Tư duy đối lập tương phản trong thơ Chế Lan Viên
Vũ Thị Thu Hoàn – Cao học Văn K52
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THỊ THU HOÀN
TƢ DUY ĐỐI LẬP TƢƠNG PHẢN
TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VĂN HỌC
TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận văn học
Mã số: 60.22.32
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Nam
Hà Nội - 2012
Tư duy đối lập tương phản trong thơ Chế Lan Viên
2.1. Đối lập tương phản trong các chi tiết hình ảnh thơ
48
2.2. Đối lập tương phản trong các hình tượng thơ
66
Chƣơng 3: Tƣơng phản đối lập trong nghệ thuật xây dựng 90
thời gian và không gian
94
3. 1. Đối lập trong không gian
94
3.2. Đối lập trong thời gian
104
PHẦN KẾT LUẬN
117
MỤC LỤC SÁCH THAM KHẢO
120
Tư duy đối lập tương phản trong thơ Chế Lan Viên
Vũ Thị Thu Hoàn – Cao học Văn K52
6
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nhắc đến Chế Lan Viên, người đọc thường nhớ đến những vần thơ
độc đáo, đậm chất triết lí. Những vần thơ đó được người đọc ưu ái gọi là
“ những vần thơ trí tuệ”. Nhà nghiên cứu Trần Thanh Đạm từng nhận
xét: “ Trong các nhà thơ của thế kỉ chúng ta, Chế Lan Viên vẫn là nhà
thơ giàu chất triết lí hơn cả” [ 13, tr 389]. Không ai có thể phủ nhận một
điều: Chế Lan Viên là một nhà thơ lớn và ông đã để lại nhiều bài thơ có
từ vựng, câu thơ, khổ thơ, bài thơ …ngay cả ở những tiêu đề bài thơ, tập
thơ, Chế Lan Viên cũng khai thác triệt để đối lập tương phản. Có thể nói,
việc khai thác các tương quan đối lập không chỉ là một thủ pháp nghệ
thuật mà đã trở thành một nét đặc trưng của tư duy thơ, chi phối cái nhìn
nghệ thuật của Chế Lan Viên.
Như vậy, đối lập tương phản không chỉ là một thủ pháp nghệ thuật
đơn thuần, nó gắn bó chặt chẽ với cái tôi trữ tình, với lối tư duy của nhà
thơ và tạo nên một phong cách rất Chế Lan Viên. Tuy vậy, chưa có công
trình nghên cứu nào đi sâu vào vấn đề này. Chính vì thế, người viết đã
chọn đề tài: “ Tư duy đối lập tương phản trong thơ Chế Lan Viên” với
cách tiếp cận theo hướng thi pháp học không nằm ngoài mong muốn góp
phần khám phá vẻ đẹp phong cách thơ Chế Lan Viên ở một khía cạnh
mới. Người viết cũng hi vọng qua bản luận văn này sẽ làm nổi bật được
những đóng góp lớn lao của Chế Lan Viên về mặt thi pháp thể loại trong
nền thơ Việt Nam hiện đại.
