báo cáo nghiệm thu hiệu quả của điều trị nội tiết tố ở phụ nữ tiền mãn kinh-mãn kinh ở thành phố hồ chí minh - Pdf 25

ỦY BAN NHÂN DÂN TP.HCM
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ BÁO CÁO NGHIỆM THU HIỆU QUẢ CỦA ĐIỀU TRỊ NỘI TIẾT TỐ Ở PHỤ NỮ TIỀN
MÃN KINH-MÃN KINH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
(Ký tên)

CƠ QUAN QUẢN LÝ CƠ QUAN CHỦ TRÌ
(Ký tên/đóng dấu xác nhận) (Ký tên/đóng dấu xác nhận) THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NAÊM 2008


I
SUMMARY OF RESEARCH CONTENT
OBJECTIVES: A prospective cohort study was conducted to
evaluate effects of hormonal therapy in peri-menopausal women in
Hochiminh city.
METHODS: The subjects receiving various types of hormones
either orally or vaginally according to their indications. Measurements of
effective response by scale as well as mammograms of 1235 peri-
menopausal women were obtained before and 6 months after the
initiation of hormonal therapy.
RESULTS: Approximately 90% of peri-menopausal women
indicated of hormonal therapy had climacteric symptoms. The majority of
women receiving hormonal therapy due to vasomotor symptoms (hot
flushes, night sweats, thrilling, sleep disturbances); the prevalence of hot
flushes were found to be highest 63%. Psychologic disturbances (mood
disturbances, tiredness) had relatively high percentages, next was sexual
dysfunction. Vasomotor symptoms were very well ameliorated after 6
months. Group receiving combined hormones had the best outcomes;
group receiving herb remedies obtained the lowest positive effects. Oral
hormones ameliorated hot flushes and sleep disturbances better than
vaginal ones. Very small amount of cases had an increase in
mammographic density, non-significant statistically (27/1205, 2.2%).
CONCLUSION: These results indicate that the short-term 6
month period of hormonal therapy has the ability to well ameliorate
climacteric symptoms in Vietnamese peri-menopausal women.
Mammograms should be obtained routinely and cyclically to find out
early changes after hormnal treatment

Mục lục
II

1.5.2 Các triệu chứng mãn kinh 15
1.5.3 Mối liên quan giữa yếu tố kinh tế xã hội và mãn kinh 16
1.5.4 Vai trò nội tiết tố điều trị trong tiền mãn kinh - mãn kinh 19
Chương 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 23
Mục lục
II
2.1 Thiết kế nghiên cứu 23
2.2 Dân số nghiên cứu 23
2.2.1 Dân số đích 23
2.2.2 Dân số chọn mẫu 23
2.3 Tiêu chuẩn chọn mẫu 23
2.4 Tiêu chuẩn loại trừ 23
2.5 Cỡ mẫu 24
2.6 Khung nghiên cứu 24
2.7 Thu thập số liệu 24
2.8 Biến số nghiên cứu 25
2.8.1 Biến số độc lập 25
2.8.2 Biến số phụ thuộc 25
2.8.3 Biến số nền 26
2.9 Phân tích số liệu 26
2.10 Y đức trong nghiên cứu 26
Chương 3 KẾT QUẢ 27
3.1 Đặc điểm nhân khẩu xã hội học 27
3.1.1 Tuổi 27
3.1.2 Nghề nghiệp 28
3.1.3 Tình trạng hôn nhân 29
3.1.4 Dân tộc 30
3.1.5 Trình độ học vấn 31
3.1.6 Thói quen sinh hoạt 31
3.1.7 Chỉ số khối cơ thể 32

III
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BV
Bệnh viện
FSH
Follicular Stimulating Hormone
GnRH
Gonadotrophin Releasing Hormone
HR
Hazard Ratio: tỉ số nguy hại
HRT
Hormone Replacement Therapy:
Liệu pháp nội tiết tố thay thế
HT
Hormone Therapy: Liệu pháp nội
tiết tố
KTC
Khoảng tin cậy
LH
Luteinizing Hormone
MPA
Medroxy Progesterone Acetate
NC
Nghiên cứu
NIH
National Institute of Health: Viện
quốc gia về sức khỏe
OR
Odd Ratio: Tỷ số chênh
TPHCM

