ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ TUYẾT NGA
VAI TRÒ CỦA NỮ CÁN BỘ TRONG CÔNG TÁC GIẢNG DẠY VÀ
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TẠI ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
(Nghiên cứu tại Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn và
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội- 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐHQG HN: Đại học quốc gia Hà Nội
ĐHKHXH&NV: Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn
ĐHKHTN: Đại học Khoa học Tự nhiên
CBVC: Cán bộ viên chức
NCKH: Nghiên cứu khoa học
NCS: Nghiên cứu sinh
GS: Giáo sƣ
PGS: Phó Giáo sƣ
TS: Tiến sĩ
Th.s: Thạc sĩ
2
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng
Bảng 2.1. Số liệu về đội ngũ giảng viên một số đơn vị đào tạo
29
Bảng 2.2. Số lượng công trình khoa học công bố giai đoạn 2006-2008
31
Bảng 2.3. Khối lượng giảng dạy của cán bộ nữ
35
Bảng 2.4. Tham gia làm chủ nhiệm đề tài NCKH các cấp phân theo giới
tính (2000-2004)
47
Bảng 2.5. Số lượng giáo trình của nam, nữ giảng viên trong 5 năm qua
48
nam cán bộ (%)
39
Biểu đồ 2.6. Các thế hệ nhà khoa học nữ ĐHQGHN
41
Biểu đồ 2.7. Tương quan giới với việc tham gia đề tài các cấp
trong 5 năm gần đây
44
Biểu đồ 2.8. Tương quan giới về chủ trì đề tài
45
Biểu đồ 2.9. Tương quan giới về bài viết đăng tạp chí
49
Biểu đồ 2.10. Nhận xét về năng lực NCKH của nữ cán bộ
50
Biểu đồ 2.11. Nhận xét về năng lực NCKH của nữ cán bộ so với nam
cán bộ
51
Biểu đồ 2.12. Thái độ ủng hộ nữ cán bộ làm chủ nhiệm đề tài
52 3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trƣớc năm 1945, trên 90% dân số Việt Nam mù chữ, cùng với những
ảnh hƣởng nặng nề của tƣ tƣởng “trọng nam khinh nữ” hầu hết phụ nữ nƣớc
ta không đƣợc học hành. Thời kỳ trƣớc giải phóng miền Bắc (1954) có rất ít
phụ nữ đƣợc học tập và không có phụ nữ là giảng viên đại học. Lĩnh vực
Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) là một trung tâm đào tạo đại
học, sau đại học, nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ đa ngành, đa
lĩnh vực, chất lƣợng cao hàng đầu, đóng vai trò nòng cốt trong hệ thống giáo
dục đại học của cả nƣớc. Đại học quốc gia Hà Nội bao gồm các trƣờng
thành viên: Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên, Trƣờng Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn, Trƣờng Đại học Ngoại ngữ, Trƣờng Đại học Công
nghệ, Trƣờng Đại học Kinh tế, Trƣờng Đại học Giáo dục và các viện nghiên
cứu khoa học, các khoa, các trung tâm nghiên cứu trực thuộc. Tổng số cán
bộ viên chức của ĐHQGHN hiện nay là 2.387 ngƣời, trong đó có 1.611
giảng viên và nghiên cứu viên. ĐHQGHN có 266 GS, PGS (chiếm 16.5%),
555TS và TSKH (chiếm 34,45%). Nhìn tổng quát, cán bộ giảng viên và
nghiên cứu viên của ĐHQGHN đƣợc đánh giá là mạnh cả về số lƣợng và
chất lƣợng so với các trƣờng đại học trong nƣớc, nhiều giáo sƣ đầu ngành
có uy tín không chỉ trong nƣớc mà cả trong khu vực và thế giới. Nhiều đề tài
nghiên cứu khoa học cấp Trƣờng, cấp Bộ, cấp Nhà nƣớc, các công trình
nghiên cứu hợp tác quốc tế của các cán bộ nữ từ nhiều lĩnh vực đào tạo
chuyên môn khác nhau đã góp phần phục vụ thiết thực cho việc giảng dạy,
học tập, nghiên cứu khoa học của tập thể cán bộ và sinh viên. Cùng với việc
hoàn thành tốt công tác ở trƣờng, nữ cán bộ luôn chăm lo xây dựng cuộc
sống gia đình, dành thời gian cho việc nhà, chăm sóc các thành viên và nuôi
dạy con cái. Có thể nói, những thành tích trong công việc ở trƣờng đã phần
nào phản ánh sự đóng góp to lớn của các nữ tri thức. Nhƣng khác với nam
trí thức và nam cán bộ, nữ trí thức phải gánh trọng trách gia đình bên cạnh
việc của Khoa, Trƣờng. Làm thế nào phụ nữ có thể hài hoà giữa công việc
gia đình với những đòi hỏi ngày càng cao của nghiên cứu và giảng dạy là
một thách thức rất lớn đối với không ít ngƣời, nhất là các nữ trí thức trẻ.
