ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN VĂN THỤC
VAI TRÒ CỦA QUỸ MÔI TRƯỜNG CỘNG ĐỒNG
TRONG HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TẠI CÁC VÙNG NÔNG THÔN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
và phát triển quỹ” do Trung tâm Phát triển Xã hội và Môi trường Vùng thực hiện tại
Hà Nam, Thanh Hoá, Bắc Giang trong 2 năm 2008-2009. Do đó, trước tiên tôi xin
bày tỏ lời cảm ơn chân thành của mình đối với Ban lãnh đạo Trung tâm Phát triển
Xã hội và Môi trường Vùng đã cho phép và tạo những điều kiện tốt nhất cho tôi
hoàn thành luận văn.
Bên cạnh đó, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS.TS. Phạm Bích San vì
đã có những chỉ dẫn, động viên quý báu trong suốt quá trình thực hiện luận văn của
tôi. Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa Xã hội học, Trợ lý
Đào tạo sau Đại học, các thầy, các cô trong và ngoài Khoa đã chỉ bảo tận tình tôi
trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn mọi sự giúp đỡ từ người thân, đồng nghiệp những người
đã luôn ủng hộ, hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện luận văn của mình.
Mặc dù đã có nhiều có gắng, tuy nhiên luận văn của tôi không thể tránh khỏi những
thiếu sót, do đó tôi rất mong nhận được những ý kiến đánh giá, bổ sung để tôi có thể
hoàn thiện luận văn của mình./.
Xin trân trọng cảm ơn! Hà Nội, tháng 12 năm 2009
Học viên Nguyễn Văn Thục1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1.1. Lý do chọn đề tài. 4
1.2. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. 6
1.2. Mô hình quản lý các quỹ môi trường cộng đồng tại xã Tân Sơn và xã
Bích Sơn. 28
1.2.1. Vấn đề tài chính của các quỹ môi trường cộng đồng. 38
1.2.2. Quy chế họat động của các quỹ môi trường cộng đồng. 43
CHƯƠNG 2. VAI TRÒ CỦA CÁC QUỸ MÔI TRƯỜNG CỘNG ĐỒNG
TRONG HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC VÙNG 48
NÔNG THÔN HIỆN NAY. 48
2.1. Tóm lược một số vấn đề môi trường tại các địa bàn khảo sát. 48
2.2. Hoạt động của quỹ môi trường cộng đồng. 49
2.3. Vai trò của quỹ môi trường cộng đồng đối với hoạt động bảo vệ môi
trường tại các vùng nông thôn hiện nay. 56
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 66
3.1. Kết luận. 66
3.2. Một số khuyến nghị. 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Biểu đồ 2.1. Các hoạt động của quỹ môi trường cộng đồng
50
Biểu đồ 2.2. Đánh giá hiệu quả các hoạt động tuyên truyền về môi trường
53
Biểu đồ 2.3. Tần suất thu gom rác ngày/lần
54
Biểu đồ 2.4. Các hình thức xử lý rác thải của hộ gia đình
56
Biểu đồ 2.5. Đánh giá của người dân về hoạt động thu gom rác thải
58
Biểu đồ 2.6. Đánh giá của người dân về tầm quan trọng của quỹ môi trường
cộng đồng đối với hoạt động bảo vệ môi trường
61
Biểu đồ 2.7. Nhu cầu về sự gia tăng các hoạt động khác của quỹ môi trường
62
Biểu đồ 2.8. Đánh giá về tình hình môi trường tại các địa phương
64
DANH MỤC HỘP
Hộp 1.1: Giải quyết rác thải ở nông thôn
25
Hộp 1.2: Ví dụ về mô hình cấp 1: Quang Minh-điểm sáng về vệ sinh môi
trường nông thôn
30
Hộp 1.3: Ví dụ về mô hình cấp 3: Hợp tác xã môi trường Thành Đạt
30
Hộp 1.4: Xây dựng hương ước bảo vệ môi trường
45
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Cấp độ chuyên nghiệp của các mô hình thu gom rác thải cộng đồng
30
Ở góc độ chính sách, trong những năm vừa qua số lượng các chính sách có liên
quan tới lĩnh vực bảo vệ môi trường ngày càng nhiều, các quy định cũng ngày càng
chặt chẽ và bám sát diễn biến của đời sống xã hội. Sự gia tăng nhanh chóng về mặt
số lượng cũng như sự chặt chẽ các chính sách của Nhà nước liên quan tới lĩnh vực
bảo vệ môi trường cho thấy hai vấn đề: (i) Nhà nước ngày càng quan tâm hơn tới
các vấn đề bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển và (ii) Các vấn đề về bảo
vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay ngày càng trở nên bức thiết. Dễ nhận thấy điểm
chung trong các chính sách này đó là chủ trương xã hội hoá công tác bảo vệ môi
trường của Nhà nước, có thể dẫn ra Chỉ thị 36-CT/TW về tăng cường công tác bảo
vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (ngày 25-6-5
1998), Nghị quyết 41-NQ/TW nhằm đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động bảo vệ môi
trường hay Luật Bảo vệ Môi trường là những ví dụ điển hình.
