(Tội phạm ở châu u) đã dành một chương viết về phụ nữ và tội phạm ở
Châu u. Trong chương này, tác giả đã tìm ra những điểm giống và khác
nhau giữa tội phạm nam và tội phạm nữ, nguyên nhân của sự khác biệt; tỷ
lệ cách thức phạm tội ở các nước.
Ngaire Naffine trong tác phẩm “Female Crime” (Tội phạm nữ) đã
khái quát một số lý thuyết, quan điểm về tội phạm phụ nữ như: Lý thuyết
về sự căng thẳng, lý thuyết về sự học hỏi và sự kết hợp khác biệt, lý thuyết
phái mạnh … Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu khác như: “ Phụ nữ, tội
phạm và luật hình sự” của Allison Morris, “Xã hội học về tội phạm” của
Marvin E. Wolfgang và Leonard Savitz ….
Nhìn chung, các tác giả đều tập trung trả lời câu hỏi điều gì đã làm cho
tỷ lệ phạm tội giữa hai giới khác nhau. Thứ hai, điều gì đã tạo nên sự khác
biệt về tội phạm giữa hai giới. Tuy nhiên, những giải thích về các hiện
tượng này có nhiều sự khác biệt.
Về chủ đề “khả năng tái hội nhập cuả tội phạm nữ”, tác giả luận án đã
chú ý tìm kiếm những lý thuyết và nghiên cứu về vấn đề này. Nhưng có
thể nói, cho đến nay đây là chủ đề chưa được chú ý đúng mức nên các kết
quả nghiên cứu không có bao nhiêu.
Hiện nay ở Việt nam, lónh vực xã hội học tội phạm còn rất mới và
chưa hình thành một hệ thống lý luận hoàn chỉnh. Đội ngũ nghiên cứu và
các chuyên gia chuyên sâu về lónh vực này vẫn còn thiếu. Những năm gần
đây, ở một số trường đại học đã có một số sinh viên, học viên cao học,


đình, cộng đồng , các tổ chức chính quyền đối với khả năng tái hội nhập của
họ. Nhận diện những vấn đề trên nhằm đưa ra những khuyến nghò có tính khả
thi đối với việc hạn chế tình trạng phạm tội ở phụ nữ và tăng cường khả năng
tái hội nhập của họ.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu trên, tác giả luận án xác đònh các nhiệm vụ
nghiên cứu gồm : (1) Làm rõ những khái niệm và đònh hướng lý thuyết làm
cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài. (2) Mô tả và phát hiện khuynh hướng
phạm tội của phụ nữ có những biểu hiện gì trong những năm gần đây. (3)
Tìm hiểu những yếu tố tác động đến khuynh hướng tội phạm nữ ở TP.HCM.
(4) Xem xét quá trình tái hội nhập xã hội của tội phạm nữ từ chính khả
năng và cảm nhận của tội phạm nữ và sự hỗ trợ của cộng đồng. Khi xem
xét vấn đề này tác giả có lưu tâm đến quá trình xã hội hóa và xã hội hóa lại
của tội phạm nữ.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án này là hành vi phạm tội của tội
phạm nữ ở TP. HCM và khả năng tái hội nhâp của họ. Những vấn đề cơ
bản của đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là thực trạng khuynh hướng,
nguyên nhân và các yếu tố tác động đến hành vi của tội phạm nữ; mối
quan hệ giữa những biến đổi cấu trúc xã hội và tội phạm nữ trong giai đoạn
hiện nay ở TP.HCM; khả năng tái hội nhập của họ.

6
4.2. Khách thể nghiên cứu
Nghiên cứu của luận án này tập trung vào những phụ nữ đã từng phạm
tội, chủ yếu là những phụ nữ nghèo, sau thời gian chòu sự xử lý của pháp
luật đã và đang trong quá trình hội nhập trở lại với đời sống trong cộng
đồng của mình.
5. Phạm vi nghiên cứu