2. Lịch sử vấn đề
Từ trước đến nay, có không ít các bài báo, các bài nghiên cứu về
thơ Chế Lan Viên. Thậm chí đã có hai luận án khá công phu đi sâu
nghiên cứu về đặc sắc nghệ thuật thơ Chế Lan Viên : Một là luận án tiến
sĩ Ngữ Văn của Hồ Thế Hà “ Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên” và
bản kia là luận án phó tiến sĩ “ Những nét đặc sắc cơ bản của hình thức
nghệ thuật thơ Chế Lan Viên từ sau 1945” của Đoàn Trọng Huy. Trong
các bài viết, các tác giả đã nhận thấy và khẳng định biện pháp đối lập như
Tư duy đối lập tương phản trong thơ Chế Lan Viên
Vũ Thị Thu Hoàn – Cao học Văn K52
8
một nét đặc sắc trong tư duy thơ Chế Lan Viên . Hồ Thế Hà từng nhận
xét: “ Chế Lan Viên vận dụng và sáng tạo nhiều phương thức tư duy nghệ
thuật, trong đó nổi lên phương pháp đối lập và so sánh, mang dấu ấn
lí và triết học như nhà thơ từng làm. Chế Lan Viên làm thơ và tự do triết
lí bằng chính tư duy đối lập. Điều này tạo nên những bài thơ đầy cá tính,
độc đáo, trí tuệ. Có thể nói, nghiên cứu hình thức thơ Chế Lan Viên mà
bỏ qua địa hạt này quả là điều đáng tiếc. Vì tất cả những lí do trên, trong
bản luận văn này, người viết chọn tư duy đối lập tương phản trong thơ
Chế Lan Viên làm đối tượng nghiên cứu chính. Có thể nói, nghiên cứu về
tư duy thơ Chế Lan Viên là một vấn đề không dễ dàng. Trong bản luận
văn này, người viết sẽ trình bày về tư duy đối lập tương phản như cội
nguồn làm nên một Chế Lan Viên ưa triết lí trong thơ. Viết về tư duy thơ,
người viết cũng không thể bỏ qua quan niệm nghệ thuật của tác giả, cái
tôi trữ tình trong thơ, các hình ảnh biểu tượng cũng như cách tổ chức thời
gian, không gian nghệ thuật.
3. Mục đích và đối tƣợng nghiên cứu
Nhắc đến tư duy - một vấn đề khá trừu tượng - quả là vấn đề không dễ
và bàn về tư duy thơ của một nhà thơ như Chế Lan Viên càng khó
hơn Vì, làm thơ không phải là có gì nói lấy, nghĩ gì viết lấy. Chúng ta
không thể phủ nhận để có một bài thơ hay để lại ấn tượng cho người đọc
nhà thơ đã phải miệt mài bỏ biết bao công sức lao động nghệ thuật một
cách nghiêm túc như thế nào. Vấn đề không đơn thuần nằm trong nội
dung câu thơ hay bài thơ nữa mà nó còn liên quan đến hình thức. Ý thơ
sẽ được triển khai ra sao, dùng hình ảnh biểu tượng nào, thể loại nào là
thích hợp điều đó còn phụ thuộc vào từng nhà thơ và lối tư duy nghệ
thuật của họ. Nói về tầm quan trọng của tư duy văn học, Chế Lan Viên
từng viết: “ Nghe ngóng, quan sát, lấy tài liệu cũng chỉ giúp ta nắm
chân lí lấy một nửa. Còn một nửa nữa là phải biết vận dụng tư duy”.
Chính vì thế, suy nghĩ đơn giản, một chiều là điều rất xa lạ với nhà thơ.
Ông luôn tạo cho thơ mình nhiều tầng nhiều vẻ nhờ vào sức liên tưởng,
tưởng tượng phong phú và ngay trong liên tưởng, với lối tư duy quen
nhìn sự vật từ hai phía tương phản, nhà thơ đã tạo nên những hình ảnh
Tư duy đối lập tương phản trong thơ Chế Lan Viên
sáng trí tuệ . Đó chính là đối tượng nghiên cứu của chúng tôi.
Tư duy đối lập tương phản trong thơ Chế Lan Viên
Vũ Thị Thu Hoàn – Cao học Văn K52
11
Hơn nữa, vì sự nghiệp thơ Chế Lan Viên quá đồ sộ và không phải
bài thơ nào của ông cũng sử dụng biện pháp đối lập, chúng tôi chỉ dừng
lại ở những bài thơ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, đặc biệt là những
bài thơ tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của nhà thơ trong các tập
Điêu tàn, Ánh sáng và phù sa, Di cảo thơ. Các tập thơ khác cũng được
nghiên cứu nhưng với mức độ kém sâu hơn.
Ngoài ra vì Chế Lan Viên không chỉ là một nhà thơ mà ông còn là
nhà phê bình sắc sảo, nhà lí luận độc đáo có rất nhiều các bài nghiên cứu
phê bình, tiểu luận về thơ, về nghề. Đây là tài liệu quý để chúng tôi tìm
hiểu tham khảo giúp cho việc đánh giá được khách quan và chính xác
hơn.
Trong quá trình phân tích, chúng tôi cũng lấy một số bài thơ của
các tác giả cùng thời hoặc khác thời để đối chiếu so sánh nhằm làm nổi
bật vấn đề.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê, khảo sát.