Danh sách bảng biểu
IV
Bảng 14: Sự cải thiện các triệu chứng theo đường
sử dụng 43
Bảng 15: Sự thay đổi nhũ ảnh theo loại nội tiết tố
45
Bảng 16: Sự thay đổi nhũ ảnh theo loại thuốc 46
Danh sách bảng biểu
IV
DANH SÁCH BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1 Sự phân bố tuổi 27
Biểu đồ 2 Sự phân bố tình trạng hôn nhân 29
Biểu đồ 3 Sự phân bố dân tộc 30
Biểu đồ 4 Sự phân bố chỉ số khối cơ thể 32
Biểu đồ 5 Sự phân bố sô con hiện có 33
Biểu đồ 6 Sự phân bố tuổi sanh lần đầu 34
Biểu đồ 7 Sự thay đổi nhũ ảnh sau liệu pháp nội tiết
tố 44
Phần mở đầu
Trang 1
PHẦN MỞ ĐẦU
Đặt vấn đề
Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăm sóc sức khỏe ở phụ nữ tiền mãn kinh - mãn kinh là vô
cùng quan trọng và đang được xã hội đặc biệt quan tâm hiện nay.
Bước vào tuổi tiền mãn kinh - mãn kinh, người phụ nữ phải chịu
nhiều thay đổi sinh lý khó chịu gây ra bởi sự suy yếu và mất dần

đưa ra kết luận rằng các số liệu tìm được từ các nghiên cứu ở các
nước đã phát triển về mãn kinh không thể khái quát hóa và áp dụng
đối với các phụ nữ sống ở các vùng khác trên thế giới không cùng
điều kiện về kinh tế xã hội [7, 32]. Hơn nữa, trên tinh thần “y khoa
chứng cứ” cho đến hiện tại vẫn chưa có một khuyến cáo thống nhất
về sử dụng nội tiết tố thay thế. Chính vì vậy, nhằm có được những
thông tin xác thực phù hợp với nhân chủng học người Việt Nam
trong việc sử dụng nội tiết tố thay thế của phụ nữ tiền mãn kinh -
mãn kinh, công tác đánh giá lại việc sử dụng nội tiết tố tại Thành
phố Hồ Chí Minh rất cần được nghiêm túc thực hiện. Do đó, đề tài
“Hiệu quả của điều trị nội tiết tố ở phụ nữ tiền mãn kinh - mãn kinh
tại Thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện với mong muốn:
1. Xác định đặc điểm nhân khẩu xã hội học, chỉ định điều trị
ở phụ nữ tiền mãn kinh - mãn kinh sử dụng nội tiết tố
thay thế.
2. Xác định hiệu quả làm giảm các triệu chứng và các tác
dụng ngoại ý của liệu pháp nội tiết tố.
nhằm làm rõ nét việc sử dụng nội tiết tố điều trị cho phụ nữ tiền
mãn kinh - mãn kinh tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Tổng quan tài liệu
Trang 4

Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Quá trình mãn kinh
1.1.1 Giai đoạn chuyển tiếp
Thời kỳ trước mãn kinh đặc trưng bởi các rối loạn về tâm lý
và bản thể phản ảnh sự thay đổi chu kỳ chức năng bình thường của
buồng trứng. Sự nhận biết sớm các triệu chứng và sử dụng các xét
nghiệm sàng lọc thích hợp sẽ giúp giảm thiểu các triệu chứng này.
Thời chuyển tiếp bắt đầu dần dần từ khoảng sau 40 tuổi. Bệnh nhân

Điều trị nội tiết tố thay thế là một quan tâm hàng đầu trong chăm
sóc sức khỏe phụ nữ sau mãn kinh. Ảnh hưởng của sự thiếu hụt
estrogen có nguy cơ tương tự như thiếu hụt nội tiết tuyến giáp hay
nội tiết tuyến thượng thận nhưng lại ít được quan tâm. Điều này có
lẽ do hậu quả của sự thiếu hụt estrogen thường xảy ra chậm sau
một thời gian dài. Ví dụ như loãng xương thường chỉ nhận biết sau
một thời gian tương đối dài khi mà hậu quả khó có thể khắc phục.
Cũng vậy, hậu quả của mãn kinh trên hệ tim mạch thường lầm là
do tuổi tác.
1.1.4 Mãn kinh sớm
Mãn kinh thường là một quá trình xảy ra từ từ và lâu dài. Ở
một số phụ nữ, chức năng buồng trứng đột ngột mất sớm hơn có
thể do các nguyên nhân tự nhiên, hóa học hay phẫu thuật. Những
trường hợp này cần có điều trị về tâm lí cũng như nội tiết tố hỗ trợ.
Các nhà phụ khoa nên xem xét khả năng có kèm theo bất thường
về nội tiết tố ở những bệnh nhân này.
Tổng quan tài liệu
Trang 6