nhập của họ, tác giả ưu tiên sử dụng phương pháp đònh tính. Việc lựa chọn
phương pháp đònh lượng là phù hợp với mục tiêu của việc nhận diện những
đặc điểm về cơ cấu, lọai hình của tội phạm nữ và phù hợp với khả năng
thực tế của việc thu thập thông tin. Việc lựa chọn phương pháp đònh tính
phù hợp để tìm hiểu về một vấn đề hết sức nhạy cảm là những yếu tố tác
động đến hành vi phạm tôïi từ chính cách nhìn của tội phạm nữ và đặc biệt
là khi tìm hiểu về khả năng tái hội nhập của tội phạm nữ.
6.2. Về phương pháp nghiên cứu
6.2.1. Phân tích dữ liệu
Trên cơ sở phương pháp luận trên đây, để có dữ liệu đảm bảo độ tin
cậy, luận án sử dụng những tài liệu đã được công bố, đồng thời bản thân tác
giả luận án đã tiến hành thu thập tài liệu từ các nguồn dữ liệu thống kê, tài
liệu, bản án của các cơ quan như Tòa án nhân dân TP.HCM và Tòa án nhân
dân các quận, huyện trong thành phố, trại giam Chí Hòa ở TP.HCM, các
báo cáo của Công an TP.HCM, Số liệu và các bản án của Tòa án
TPHCM giúp có cái nhìn tổng hợp về thực trạng tội phạm ở TP.HCM. Sau

8
khi thu thập các thông tin từ các tòa án, trại giam, các số liệu được tổng hợp
và xử lý làm cơ sở cho việc phân tích.
6.2.2. Phỏng vấn sâu
Đặc biệt tác giả chú ý dùng phương pháp đònh tính thông qua các
nghiên cứu phỏng vấn sâu đối với 36 trường hợp tội phạm nữ (tập trung vào
nhóm phụ nữ nghèo và đòa bàn trong điểm về tội phạm là quận 4 vì họ chiếm
tỷ lệ cao trong tổng số tội phạm nữ đồng thời họ gặp nhiều khó khăn trong
quá trình tái hội nhập), gia đình của tội phạm nữ và một số tổ chức xã hội
có liên quan trực tiếp đến khả năng tái hội nhập xã hội của họ để nghiên
cứu đề tài.
7. Các giả thuyết nghiên cứu, hệ biến số và mô hình phân tích
7.1. Các giả thuyết nghiên cứu


Biến số độc lập
Tuổi
Trình độ học vấn
Nghề nghiệp
Việc làm
Xã hội hóa không hòan thiện
Thiếu cơ chế giám sát
Biến số trung gian
Điều kiện KT-XH-VH
Biến đổi KT, giá trò, vai trò
Biến số phụ thuộc
Cơ cấu và lọai hình
tội phạm nữ
Khả năng tái hội
nhập
Biến đổi
thang giá trò
Biến đổi
kinh tế –xã hội
Biến đổi vai

đặc điểm về thực trạng, cơ cấu và lọai hình tội phạm nữ ở TP.HCM hiện
nay. Đặc biệt, thông qua việc phân tích kết quả của các phỏng vấn sâu với
tội phạm nữ, tác giả luận án đã tìm hiểu quá trình tái hội nhập của tội phạm
nữ và những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tái hội nhập của họ. Những
phát hiện và kết quả nghiên cứu này có thể đóng góp cho việc hiểu sâu hơn
đối với lónh vực xã hội học tội phạm ở Việt Nam nói chung và xã hội học về
tội phạm nữ nói riêng. Xuất phát từ các kết quả nghiên cứu, những khuyến
nghò về giải pháp có ý nghóa đối với các cơ quan quản lý, bảo vệ pháp luật
và các tổ chức có liên quan đến tội phạm nữ đề ra chính sách và chương
trình hành động góp phần hạn chế tình hình tội phạm nữ và tăng cừơng khả
năng tái hội nhập của họ.

11
CHƯƠNG 1
CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VÀ TIẾP CẬN LÝ THUYẾT
VỀ TỘI PHẠM NỮ VÀ KHẢ NĂNG TÁI HỘI NHẬP CỦA HỌ

