HIỆU QUẢ CỦA ĐIỀU TRỊ NỘI TIẾT TỐ Ở PHỤ NỮ TIỀN MÃN
KINH-MÃN KINH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TÓM TẮT
Thời tiền mãn kinh - mãn kinh gây nhiều biến đổi bất ứng ảnh hưởng chất
lượng cuộc sống cho người phụ nữ. Nội tiết tố ngoại sinh góp phần khắc phục
những rối loạn sinh lý này tuy nhiên có khả năng tăng nguy cơ ung thư vú, ung
thư nội mạc tử cung hay huyết khối tĩnh mạch sâu trong liệu trình nội tiết dài
hạn (1).
Mục tiêu-Phương pháp: Một nghiên cứu đoàn hệ tiền cứu qua 1235 phụ nữ
sử dụng nội tiết tố ngoại sinh với liệu trình 6 tháng tại bệnh viện Từ Dũ và bệnh
viện Hùng Vương được thực hiện từ 01/2006 – 12/2007 nhằm đánh giá hiệu
quả của điều trị nội tiết tố.
Kết quả: gần 90% các đối tượng được chỉ định sử dụng nội tiết tố do có rối
loạn triệu chứng tiền mãn kinh - mãn kinh. Trong đó, phần lớn các đối tượng
được sử dụng nội tiết tố vì các triệu chứng rối loạn vận mạch, trong đó triệu
chứng bốc hỏa chiếm tỉ lệ cao nhất 63%. Các rối loạn tâm lý (cáu gắt, mệt mỏi)
cũng chiếm tỉ lệ khá cao, kế đến là rối loạn sinh dục (giao hợp đau). Các triệu
chứng rối loạn vận mạch cải thiện rất tốt sau 6 tháng điều trị. Trong đó, nhóm
sử dụng nội tiết tố điều trị loại phối hợp có hiệu quả tốt nhất, nhóm thảo dược
có hiệu quả thấp nhất. Nội tiết tố điều trị đường uống có giá trị hơn đường đặt
âm đạo trong cải thiện các triệu chứng bốc hỏa và khó ngủ.
Kết luận: liệu trình nội tiết tố ngắn hạn 6 tháng có khả năng giải quyết khá tốt
các triệu chứng rối loạn tiền mãn kinh - mãn kinh cho phụ nữ Việt Nam. Các
hậu quả trên tuyến vú, nội mạc tử cung chưa được rút ra do thời gian theo dõi
chưa đủ dài. Các nghiên cứu sâu cần được tiến hành để có thể cho ra các
khuyến cáo thực hành.
ABSTRACT
EFFECTS OF HORMONAL THERAPY IN PERI-MENOPAUSAL
WOMEN IN HOCHIMINH CITY
suy yếu và mất dần chức năng hoạt động nội tiết của buồng trứng, các rối loạn
này ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng cuộc sống.
Quan trọng hơn, tuổi thọ trung bình của phụ nữ ngày càng tăng, tuổi thọ trung
bình hiện nay là 80 và tuổi mãn kinh trung bình là 51
(7)
. Như vậy, phụ nữ phải
sống thêm ít nhất 30 năm nữa, khoảng một phần ba cuộc sống còn lại trong tình
trạng thiếu hụt estrogen với những biểu hiện bất ứng của nó.
May mắn thay, với sự tiến bộ của y học tuổi, sự ra đời của nội tiết tố ngoại sinh
trong 50 năm nay đã góp phần khắc phục những rối loạn sinh lý này. Tại Việt
Nam, khoảng 10 năm trở lại đây, điều trị nội tiết tố thay thế ở phụ nữ tiền mãn
kinh - mãn kinh cũng đã được sử dụng một cách rộng rãi. Tuy nhiên, kết quả
nghiên cứu của Women’s Health Initiative WHI năm 2002 khuyến cáo về nguy
cơ ung thư vú, ung thư nội mạc tử cung hay huyết khối tĩnh mạch sâu khi dùng
nội tiết tố kết hợp giữa estrogen và progestin trong liệu trình nội tiết dài hạn
(21)
.
Khuyến cáo này đã làm cho các nhà lâm sàng lẫn phụ nữ tiền mãn kinh - mãn
kinh hết sức quan tâm. Sau cột mốc đấy, tại Mỹ, nơi mà nội tiết tố thay thế
được ghi toa nhiều nhất, số phụ nữ chấp nhận theo dõi điều trị lâu dài giảm
xuống chỉ còn 15-40%.
Mặc dù trên thế giới có khá nhiều đề tài nghiên cứu về các vấn đề liên quan với
tuổi mãn kinh, đặc biệt là hiệu quả của nội tiết tố dành cho các đối tượng mãn
kinh - mãn kinh, nhưng các nghiên cứu này đa số tập trung ở các nước đã phát
triển. Nước ta là một trong những nước đang phát triển với các đặc điểm về
tuổi mãn kinh và sự phân bố các triệu chứng mãn kinh khác hẳn với các đặc
điểm của các nước đã phát triển. Các nghiên cứu xuyên quốc gia đã đưa ra kết
luận rằng các số liệu tìm được từ các nghiên cứu ở các nước đã phát triển về
mãn kinh không thể khái quát hóa và áp dụng đối với các phụ nữ sống ở các
vùng khác trên thế giới không cùng điều kiện về kinh tế xã hội
của thuốc. Trong nghiên cứu này, sở dĩ chúng tôi chọn thời điểm sau 6 tháng
điều trị để đánh giá hiệu quả thuốc vì qua loạt ca tiến hành làm pilot, chúng tôi
nhận thấy hiệu quả điều trị thật sự thay đổi sau 6 tháng. Nhũ ảnh sẽ được chụp
sau 6 tháng sử dụng thuốc để khảo sát tỷ lệ bất thường trên nhũ ảnh sau dùng
nội tiết tố thay thế. Sự cải thiện các triệu chứng (bốc hỏa, đổ mồ hôi đêm, hồi
hộp, rối loạn giấc ngủ, hay cáu gắt, mệt mỏi, tiểu nhiều lần, tiểu không tự chủ,
giao hợp đau) được đánh giá sau 6 tháng điều trị. Nếu không cải thiện (4 điểm),
giảm 30% (3 điểm), giảm 50% (2 điểm), giảm 80% (1 điểm), khỏi hoàn toàn (0
điểm) và xuất hiện triệu chứng mới (4 điểm). Các cách cho điểm này dựa vào
thước đo thang định tính mức độ triệu chứng.
Nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 11.5. Dùng phép kiểm phi tham số
với độ tin cậy 95% để khảo sát hiệu quả thuốc cũng như tác động của thuốc.
KẾT QUẢ - BÀN LUẬN
Phương pháp nghiên cứu
Để khảo sát được ảnh hưởng của hormon điều trị lên sức khỏe phụ nữ tiền mãn
kinh - mãn kinh, mô hình chúng tôi thực hiện nghiên cứu theo kiểu đoàn hệ là
phù hợp nhất. Tuy nhiên, mặt giới hạn của thiết kế nghiên cứu là không có
nhóm chứng. Thời gian nghiên cứu đánh giá tác động của nội tiết tố giới hạn
trong vòng 6 tháng vì thế có những tác động lên các cơ quan chưa đủ thời gian
để biểu hiện (tim mạch, loãng xương, chuyển hóa lipid, thuyên tắc huyết khối
tĩnh mạch). Do đó, nghiên cứu bước đầu chỉ ghi nhận một số tác động trong
chừng mực cho phép. Đây là các điểm giới hạn của đề tài.
Một sai lệch có thể ảnh hưởng quan trọng đến kết quả nghiên cứu đó là sai
lệch do người được phỏng vấn nếu họ biết mục tiêu nghiên cứu và hướng kết
quả phỏng vấn theo ý kiến của mình. Để giảm thiểu sai lệch này chúng tôi
không trực tiếp phỏng vấn mà huấn luyện cho các nữ hộ sinh không nắm
mục tiêu nghiên cứu tiến hành phỏng vấn. Đó là mặt ưu thế của đề tài.
Nhân khẩu học
Đa số đối tượng sử dụng nội tiết tố trong nghiên cứu tập trung nhóm tuổi 46-55
tuổi chiếm tỷ lệ 80%. Đây cũng chính là độ tuổi xuất hiện các rối loạn tiền mãn
trọng nhằm nâng cao chất lượng sống được mong đợi một cách đúng nghĩa.
Đa số các đối tượng đang sống với chồng. Hơn 20% (23,6%) đối tượng
trong nghiên cứu không cho con bú, một trong những yếu tố làm gia tăng
nguy cơ ung thư vú khi dùng thuốc nội tiết tố. Gần 11% (10,6%) đối tượng
nghiên cứu không sanh con, đây là dữ liệu rất cần được quan tâm vì nguy cơ
ung thư vú và nội mạc tử cung sẽ tăng bội. Bên cạnh đó, hơn 40% đối tượng
sanh nhiều lần cần phải tầm soát ung thư cổ tử cung. Gần 40% đối tượng
nghiên cứu thừa cân rất cần được quan tâm vì các yếu tố này sẽ làm tăng
nguy cơ ung thư vú và nội mạc tử cung. Hơn phân nửa (58,5%) các đối
tượng có chỉ số khối trong giới hạn bình thường. Hầu hết họ có thói quen
truyền thống Việt nam: nuôi con bằng sữa mẹ chiếm tỉ lệ cao (khoảng 80%),
tuy nhiên đa phần chỉ cho bú trong một năm đầu tiên (63%). Hầu hết các đối
tượng này không có tiền sử sử dụng thuốc tránh thai trong quá khứ (95,4%).
Các triệu chứng rối loạn tiền mãn kinh - mãn kinh
87,9% các đối tượng trong nghiên cứu được chỉ định sử dụng nội tiết tố do
có rối loạn triệu chứng tiền mãn kinh - mãn kinh. Trong đó, phần lớn các đối
tượng được sử dụng nội tiết tố vì các triệu chứng rối loạn vận mạch (bốc hỏa
63.2%, vã mồ hôi 45,8%, hồi hộp 38.7%, khó ngủ 47,1%), trong đó triệu
chứng bốc hỏa chiếm tỉ lệ cao nhất 63,2%. Các rối loạn tâm lý (cáu gắt
40,3%, mệt mỏi 64,6%) cũng chiếm tỉ lệ khá cao, kế đến là rối loạn sinh dục
(giao hợp đau 38,6%) (Bảng 1).
Bảng 1: Sự phân bố các đặc điểm rối loạn tiền mãn kinh
Triệu chứng N Tỷ lệ %
Bốc hỏa 781 63,2
Vã mồ hôi 566 45,8
Hồi hộp 478 38,7
Khó ngủ 582 47,1
Cáu gắt 498 40,3
Mệt mỏi 798 64,6
Tiểu lắt nhắt 34 2,8