- Phương pháp so sánh đối chiếu.
- Phương pháp phân tích, chứng minh, tổng hợp.
5. Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 3 phần. Ngoài phần mở đầu được nhắc tới ở trên và
phần kết luận, trong phần nội dung chính chúng tôi chia làm các chương
sau:
Chương 1: Tư duy thơ và hành trình sáng tạo của nhà thơ Chế Lan Viên
1. Tư duy đối lập làm nên một Chế Lan Viên ưa triết lí…
2. ….Và hành trình sáng tạo của nhà thơ Chế Lan Viên
Tư duy đối lập tương phản trong thơ Chế Lan Viên
Vũ Thị Thu Hoàn – Cao học Văn K52
13
B. NỘI DUNG CHÍNH
Chƣơng 1: Tƣ duy thơ
và hành trình sáng tạo của nhà thơ Chế Lan Viên
1. 1. Tƣ duy đối lập làm nên một Chế Lan Viên ƣa triết lí
Từ cổ chí kim có biết bao quan niệm khác nhau về chức năng của
thơ ca. Thời trung đại, quan niệm “ thi dĩ ngôn chí” ( làm thơ để tỏ rõ cái
chí khí của mình) đã biến thơ trở thành công cụ giáo huấn đạo đức, giữ
gìn phong hóa kỉ cương, tôn trọng trật tự xã hội. Đến Phan Bội Châu- một
chí sĩ yêu nước đầu thế kỉ XX- văn chương lại gắn liền với chức năng
tuyên truyền tư tưởng yêu nước, quan điểm chính trị. Ông viết rất nhiều
bài thơ để “thức tỉnh” thế hệ trẻ : Xuất dương lưu biệt, Ru em,….Cùng
quan niệm này, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu viết: “ Chở bao nhiêu đạo
thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng tòe”. Đến Tản Đà –
nhà thơ vốn được mệnh danh là gạch nối giữa hai thế kỉ, người mở ra
nhưng không dám bước hẳn qua địa hạt của Thơ Mới thì quan niệm về
văn chương lại có sự đổi khác: Tản Đà cho rằng có văn có ích có văn
chơi. Như vậy, văn chương nói chung và thơ ca nói riêng không chỉ có
mục đích nhận thức, giáo hóa mà nó còn được dùng để giải trí, trước tiên
Nghiên cứu tư duy thơ không thể tách rời hành trình sáng tạo của nhà
thơ với tư cách là một nghệ sĩ ngôn từ. Tư duy thơ là một hình thức biểu
hiện của tư duy nghệ thuật trong đó tư duy nghệ thuật lại chịu sự chi phối
mạnh mẽ của thế giới quan và nhân sinh quan của người sáng tạo. Tư duy
nghệ thuật khác với tư duy khoa học: tư duy nghệ thuật chấp nhận một
khả năng tưởng tượng dường như vô tận của nghệ sĩ nhưng trí tưởng
tượng phi thực tế lại trái với tư duy khoa học.
Như chúng ta đã biết, chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ là chức
năng giao tiếp. Nhưng ngôn ngữ không chỉ có một chức năng như vậy.
Gắn liền với chức năng giao tiếp, ngôn ngữ còn có một chức năng khác
nữa cũng đặc biệt quan trọng, liên quan đến tư duy, đó là chức năng phản
ánh. Ngôn ngữ và tư duy vốn có mối quan hệ khăng khít, thống nhất.
Tư duy đối lập tương phản trong thơ Chế Lan Viên
Vũ Thị Thu Hoàn – Cao học Văn K52
15
Không có ngôn ngữ thì cũng không có tư duy( bởi tư duy được bộc lộ qua
ngôn ngữ). Ngược lại không có tư duy thì ngôn ngữ, nếu có, cũng chỉ là
những âm thanh trống rỗng, vô nghĩa. Vì vậy, không thể tách rời ngôn
ngữ và tư duy.