6
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu vai trò của nữ cán bộ trong công tác giảng dạy và NCKH
tại ĐHQGHN.
Phân tích một số yếu tố tác động đến việc thực hiện vai trò của nữ
cán bộ trong công tác giảng dạy và NCKH tại ĐHQGHN.
Góp phần đƣa ra một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của nữ cán
bộ trong công tác giảng dạy và NCKH tại ĐHQGHN.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thao tác hoá các khái niệm công cụ và vận dụng các lý thuyết liên
quan đến vai trò của nữ cán bộ trong công tác giảng dạy và nghiên
cứu khoa học tại Trƣờng ĐHKHXH&NV và Trƣờng ĐHKHTN.
Mô tả và phân tích vai trò của nữ cán bộ trong công tác giảng dạy
theo tín chỉ và trong hoạt động NCKH.
Phân tích các yếu tố tác động (chính sách của nhà nƣớc; quy chế
của trƣờng; điều kiện gia đình và bản thân nữ cán bộ) đến việc
thực hiện vai trò của nữ cán bộ trong công tác giảng dạy và NCKH
tại ĐHQGHN.
Đƣa ra các khuyến nghị phù hợp nhằm nâng cao vai trò của các nữ
giảng viên trong công tác giảng dạy và NCKH.
4. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của nữ cán bộ trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa
học tại ĐHQGHN.
soạn giảng lại, phƣơng pháp giảng dạy cũng có thay đổi. Giảng viên dạy
8
môn học nào thì xây dựng đề cƣơng môn học đó, soạn giáo trình, lên lớp,
kiểm tra việc học tập của sinh viên. Theo quy định, hàng tuần, tháng mỗi
sinh viên phải nộp một bài tập cá nhân, phải làm bài tập nhóm, giảng viên
phải mất rất nhiều thời gian chấm bài để đánh giá kết quả học tập của sinh
viên. Với những điều kiện nhƣ vậy đã tác động đến vai trò của cả nam và nữ
cán bộ trong công tác giảng dạy và NCKH, đặc biệt là đối với nữ cán bộ.
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng lý thuyết vị trí- vai trò và lý
thuyết giới để phân tích vai trò của nữ cán bộ trong việc giảng dạy và
NCKH của nữ cán bộ trong trƣờng đại học; phân tích những yếu tố tác động
đến vai trò nữ cán bộ.
Do vị thế xã hội luôn gắn liền với những trách nhiệm và quyền hạn
kèm theo nên nó luôn ràng buộc con ngƣời. Về mặt xã hội học, mỗi cá nhân
trong xã hội đều có một vị trí xác định. Vai trò xã hội của cá nhân đƣợc xác
định trên cơ sở các vị thế xã hội, tƣơng ứng với từng vị thế sẽ có một mô
hình hành vi đƣợc xã hội mong đợi. Nhƣ vậy, với vai trò là giảng viên, nữ
cán bộ đƣợc nhà trƣờng và sinh viên mong đợi những gì? Và trong gia đình,
với vai trò là ngƣời vợ, ngƣời mẹ, các thành viên gia đình mong đợi gì ở họ?
Liệu với vai trò quan trọng nhƣ vậy họ đã có một vị thế xứng đáng chƣa?
Lý thuyết nữ quyền đƣợc lựa chọn để giải thích về những định kiến
giới trong xã hội. Nam và nữ không đƣợc hƣởng chế độ giáo dục nhƣ nhau
nên không thể nói phụ nữ không có khả năng trí tuệ nhƣ nam giới. Hơn nữa,
phụ nữ phải mang trách nhiệm nặng nề trong gia đình nên không có nhiều
thời gian để phấn đấu. Muốn thay đổi vị thế của phụ nữ trong xã hội thì phải
thay đổi vai trò của họ, thông qua cải cách và giáo dục một cách công bằng
Nhóm tuổi
Số lƣợng
Tỷ lệ (%)
Dƣới 30 tuổi
42
21.6
Từ 31t-45t
86
44.7
Trên 45t
65
33.7
Tổng cộng
194
100.0
* Đơn vị công tác
Trƣờng
Số lƣợng
Tỷ lệ (%)
Trƣờng ĐHKHXH&NV
89
45.8
Trƣờng ĐHKH Tự nhiên
105
54.2
Tổng cộng
194
100.0
5.2.2 Phỏng vấn sâu
Phỏng vấn nhằm thu thập các thông tin cụ thể về công tác giảng dạy
và nghiên cứu khoa học, những yếu tố tác động đến cán bộ nữ. Tổng số
phỏng vấn sâu 20 ngƣời, bao gồm:
+ 10 cán bộ nữ giảng dạy tại Trƣờng ĐHKHXH&NV và Trƣờng
ĐHKHTN. Trong đó có 4 nữ cán bộ quản lý cấp khoa, trung tâm; 6 nữ
giảng viên.