Ở góc độ cộng đồng, cách thức tổ chức xã hội của đô thị khác với nông thôn và sự
khác biệt này một phần lớn là do sự mạnh yếu trong tính cố kết cộng đồng. Đối với
vấn đề ô nhiễm môi trường tại các đô thị ví dụ như rác thải thường có các công ty
môi trường đô thị chịu trách nhiệm giải quyết, trong khi đó tại nông thôn vì nhiều lý
do vấn đề này thường được mỗi người dân tự giải quyết theo những cách khác nhau
hoặc được giải quyết bởi đội thu gom rác do cộng đồng tổ chức. Thực tế, tại nông
thôn hiện nay ngoài vấn đề rác thải, môi trường nông thôn còn tồn tại rất nhiều các
vấn đề bức xúc khác đòi hỏi cần những cách thức tổ chức quản lý và giải quyết các
vấn đề môi trường của cộng đồng dưới dạng các quỹ môi trường cộng đồng.
Ở tầm vĩ mô, Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam được thành lập năm 2003, với mục
đích hoạt động hỗ trợ tài chính cho các chương trình, dự án, các hoạt động, nhiệm
vụ bảo vệ môi trường trên phạm vi cả nước, tại một số địa phương cũng đã có các
quỹ Bảo vệ Môi trường như ở Hà Nội. Ở khía cạnh vi mô, tại nhiều vùng nông thôn
hiện nay các mô hình quỹ môi trường cộng đồng được xây dựng và vận hành chủ
yếu là giải quyết các vấn đề môi trường đang tồn tại trong cộng đồng. Tuỳ thuộc
1.2.2. Ý nghĩa thực tiễn.
Các kết quả của đề tài sẽ góp phần cung cấp những bằng chứng thực tiễn, đánh giá
chính xác vai trò của các quỹ môi trường cộng đồng trong hoạt động bảo vệ môi
trường tại các vùng nông thôn từ đó cung cấp những khuyến nghị để hoàn thiện mô
hình của các quỹ môi trường cộng đồng và đề xuất các cơ chế nhân rộng mô hình.
Thực tế đây là một mô hình đặc trưng điển hình của quá trình xã hội hoá hoạt động
bảo vệ môi trường tại cộng đồng cần được xem xét nhân rộng điều này không chỉ
góp phần giải quyết bài toán ô nhiễm môi trường tại khu vực nông thôn mà còn góp
phần đáng kể trong việc nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường.
1.3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.
1.3.1.Mục đích nghiên cứu.
Mô tả vai trò của các quỹ môi trường cộng đồng đối với hoạt động bảo vệ môi
trường tại các vùng nông thôn đồng thời chỉ ra được các giải pháp để hoàn thiện mô
hình này cũng như các cơ chế để nhân rộng mô hình. 7
1.3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Phân tích thực trạng hoạt động, cơ chế quản lý các quỹ môi trường cộng đồng tại
khu vực nông thôn hiện nay.
- So sánh sự khác biệt về cách thức tổ chức quản lý, hiệu quả hoạt động của từng
mô hình quỹ môi trường tại các địa phương.
- Đánh giá vai trò của các quỹ môi trường cộng đồng trong các hoạt động bảo vệ
môi trường tại các vùng nông thôn hiện nay.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện về cơ chế quản lý, các thức tổ chức hoạt động
các quỹ môi trường cộng đồng, kiến nghị các giải pháp để nhân rộng mô hình.
1.4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu.
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu.