Tư duy thơ là một phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật. Khác
với các ngành nghệ thuật hội hoạ, âm nhạc, kiến trúc, điêu khắc, tư duy
thơ được biểu hiện trực tiếp và thông qua ngôn từ. Chẳng thế mà có nhà
nghiên cứu đã nhận xét: “ Tư duy thơ là một phương thức nhận thức và
biểu lộ tình cảm của con người bằng hình tượng ngôn ngữ”. Có thể nói,
ngôn từ- vỏ vật chất của tư duy- đã giúp cho chủ thể bộc lộ cảm xúc, tâm
trạng một cách tự nhiên, linh hoạt. Chúng ta đều biết, ngôn ngữ tiếng Việt
vừa giàu hình ảnh lại giàu nhịp điệu, thơ ca vì thế vừa là địa hạt của thị
giác vừa là địa hạt của thính giác, trong thơ vừa có nhạc vừa có hoạ. Tư
duy thơ thường được biểu hiện thành dòng phát ngôn trên văn bản và
“ Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”
Tóm lại, rất nhiều nhà thơ, nhà nghiên cứu đồng tình rằng thơ phải là
tiếng nói của tâm hồn, tình cảm chứ không phải của lí trí. Vậy thì tại sao
những câu thơ vốn đậm chất lí trí, trí tuệ của Chế Lan Viên lại có sức
cuốn hút hấp dẫn đối với người đọc đến vậy? Phải chăng bởi vì nhà thơ
đã rất thông minh khi viết bằng tình cảm nồng nhiệt và thêm chút gia vị
của lí trí để câu thơ của mình không quá nhạt nhẽo. Chế Lan Viên đã biết
kết hợp hài hòa giữa lí trí và cảm xúc.
Chế Lan Viên là nhà thơ mạnh cả về tư duy hình tượng lẫn tư duy
lôgic. Tư duy thơ Chế Lan Viên mang dấu ấn cá nhân rất rõ. Nhà thơ đã
vận dụng được sức mạnh của tư duy khoa học biện chứng và phép đối,
đặc biệt là đối nghịch của thơ truyền thống để tạo nên những vần thơ gợi
được những cảm nhận kỳ thú và suy tư sâu xa.
Có thể nói, lối tư duy theo hướng đối lập tương phản đã tạo nên
một Chế Lan Viên ưa triết lí trong thơ. Ông hay tận dụng tối đa các kiểu
so sánh và đối lập để tạo hiệu quả “ chân lí loé lên từ khoảng giữa hai đối
Tư duy đối lập tương phản trong thơ Chế Lan Viên
Vũ Thị Thu Hoàn – Cao học Văn K52
17
cực”. Nhiều tứ thơ bắt nguồn từ cái cụ thể, lấy đó làm điểm xuất phát
nhưng vẫn có xu hướng muốn nâng lên tầm khái quát, triết lí:
“Ở đâu hạnh phúc chén đầy, đây chỉ chén vơi
Một hạt tấm con no suốt một đời”
Sức khái quát của câu thơ chính là dựa vào tương phản: đầy – vơi,
một hạt tấm - suốt một đời để từ đó, chân lí đến thẳng với người đọc:
Hạnh phúc là nhỏ nhoi nhưng đáng quý, đáng trân trọng, cần nâng niu giữ
gìn nó.
Điểm mạnh của thơ Chế Lan Viên là tính thông minh, chất tài hoa
Diệu thổi vào hoa cái nhìn của một người đang yêu: Hoa chính là vật
trung gian của tình yêu đầu:
“ Anh tặng cho em hoa ngọc trâm
Lá biếc đơn sơ, cánh nuột nà
Rung rinh trên nước một cành hoa
Một cành chụm nở hoa hai đoá,
Ôi, cái đêm đầu hợp giữa ta”
( Hoa ngọc trâm )
Cũng viết nhiều về hoa nhưng Chế Lan Viên lại có thiên hướng
phát hiện ý nghĩa triết lí và khả năng thức gợi của các loài hoa qua màu
sắc và hương thơm của chúng. Trong đôi mắt sắc sảo của ông, sắc màu là
thứ ngôn ngữ kỳ diệu. Hoa trong thơ ông luôn gắn với sắc màu: hoa súng
hồng, hoa súng tím, hoa xoan trắng, cành mai vàng, hoa hồng đỏ,…Từ
màu sắc của hoa, nhà thơ tìm ra ý nghĩa biểu tượng tình cảm:
“ Anh tặng em yêu chùm hoa sắc trắng
Nhưng khi yêu, anh yêu đỏ hoa hồng”
( Hoa trắng đỏ )
Sắc hoa, vốn tự nó đã nói rất nhiều thay cho tình cảm con người.