+ 10 nam lãnh đạo và cán bộ của hai trƣờng, bao gồm: 2 cán bộ lãnh
đạo cấp phòng, 2 cán bộ quản lý cấp khoa và 6 nam giảng viên.
5.2.3 Phương pháp phân tích tài liệu
Tác giả đã sử dụng phƣơng pháp phân tích tài liệu để nắm bắt đƣợc
thực trạng của vấn đề nghiên cứu. Việc thu thập và phân tích tài liệu bao
gồm:
+ Các công trình nghiên cứu: luận án, luận văn, sách, báo, tạp
chí…có liên quan đến đề tài.
+ Tổng hợp các tƣ liệu có liên quan đến công tác giảng dạy và
nghiên cứu khoa học của các nữ cán bộ ở trƣờng đại học làm cơ sở cho đề
11
tài nghiên cứu. Phân tích các văn bản của ĐHQGHN và các đơn vị trực
thuộc, các Khoa, các phòng ban liên quan đến đề tài nghiên cứu.
5.2.4 Phương pháp quan sát
Tác giả thƣờng xuyên quan sát các hoạt động giảng dạy và NCKH
diễn ra tại 2 trƣờng thông qua các buổi học trên lớp, các buổi toạ đàm, hội
thảo khoa học, tham gia vào các nhóm triển khai NCKH tại Trung tâm
nghiên cứu Giới và Phát triển, Khoa Xã hội học Trƣờng ĐHKHXH&NV và
Khoa Môi trƣờng, Trƣờng ĐHKHTN.
Điều kiện
Kinh tế - Xã hội
ĐHQGHN Điều kiện
gia đình
Điều kiện
Bản thân
Vai trò của nữ cán bộ trong công tác
giảng dạy và nghiên cứu khoa học
Công tác giảng dạy
- Dạy đại học, cao
học
- Hƣớng dẫn sinh
viên, học viên cao
học, NCS
- Biên soạn giáo
trình, bài giảng Nghiên cứu khoa học
- Tham gia đề tài nghiên
cứu các cấp
+ Cấp trƣờng
6. Giả thuyết nghiên cứu
7. Khung lý thuyết
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu
CHƢƠNG 2. VAI TRÒ CỦA NỮ CÁN BỘ VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC
ĐỘNG ĐẾN VAI TRÒ CỦA NỮ CÁN BỘ TRONG CÔNG TÁC GIẢNG
DẠY VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
2.1 Vài nét về công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại ĐHQGHN
14
2.2. Nữ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại Trƣờng Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn và Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại
học Quốc gia Hà Nội
2.3. Những yếu tố tác động đến vai trò của nữ cán bộ trong công tác giảng
dạy và nghiên cứu khoa học
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
15
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lý luận
Quan điểm lý thuyết vị trí- vai trò trong đề tài này đƣợc sử dụng để
đánh giá vai trò của nữ cán bộ trong công tác giảng dạy và NCKH trong
trƣờng đại học, từ đó chỉ ra những yếu tố tác động đến việc thực hiện vai trò
của nữ cán bộ trong so sánh với nam cán bộ.
Các lý thuyết và trường phái nữ quyền
Cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, các phong trào nữ quyền ra đời
ở nhiều nƣớc phƣơng Tây. Các phong trào này có mục tiêu là xoá bỏ sự
thống trị của nhà nƣớc Tƣ sản với phụ nữ. Do tính đa dạng, phong trào nữ
quyền không phải là một khối thuần nhất mặc dù họ có cùng mục đích
chung là giải phóng phụ nữ. Nữ quyền là phong trào xã hội của phụ nữ
nhằm đấu tranh bảo vệ và mở rộng các quyền của phụ nữ, xoá bỏ chế độ
phụ quyền trên phạm vi toàn cầu. Một số đóng góp cơ bản của thuyết nữ
quyền là: 1) Lần đầu tiên, vấn đề “phụ nữ” đƣợc đặt ra trong các lĩnh vực
công cộng và riêng tƣ. Theo đó, vấn đề chế độ phụ quyền và quyền lực tuyệt
đối của chế độ này cũng đƣợc đem ra phân tích và chứng minh rằng nam
giới không thể đại diện cho phụ nữ trong xã hội và khoa học. 2) Mục đích
của nữ quyền là xây dựng một xã hội nhân đạo, công bằng và văn minh.