1.2 Sự thay đổi về nội tiết tố
1.2.1 Giai đoạn chuyển tiếp
Nguồn gốc của mọi thay đổi trong thời kì này là do sự giảm
đáp ứng cúa buồng trứng với các gonadotropin, dẫn đến những rối
loạn trong sự trưởng thành của noãn. Điều này sẽ đưa đến những
chu kì không rụng trứng hoặc rụng trứng khó khăn. Đầu tiên lượng
progresteron sẽ giảm rồi đến lượng estrogen cũng giảm. Ngược lại,
nội tiết tố FSH (Follicular Stimulating Hormone) và LH
(Luteinizing Hormone) lại tăng cao, đỉnh LH vắng dần. FSH sẽ lại
càng tăng khi chất inhibin giảm (chất ức chế tiết từ tế bào hạt
buồng trứng, có tác dụng ngăn sự tổng hợp và phóng thích FSH).

bốc hỏa trong hầu hết trường hợp. Một số phụ nữ nhất là các
phụ nữ mãn kinh sau phẫu thuật thường cần liều estrogen cao
hơn. Đối với những phụ nữ không có yếu tố nguy cơ của bệnh
mạch vành, thuốc ngừa thai liều thấp dạng uống cho kết quả rất
tốt. Nếu phụ nữ có chống chỉ định với estrogen, có thể điều trị
bằng progestin hoặc các thuốc non-steroid.
Triệu chứng bốc hỏa nhẹ có thể dần dần hết sau 3-5 năm.
Đổ nhiều mồ hôi: thường đi kèm với bốc hỏa vào ban
đêm. Triệu chứng này có thể nặng thêm do stress, lo lắng, uống
nhiều rượu hoặc môi trường nóng. Triệu chứng này do sự thay
đổi nội tiết tố trong giai đoạn mãn kinh.
Hồi hộp
Tổng quan tài liệu
Trang 8

Chóng mặt
Khó ngủ: rối loạn giấc ngủ thường đi đôi với bốc hỏa, đổ
mồ hôi đêm, hồi hộp… là các triệu chứng có nguồn gốc từ não
bộ và hệ thần kinh trung ương. Cơ chế của các rối loạn này là
do sự thay đổi bất thường trong điều hòa Endophin nội sinh.
Trong giai đoạn sớm của thời kì chuyển tiếp, các rối loạn vận
mạch có thể biểu hiện qua các rối loạn giấc ngủ và không có
triệu chứng bốc hỏa rõ ràng.
1.3.2 Rối loạn tâm lí
Trầm cảm, buồn giận: trầm cảm là một trong những
rối loạn thường khiến bệnh nhân đến khám ở đơn vị chăm sóc
sức khỏe ban đầu. Đây là một vấn đề đặc biệt đối với phụ nữ và
người già. Người ta cho rằng trầm cảm thường xảy ra hơn ở phụ
nữ mãn kinh. Các nghiên cứu đã không chứng minh được mối
liên quan giữa trầm cảm và tình trạng nội tiết tố trong cơ thể

tiểu không tự chủ trong hơn 50% trường hợp có điều trị. Các
triệu chứng rối loạn niệu dục bao gồm:
Tiểu khó, tiểu gấp, tiểu nhiều lần, tiểu không tự chủ
Nhiễm trùng sinh dục tái phát: do thay đổi độ pH âm
đạo (pH âm đạo giúp cân bằng môi trường và các vi khuẩn
thường trú trong âm đạo).
Khô teo âm đạo: là một yếu tố góp phần trong giảm
khoái cảm tình dục. Khoảng một phần ba phụ nữ sau mãn kinh
sẽ khô teo âm đạo nếu không dùng nội tiết tố thay thế. Giảm
Tổng quan tài liệu
Trang 10

chất nhầy âm đạo dẫn đến cảm giác khó chịu, đau gây mất thỏa
mãn tình dục.
Giao hợp đau: do giảm chất nhầy và thành âm đạo
kém đàn hồi.
Giảm tình dục: một mối quan tâm chính là giảm khả
năng hoạt động tình dục hay giảm khoái cảm tình dục có thể
xảy ra ở mãn kinh tự nhiên hoặc mãn kinh nhân tạo. Khoảng
một nửa phụ nữ tuổi mãn kinh có sự giảm hoạt động tình dục.
1.3.4 Hệ thần kinh trung ương
Thiếu estrogen dường như có ảnh hưởng đến hệ thần kinh
trung ương và chỉ mới được chú ý gần đây. Phụ nữ quanh mãn
kinh thường khó tập trung và hay quên những việc vừa xảy ra.
Estrogen có thể có ảnh hưởng trực tiếp trên chức năng thần kinh
và điều trị nội tiết tố thay thế cải thiện được triệu chứng hay
quên và chức năng tâm lí ở phụ nữ hậu mãn kinh.
Một trong những lãnh vực mới nghiên cứu gần đây là
estrogen liệu pháp có thể có vai trò trong việc phòng ngừa và
điều trị bệnh Alzheimer. Các bằng chứng đã cho thấy estrogen