Tặng người yêu chùm hoa trắng trong khi lại yêu sắc đỏ của hoa hồng. Có
gì mâu thuẫn ở đây chăng? Chỉ những người đang yêu mới trả lời nổi.
Nếu Xuân Diệu chú ý đến loài hoa cụ thể ( hoa ngọc trâm) thì với Chế
Lan Viên, ông chỉ quan tâm đến sắc màu của hoa mà thôi ( chùm hoa sắc
Tư duy đối lập tương phản trong thơ Chế Lan Viên
Vũ Thị Thu Hoàn – Cao học Văn K52
19
trắng ). Rõ ràng ở đây sự chung chung gợi cho người đọc nhiều liên
tưởng sâu xa. Dường như, không quan trọng là loại hoa nào mà màu hoa
tự nó đã nói lên tất cả. Đôi khi, hoa trong thơ Chế Lan Viên còn có khả
năng thức gợi đặc biệt:
Càng sinh trưởng ở bể sâu
Tiền sử của ngọc trai là thế đấy
Ăn con sóng mà nuôi giọt máu
Rồi trong veo lí lịch của mình”
( Ngọc- Di cảo III)
Một loạt các triết lí về sự hình thành của ngọc được trực tiếp nảy
sinh từ các mệnh đề tương phản đặt kề bên nhau: thô bạo của thuỷ triều –
yên tĩnh; lăng nhục của bùn, tàn bạo của sóng - phẩm giá ngọc; bể sâu -
ngọc dữ;…Từ các quan hệ ấy, bật lên ý nghĩa khái quát: viên ngọc nói
riêng và những thứ quý giá nói chung bao giờ cũng phải trải qua một quá
trình tôi luyện, thử thách mới thành (điều này giống với câu tục ngữ của
cha ông ta: “ Có công mài sắt, có ngày nên kim”). Để thành một viên
ngọc đẹp, ngọc đã trải qua một quá trình “ thử lửa” : đối mặt với bùn,
thuỷ triều, với bể sâu, sóng dữ. Ngọc được định hình và sinh thành từ nỗi
đau, đó chính là “tiền sử” của Ngọc mà tác giả muốn gửi gắm đến người
đọc. Ý nghĩa ấy, nếu tách riêng từng mệnh đề đối lập ra thì sẽ không thể
có được.
Một điều dễ nhận thấy là, khái quát triết luận trong thơ Chế Lan
Viên luôn bật lên từ các hình ảnh ý tưởng tương phản với nhau. Khi thì
Chế Lan Viên nhận ra: “ Là chân lí Bác chẳng nói nhiều hơn chân lí”,
khi thì ông chiêm nghiệm: “ Lòng yêu đời là một thanh kiếm sắc”, lúc lại
thấm thía một điều tưởng chừng vô lí: “ Một sắc máu im lìm / Mà chuyển
rung thế giới”
Tất cả, một cách tự nhiên được bộc lộ thông qua đối lập, tạo nên sự
hài hoà về nội dung cũng như hình thức. Tính triết lí trong thơ Chế Lan
Viên vì vậy mà thêm phần sắc sảo, có sức khơi gợi suy nghĩ từ phía
người đọc. Bởi, người ta dễ bỏ qua những cái “quen” mà dừng lại lâu
Tư duy đối lập tương phản trong thơ Chế Lan Viên
Vũ Thị Thu Hoàn – Cao học Văn K52
Tư duy đối lập tương phản trong thơ Chế Lan Viên
Vũ Thị Thu Hoàn – Cao học Văn K52
22
báo bão, Hoa trước Lăng Người, Hoa trên đá. Với những tập thơ này,
Chế Lan Viên đã chuyển ngòi bút sầu đau mang đậm chất hư vô, siêu