Xây dựng mối quan hệ đoàn kết, tƣơng tác giữa hai giới chứ không phải đối
lập hoặc phụ quyền thống trị.
Một số đại biểu kinh điển của thuyết nữ quyền: Ann Oakley- nhà nữ
quyền ngƣời Anh, ngƣời đã đƣa thuật ngữ giới vào XHH; Simone de
Beauvoir- ngƣời Pháp, tác giả cuốn “Giới tính thứ hai” đã có những tranh
luận với các nhà xã hội học kinh điển về giá trị nhân phẩm và vị trí của phụ
nữ với những tƣ tƣởng nhân văn sâu sắc. Tƣ tƣởng của bà đã soi sáng cho
các thế hệ sau cả về phƣơng pháp luận lẫn phƣơng pháp nghiên cứu nữ
quyền. 18
thế bằng một hệ thống xã hội, trong đó tƣ liệu sản xuất thuộc về mọi ngƣời.
Mọi ngƣời đều có quyền bình đẳng trong việc làm, đồng lƣơng, tƣ liệu sản
xuất là của chung, phụ nữ đƣợc tự do về kinh tế nhƣ nam giới. Chủ nghĩa xã
hội đã giải phóng phụ nữ mọi phƣơng diện, đƣa phụ nữ ra nền sản xuất xã
hội chủ nghĩa [20, tr 152]
1.1.2 Những khái niệm công cụ
* Khái niệm Giới
Giới là một thuật ngữ Xã hội học bắt nguồn từ môn Nhân loại học
nghiên cứu về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam
và nữ, bao gồm việc phân chia lao động, các kiểu phân chia, các nguồn và
lợi ích. Giới đề cập đến các quy tắc tiêu chuẩn theo nhóm tập thể chứ không
theo thực tế cá nhân. Vai trò giới đƣợc xác định theo văn hoá, không theo
khía cạnh sinh vật học và có thể thay đổi theo thời gian, theo xã hội và các
vùng địa lý khác nhau. Khi mới sinh ra chúng ta không có sẵn đặc tính giới.
Những đặc tính giới chúng ta có đƣợc là do chúng ta học đƣợc từ gia đình,
xã hội và nền văn hoá của chúng ta.
Giới không ám chỉ khái niệm nam giới hoặc phụ nữ với tƣ cách cá
nhân và nói tới quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ (tính thay đổi).
Quan hệ này thay đổi thời gian, theo hoàn cảnh kinh tế và xã hội. [20, tr. 43]
Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, đƣợc tạo
điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng
đồng, của gia đình và thụ hƣởng nhƣ nhau về thành quả của sự phát triển đó.
[20, tr. 45]
Định kiến giới
Định kiến giới là nhận thức, thái độ đánh giá thiên lệch, tiêu cực về
đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ. [20, tr.46]
Theo Luật khoa học và công nghệ: “Nghiên cứu khoa học là hoạt
động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã
hội và tư duy: sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn”
20
Nghiên cứu khoa học gồm:
- Nghiên cứu cơ bản là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính,
cấu trúc, động thái các sự vật, tƣơng tác trong nội bộ sự vật và mối liên hệ
giữa sự vật với các sự vật khác. Nói cách khác đó là hoạt động nhằm mục
đích tìm ra bản chất và các quy luật của hiện tƣợng tự nhiên và xã hội.
- Nghiên cứu ứng dụng là sự vận dụng kết quả thu đƣợc từ nghiên cứu
cơ bản, vận dụng những tri thức khoa học mới để giải thích một sự vật; tạo
ra những nguyên lý mới về các giải pháp và áp dụng chúng vào sản xuất và
đời sống. Mục đích của nghiên cứu ứng dụng là nhằm cải thiện, khám phá,
sáng tạo ra những cách thức mới, phƣơng thức hoạt động sản xuất mới hoặc
sản phẩm mới.
- Nghiên cứu triển khai là sự vận dụng các quy luật và các nguyên lý
để đƣa ra các hình mẫu với những tham số khả thi về kỹ thuật.