1.1. Các khái niệm và tiếp cận lý thuyết trong nghiên cứu tội phạm nữ.
1.1.1. Các khái niệm trong nghiên cứu tội phạm nữ
1.1.1.1. Các khái niệm trong nghiên cứu tội phạm
Khái niệm “phạm pháp” theo nghóa rộng là những hành vi sai lệch, là
sự vi phạm chuẩn mực luật pháp của xã hội của các cá nhân, nhóm, tổ
chức… nào đó. Trong thực tế, có những hành vi phạm pháp là tội phạm, có
hành vi phạm pháp chưa phải là tội phạm. Ngược lại, đã là tội phạm thì
trước hết đó phải là hành vi phạm pháp - phạm pháp ở mức độ “gây nguy
hiểm” cho xã hội.
Khái niệm “phạm pháp hình sư”ï được hiểu theo nghóa khác nhau và
cách sử dụng nhiều khi cũng khác nhau. Thứ nhất, dùng để chỉ những vi
phạm pháp luật hình sự của cá nhân, tổ chức…Thứ hai, dùng để chỉ những
hành vi phạm pháp trong các lónh vực không có liên quan đến chính trò và

số liệu thống kê hình sự. Đó hoặc là các chỉ số tuyệt đối, hoặc là chỉ số
phần trăm là con số thể hiện số tội phạm trên số dân cư theo thường lệ là
1:10.000. Như vậy, việc sử dụng số phần trăm tội phạm trên tổng số dân cư
để đánh giá tình hình tội phạm là có tính chất khách quan vì nó cho phép
thấy rõ trạng thái tội phạm ở từng nơi, cho phép so sánh dưới những mẫu số

13
chung giữa tình hình tội phạm ở khu vực này với tình hình tội phạm ở khu
vực khác và từ đó thấy rõ được biến động chính xác của tội phạm.
Khái niệm “cơ cấu tội phạm” đề cập đến trạng thái tónh của tội phạm
trong một khoảng thời gian tương đối lớn. Cơ cấu tội phạm được thể hiện
qua mối liên hệ giữa các bộ phận khác nhau của tội phạm trong tổng số
chung của tội phạm. Tùy theo nhu cầu tìm hiểu, đánh giá mà người ta phân
loại các bộ phận đó. Đó có thể là mối tương quan giữa các loại tội theo
cách phân loại ở phần chung Bộ luật hình sự Việt Nam. Đó có thể là cơ cấu
theo loại chủ thể của tội phạm, hoặc cũng có thể là cơ cấu theo đòa bàn mà
người ta gọi đó là đòa lý tội phạm.
1.1.1.2. Khái niệm về “phụ nữ” và “giới”
Phụ nữ được hiểu là một phần của xã hội gồm tập hợp người được xác
đònh về mặt sinh học thuộc giống cái, phân biệt với tập hợp khác của xã hội
là nam giới thuộc giống đực. Về mặt khoa học, cần phân biệt khái niệm
giới tính (sex) với ý nghóa là sự phân biệt giữa giống cái và giống đực, với
khái niệm “giới” (gender) với ý nghóa là một thuật ngữ xã hội học nói đến
vai trò, trách nhiệm, quan hệ xã hội giữa nam và nữ. Giới đề cập đến sự
phân công lao động, phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong
một bối cảnh xã hội cụ thể. Giới được hình thành do học và giáo dục,
không đồng nhất, khác nhau ở mỗi nứơc, mỗi đòa phương, thay đổi theo
thời gian, theo quá trình phát triển kinh tế xã hội [62; tr 4]
Như vậy, khi chú trọng tới sự khác biệt về mặt tự nhiên sinh học người
ta dùng khái niệm giới tính, còn khi nhấn mạnh và giải thích sự khác biệt