hình trong Điêu tàn sang những vần thơ giàu tính tư tưởng, triết lý sâu
sắc, mới mẻ. Tập thơ “Ánh sáng và phù sa” là một thành công của tác
giả trên nhiều phương diện, đánh dấu bước đổi mới của thơ ca Việt Nam
lúc bấy giờ: “ Sau hai mươi lăm năm, kể từ Thơ Mới ra đời đến lúc “Ánh
sáng và phù sa”, thơ Việt Nam đã xuất hiện một thi pháp mới, một giọng
điệu mới, một cách nghĩ, cách cảm mới” [ 25, tr 112]
Suốt cả cuộc đời, Chế Lan Viên đã viết đến hơn 10 tập thơ, làm
nên một đời thơ mạnh mẽ, bề thế. Đó là chưa kể hơn 600 bài thơ trong
các tập Di cảo xuất bản sau khi Chế Lan Viên mất mà theo các nhà
nghiên cứu văn học, chỉ riêng Di cảo cũng đủ làm nên một tầm vóc thơ ca
lớn. Điều đáng nói là để có thể sống và sáng tác văn học nghệ thuật thì
hầu như ai cũng cần phải có được sự tổng hoà của 3 yếu tố: trí, tâm, tài
đến mức cần thiết. Nhưng với Chế Lan Viên thì các yếu tố này đều quá
lớn, quá sắc sảo và nhạy cảm. Điều đó khiến cho thơ Chế Lan Viên
phong phú về mặt nội dung, biên độ cảm xúc của ông rất rộng, đề tài thơ
ông viết là muôn mặt của cuộc đời. Có khi ông nghe thấy những biến
động nhỏ bé của tâm hồn con người trong những tình cảm riêng tư nhưng
ông cũng chia sẻ kịp thời những tình cảm rộng lớn của toàn dân tộc.
Chế Lan Viên cũng rất phong phú về giọng điệu. Nhà thơ Vũ
Quần Phương, người đã dày công nghiên cứu các tác phẩm của Chế Lan
Viên nói về điều này như sau: "Có lúc thơ ông thầm thì trò chuyện, nói
tiếng thở dài trong một câu thơ ngắn, lúc ông sang sảng hùng biện, thơ
âm vang như cáo, như hịch, lúc mát mẻ lạnh lùng trong kiểu thơ ngụ
ngôn, lúc bừng bừng giận giữ trong hơi thơ đả kích, khi thâm trầm ung
( Gắn huân chương, Ánh sáng và phù sa )
Nhưng nếu cần, ông có thể mở rộng biên độ để tạo nên những câu
thơ dài có khả năng ôm trùm hiện thực.
Xanh biếc màu xanh, bể như hàng nghìn mùa thu qua còn để tâm
hồn nằm đọng lại
Sóng như hàng nghìn trưa xanh trời đã tan xanh ra thành bể và
Tư duy đối lập tương phản trong thơ Chế Lan Viên
Vũ Thị Thu Hoàn – Cao học Văn K52
24
thôi không trở lại làm trời.
Nếu núi là con trai, thì bể là phần yểu điệu nhất của quê hương đã
biến thành con gái
Mỗi đêm hè, da thịt sóng sinh sôi.
Ôi! Hay chính lòng ta là bể?
Đến đây nằm để yêu gần, yêu sát mỗi tầng than
Thoảng tí gió, gợn màu mây, nhạt tí nắng, ửng sắc trời, ló vầng trăng,
hay chỉ vô tình là con chim bay, con cá đớp.
(Cành phong lan bể, Ánh sáng và phù sa )
Bóng ngày nay che lên đầu ngày mai hạnh phúc
Như một trận vui dài, như một tiếng chuông ngân.