Trong luận văn này, tác giả sử dụng NCKH với nội hàm: 1) Sự tham
gia của nữ cán bộ vào các đề tài/ dự án (đề tài nghiên cứu cấp trƣờng, Đề tài
cấp Bộ/ Đại học quốc gia, cấp Nhà nƣớc hay các dự án của nƣớc ngoài, các
tổ chức phi chính phủ quốc tế và trong nƣớc); 2) Số lƣợng các ấn phẩm, tài
liệu đã đƣợc các nữ cán bộ biên soạn và xuất bản.
*Trường đại học (theo Quy chế tổ chức hoạt động của ĐHQGHN)
Trƣờng đại học là cơ sở đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu
khoa học của Đại học Quốc gia Hà Nội về một hoặc một số lĩnh vực chuyên
môn, kinh tế - xã hội liên quan với nhau.
Tác giả Lê Thị Quý trong bài viết “Phụ nữ trong đổi mới: thành tựu
và thách thức” đã khẳng định sự quan tâm của Đảng và Nhà nƣớc tạo điều
kiện cho phụ nữ phát triển, thể hiện qua các chính sách về lao động, việc
làm, giáo dục, y tế…Phụ nữ có mặt trong mọi hoạt động của nền kinh tế
quốc dân, kể cả những lĩnh vực yêu cầu cao về tri thức nhƣ khoa học công
nghệ, khoa học xã hội, quản lý. Đổi mới và phát triển không chỉ là định
hƣớng hành động chung của đất nƣớc mà còn là của chính phụ nữ. Bài viết
nêu một số thành tựu về bình đẳng giới, tác giả đã phân tích rất sâu sắc về
các vấn đề đặt ra trong những năm đổi mới.
22
Về đội ngũ nữ tiến sĩ Trƣờng ĐHKHXH&NV, tác giả Trần Thị Minh
Đức có bài viết “Sự phát triển của đội ngũ nữ tiến sĩ trƣờng Đại học Khoa
học Xã hội & Nhân văn” (2006) cho thấy những đóng góp to lớn của đội
ngũ cán bộ khoa học nữ đối với sự phát triển của Đại học KHXH&NV. Tác
giả đã phân chia ra 4 thế hệ các nhà khoa học nữ, đó là thế hệ sinh trƣớc
1940, thế hệ từ 1941- 1950, thế hệ từ 1951-1960 và thế hệ sau 1961 với
những thành tựu to lớn về các công trình khoa học.
Với bài báo khoa học “Giới và công tác NCKH tại ĐHQGHN” in tại
Kỷ yếu Toạ đàm khoa học quốc tế Chính sách khoa học và giáo dục ở Việt
Nam trong thời kỳ đổi mới (2004), tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa và Đặng
Ánh Nguyệt đã cung cấp số lƣợng và tỷ lệ nữ giảng viên đại học tại
ĐHQGHN năm 2004, tỷ lệ nữ chủ trì đề tài và tham gia viết bài đăng trong
Hội nghị khoa học nữ ĐHQGHN. Các tác giả còn chỉ ra một số nguyên
nhân của cán bộ nữ tham gia chƣa nhiều vào NCKH, đó là sự mâu thuẫn
giữa các vai trò của nữ giới trong gia đình, cộng đồng và xã hội, do định
kiến giới và do chính bản thân ngƣời phụ nữ. Theo các tác giả, cần phải đƣa
Nguyễn Thị Hà với Luận án “Định kiến giới đối với cán bộ nữ lãnh
đạo cấp cơ sở” đã chỉ ra thực trạng định kiến giới đối với lãnh đạo nữ cấp cơ
sở trên hai bình diện phẩm chất và năng lực, phân tích một số yếu tố chủ
quan và khách quan tác động đến định kiến giới này. Luận án cũng đã xác
định đƣợc một số biện pháp tác động thực nghiệm hƣớng vào việc tăng
cƣờng các quan niệm đúng đắn về giới, định kiến giới, đồng thời nâng cao
nhận thức về vị trí, vai trò của ngƣời phụ nữ và giảm thiểu định kiến giới
đối với đội ngũ này. Việc phân tích 02 trƣờng hợp tiêu biểu (01 nam và 01
nữ) trong số 20 ngƣời tham gia đã làm sâu sắc thêm kết quả nghiên cứu của
luận án.
Đề tài nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực khoa học và
công nghệ trong trƣờng đại học” của tác giả Trịnh Ngọc Thạch khẳng định
vai trò của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ trong trƣờng đại học, tình
hình sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học ở ĐHKHXH&NV và đề xuất một số
giải pháp tổ chức và quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng cán bộ khoa