nữ không điều trị.
Mặc dù estrogen giảm là nguyên nhân rõ ràng của bệnh
tim mạch ở phụ nữ nhưng cũng có các yếu tố nguy cơ khác góp
Tổng quan tài liệu
Trang 12

phần làm cao huyết áp là hút thuốc. Ngoài ra còn có các nguyên
nhân khác là tiểu đường, cholesterol máu cao. Để giảm bệnh
tim mạch ở phụ nữ sau mãn kinh cần phải tầm soát các yếu tố
nguy cơ này.
Loãng xương
Mối liên quan giữa mãn kinh tự nhiên và nhân tạo với
loãng xương đã được biết rõ. Theo định nghĩa, loãng xương là
tình trạng giảm mật độ xương. Mặc dù tỷ lệ mất xương tăng
đáng kể vào thời điểm mãn kinh nhưng tỷ lệ gãy xương do
loãng xương chỉ tăng sau nhiều thập niên sau đó. Ước tính có
khoảng trên 30% phụ nữ trên 90 tuổi có gãy xương. Loãng
xương do nhiều nguyên nhân, các yếu tố chủ yếu liên quan đến
loãng xương bao gồm tuổi di truyền, tình trạng estrogen và chế
độ ăn uống có canxi.
1.4 Các yếu tố liên quan với mãn kinh
1.4.1 Giả thiết sinh học
Đây là giả thiết chính cho rằng các triệu chứng tâm lí và
sinh lí là kết quả trực tiếp do thiếu hụt estrogen hoặc do kết quả
của những thay đổi sinh hóa từ sự thay đổi nội tiết tố. Các xét
nghiệm sinh hóa đo nồng độ estrogen trong máu ở phụ nữ mãn
kinh và hiệu quả của estrogen trong việc giảm triệu chứng bốc
hỏa và viêm teo âm đạo ủng hộ cho giả thiết này. Tuy nhiên một
số nghiên cứu cho rằng nội tiết tố sinh sản chỉ có giá trị giới
hạn.

Ở các nước phương Tây, người ta đánh giá vai trò phụ nữ
qua vẻ đẹp, khả năng sinh sản và nuôi con. Do đó phụ nữ có
quan niệm tiêu cực với mãn kinh vì mãn kinh đồng nghĩa với
mất khả năng sinh sản, giảm sức khỏe và mất quyền lực với con
cái (các con lớn không còn nghe lời họ). Hầu hết triệu chứng
mãn kinh xảy ra trong các trường hợp này.
Trong các xã hội không sử dụng phổ biến thuốc ngừa
thai, mãn kinh đồng nghĩa với chấm dứt tuổi sinh sản và giải
thoát phụ nữ khỏi lo lắng của việc có thai, do đó các triệu chứng
tâm lí của mãn kinh ít xảy ra.
Ở Mexico người ta quan niệm kinh nguyệt là một giai
đoạn nguy hiểm và dơ bẩn, do đó phụ nữ phải giới hạn các hoạt
động xã hội trong chu kì kinh nguyệt. Do đó, phụ nữ Mexico có
khuynh hướng chào đón sự mãn kinh như một giai đoạn tự do
hoạt động. Chỉ một số ít phụ nữ Mexico có triệu chứng mãn
kinh.
Có nhiều giả thiết khác nhau trong giai đoạn chuyển tiếp
thời mãn kinh, không có một giả thiết nào đủ để giải thích rõ
ràng các thay đổi trong thời kì này. Do đó cần có thêm nhiều
nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đối với mãn kinh
1.5 Các nghiên cứu trƣớc về rối loạn tiền mãn kinh -
mãn kinh
1.5.1 Tuổi mãn kinh tự nhiên
Theo như những nghiên cứu thì tuổi mãn kinh thay đổi từ
47 đến 52, nghiên cứu của Chim H (Singapore) là 49 tuổi [12],

Trích đoạn Nhân khẩu học Các triệu chứng rối loạn tiền mãn kinh-mãn kinh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status