( Giữa tết trồng cây, Ánh sáng và phù sa )
Chế Lan Viên sáng tạo nhiều cách ngắt nhịp, nhiều kiểu qua hàng,
nhiều lối buông vần cho phù hợp với cảm xúc nội tâm:
Còng lưng tưới nước. Vạt rau khô
Bơm hỏng mà đâm khổ cả nhà
Đêm ngủ chỉ toàn lo vật giá
Xa dần truyện ngắn, bớt dần thơ
(Đời thường)
Chỉ một ngày nữa thôi. Em sẽ
tính sáng tạo của nhà thơ đó. Nếu Huy Cận thường tư duy theo hướng
“nhìn nhận con người, cuộc đời và thiên nhiên qua sự sống cỏ cây hoá
sinh vô tận” thì Chế Lan Viên có khuynh hướng nhìn sự vật từ hai bề đối
lập. Nếu “ ví von trở thành phương thức tư duy nghệ thuật cơ bản của Tố
Hữu” thì với Chế Lan Viên phương thức đó là đối lập. Khác với phong
cách của những nhà thơ thường chỉ chú ý đến hoà âm và muốn tìm đến sự
hài hoà, Chế Lan Viên thích sử dụng những nghịch âm và muốn chân lí
loé lên từ khoảng giữa hai cực đối lập. Chính điều này đã tạo nên một
mạch thơ hết sức độc đáo không lẫn với bất cứ ai.
Khác với tư duy lôgic, thơ vốn tư duy bằng hình tượng nên nó có
khả năng rộng rãi cho sự tưởng tượng, liên tưởng (tương đồng và nghịch
chiều ). Lối liên tưởng nghịch chiều trong thơ Chế Lan Viên xuất hiện
Tư duy đối lập tương phản trong thơ Chế Lan Viên
Vũ Thị Thu Hoàn – Cao học Văn K52
26
khá đậm đặc và đây cũng chính là cơ sở cho biện pháp đối lập tương
phản. Nhờ đó, thơ mở ra nhiều chiều hướng suy tưởng, chấp nhận cả
những điều phi thực tế nhất. Tư duy thơ chấp nhận một khả năng liên
tưởng dường như vô tận của nhà thơ, đó là địa hạt cho cảm xúc thăng
hoa.
Câu nói nổi tiếng : “ To be or not to be” ( Tồn tại hay không tồn
tại) của Hămlét cho thấy được vai trò của chủ thể trong nhận thức. Con
người chỉ tồn tại khi nó biết tư duy (con người hiểu theo nghĩa là một cá
thể đơn nhất, một cái tôi cá biệt). Vậy có gì khác nhau giữa cái tôi tác giả
và cái tôi trữ tình trong thơ? Cần phải nói rằng: Cái tôi của tác giả ngoài
đời không hoàn toàn đồng nhất với cái tôi trữ tình trong thơ tuy chúng có
mối quan hệ trực tiếp và thống nhất với nhau. Trong nhiều bài thơ đôi khi
ta thấy hai cái tôi này quyện hoà làm một. Và không có gì sai khi có nhà
nghiên cứu đã nhận xét: Nhân vật chính trong thơ Chế Lan Viên là bản
nhân dân trong Ánh sáng và phù sa. Một con người luôn đan xen nhiều
tâm trạng: thoắt vui, thoắt buồn, khi đau khổ lúc hạnh phúc, vừa thất
vọng lại vừa hi vọng.
Nhìn tổng quát, chúng ta có thể thấy sự vận động biến đổi của cái
tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên phát triển, biến đổi song hành cùng
các chặng đường tư tưởng và sáng tác của ông. Nếu xét theo chiều lịch
đại, có thể chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn trước cách mạng (trước năm
1945), giai đoạn trong cách mạng (sau năm 1945) và giai đoạn sau cách
mạng (những năm 80 trở về sau). Mỗi giai đoạn, cái tôi trữ tình có màu
sắc riêng, có sự khác nhau thậm chí phủ định nhau. Chính sự vận động
của cái tôi đã dẫn đến sự thay đổi về quan điểm nghệ thuật, quan niệm
thẩm mỹ và hình tượng thơ.
1.3.1.Giai đoạn trƣớc cách mạng
Trước cách mạng, cùng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên là chủ
tướng của nhóm thơ Bình Định với cái tên Trường thơ loạn. Qua tập Điêu
tàn, Chế Lan Viên đưa ra một quan niệm thơ độc đáo: “Hàn Mặc Tử nói:
làm thơ tức là điên. Tôi nói thêm: làm thơ là làm sự phi thường. Thi sĩ
không phải là người. Nó là người Mơ, người Say, người Điên. Nó là Tiên,