15
xã hội rộng lớn nhưng phát triển thái độ phạm pháp vì xã hội không thỏa
mãn được nhu cầu của họ, và những nhu cầu này được phản ánh trong văn
hóa nhóm của họ. Những “xung đột văn hóa” có thể là nguyên nhân của
hành vi phạm tội. Trong một số nhóm, sự không tôn trọng giá trò chính thức
là một sản phẩm trực tiếp của những quy luật văn hóa xung đột. Một số nhà
xã hội học quan niệm những sự xung đột văn hóa là sự chênh lệch giá trò,
khởi đầu như là những kết quả của nền văn hóa càng ngày càng phức tạp và
sự xung đột do sự tác động qua lại của những quy luật văn hóa khác nhau.
Sự cách biệt của giá trò xuất hiện khi giá trò chính thức của một nền văn hóa
xung đột với giá trò của nền văn hóa khác. Những sự xung đột giữa những
quy luật văn hóa khác nhau có thể xuất hiện qua ba quá trình liên quan với
nhau. Thứ nhất, những quy luật có thể xung đột nhau ở những ranh giới của
những khu vực văn hóa kế tiếp nhau. Hành động không bò coi là trọng tội ở
một văn hóa này nhưng có thể coi là trọng tội ở một văn hóa khác. Thứ hai,
trong chế độ “thuộc đòa hóa”, những giá trò chính thức của một nhóm này
đem áp dụng cho lãnh thổ của một nhóm khác vì thế cách cư xử truyền
thống trở nên phi pháp. Thứ ba, Khi các cá nhân của một nhóm văn hóa di
dân đến một nơi khác, họ có thể mang theo cách cư xử xung đột với quy
luật của nền văn hóa mới và vì vậy trở nên phi pháp. Nhiều nhóm di dân
không hiểu luật lệ của nền văn hóa mới nên phạm pháp một cách không
chủ tâm. Tuy nhiên có mối quan hệ giữa những xung đột văn hóa và xung
đột tinh thần. Xung đột văn hóa thường xuất hiện ở những cá nhân là loại
xung đột tâm lý và không thích ứng với hoàn cảnh hiện tại. Có quan niệm
cho rằng sự đảo lộn về nhân cách này sẽ đưa đến tội phạm. Ý niệm về sự
thích ứng văn hóa đề cập đến tình trạng khi một nhóm người di chuyển tới
một nơi cư trú khác thì nhóm đó bỏ những giá trò truyền thống, những cách

16

chúng được hình thành, chúng góp phần vào điều chỉnh chính bối cảnh ấy.
Có thể thấy, giá trò thường gắn với nhu cầu, nó tạo nên động cơ hành động
của mỗi con người. Do đó đằng sau mỗi hành động có ẩn chứa một giá trò,
đằng sau mỗi giá trò có ẩn dấu một nhu cầu. Đời sống của một cộng đồng xã
hội thường cần đến nhiều nhu cầu, trong đó có cái chính, cái phụ và cái
phát sinh. Tương ứng với nhiều nhu cầu, xã hội cũng cần đến nhiều giá trò
và hình thành bảng giá trò xã hội. Trong bảng giá trò xã hội không phải mọi
yếu tố đều ngang nhau vì thế, bảng giá trò xã hội còn gọi là thang giá trò xã
hội. Giá trò chủ đạo đóng vai trò chi phối đối với toàn bộ hoạt động xã hội
của con người thì gọi là giá trò đònh hướng, tức lý tưởng xã hội. Tùy theo
thời gian và không gian xã hội, mỗi nền văn hóa có thể chọn một giá trò nào
đó làm giá trò đònh hướng. Chẳng hạn, nếu trong xã hội truyền thống người
ta thường chọn giá trò thuộc lónh vực tín ngưỡng tôn giáo, còn trong xã hội
nông nghiệp người ta thường chọn quyền lực chính trò thì xã hội công
nghiệp người ta thường chọn lónh vực kinh tế làm giá trò đònh hướng. Điều
cần nhấn mạnh là xem xét về sự chuyển đổi bảng thang giá trò xã hội trong
thời kỳ đổi mới ở nước ta có tác động như thế nào đến sự gia tăng tội phạm
nói chung và tội phạm phụ nữ nói riêng.
Khái niệm “chuẩn mực xã hội” là biểu hiện cụ thể của giá trò và là cơ
sở đònh hướng hành vi của cá nhân hay của nhóm xã hội trong những điều
kiện nhất đònh và có chức năng kiểm soát xã hội đối với hành vi của cá
nhân. Chuẩn mực xã hội chỉ điều tiết những hành vi có tính chất xã hội, tức
là các hành vi có liên quan tới mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân, các
tập thể, các giai cấp có liên quan đến xã hội nói chung. Chuẩn mực xã hội

Trích đoạn Câc tiếp cận lý thuyết trong nghiín cứu tội phạm nữ câc lý thuyết xê hội học về tội phạm nữ Câc khâi niệm vă lý thuyết về tâi hội nhập của tội phạm nữ Thiếu cơ chế giâm sât xê hội Câc tổ chức xê hội vă chính quyền với khả năng tâi hộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status