Vai trò của quỹ môi trường cộng đồng trong hoạt động bảo vệ môi trường tại các
vùng nông thôn hiện nay.
là khác nhau. Dưới góc độ của chủ nghĩa duy vật lịch sử những đặc trưng bản chất
của quỹ môi trường cộng đồng tại Hà Nam và Bắc Giang sẽ bộc lộ những điểm
tương đồng và sự khác biệt. Đây chính là cơ sở cho việc so sánh và đánh giá vai trò,
điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với từng quỹ môi trường cộng đồng
tại các địa phương.
1.6.2. Các lý thuyết xã hội học.
Lý thuyết cấu trúc-chức năng.
Cấu trúc xã hội hay còn gọi là cơ cấu xã hội (social structure) được hiểu: “là mô
hình của các mối liên hệ giữa các thành phần cơ bản trong một hệ thống xã hội.
Những thành phần này tạo nên bộ khung cho tất cả các xã hội loài người, mặc dầu
tính chất của các thành phần và các mối quan hệ giữa chúng biến đổi từ xã hội này
đến xã hội khác. Những thành phần quan trọng nhất của cơ cấu xã hội là vị trí, vai
trò, nhóm và các thiết chế…”[2, tr.205]. Trong khi đó: “chức năng là nhu cầu, lợi
ích, sự cần thiết, sự đòi hỏi, hệ quả, tác dụng mà một thành phần, bộ phận tạo ra
hay thực hiện để đảm bảo sự tồn tại, vận động của cả hệ thống”[5, tr.201]. Bản chất
của thuyết cấu trúc-chức năng đều nhấn mạnh tới tính ổn định và khả năng thích
ứng của cấu trúc. Xã hội là một hệ thống tương đối chặt chẽ được cấu thành từ
nhiều hệ thống có mối quan hệ tác động và phụ thuộc lẫn nhau tạo nên sự ổn định 9
của cấu trúc xã hội: “Sự biến đổi của cấu trúc tuân theo quy luật tiến hoá, thích
nghi khi môi trường sống thay đổi; sự biến đổi của của cấu trúc luôn hướng tới
thiết lập lại trạng thái cân bằng, ổn định”[5, tr.199]. Các tác giả của trường phái
cấu trúc-chức năng cũng đặc biệt đề cao vai trò của các yếu tố giá trị, chuẩn mực để
góp phần duy trì tính ổn định và trật tự của cấu trúc.
Quan điểm lý thuyết cấu trúc-chức năng trong đề tài này được sử dụng với 3 mục
đích chính: (i) đánh giá cấu trúc của hệ thống các quỹ môi trường cộng đồng tại Hà
Nam và Bắc Giang, (ii) đánh giá mối quan hệ, tác động, phụ thuộc giữa các thành
tố hình thành nên quỹ môi trường cộng đồng và (iii) từ đó chỉ ra vai trò của các quỹ
liệu, thông tin thu thập từ Internet có liên quan tới đề tài và (iii) các tài liệu, thông
tin kinh tế-xã hội do các địa phương cung cấp.
Phương pháp phân tích số liệu thứ cấp: Toàn bộ số liệu định lượng (dựa trên
phỏng vấn bằng bảng hỏi) và số liệu định tính (dựa trên phỏng vấn sâu và thảo luận
nhóm) của luận văn này được khai thác từ bộ số liệu của dự án: Điều tra đánh giá
thực trạng các quỹ bảo vệ môi trường cộng đồng, đề xuất cơ chế xây dựng, quản lý,
vận hành và phát triển quỹ” do Trung tâm Phát triển Xã hội và Môi trường Vùng
thực hiện tại Hà Nam, Thanh Hoá, Bắc Giang trong 2 năm 2008-2009. Trong đó,
tác giả chỉ khai thác thông tin của 2 tỉnh Hà Nam và Bắc Giang.
b. Kỹ thuật xử lý thông tin:
- Thông tin định lượng: các thông tin định lượng trong đề tài này được nhập và xử
lý bằng phần mềm SPSS 11.5.
1.6.4. Hệ thống khái niệm.
Vai trò [2, tr.212] : một vai trò là một tập hợp các mong đợi, các quyền, và
những nghĩa vụ được gán cho một địa vị cụ thể.
Thực tế khái niệm vai trò được trình bày trong đề tài này là sự vay mượn khái niệm
vai trò trong mối quan hệ với vị thế của cơ cấu xã hội vốn được dùng chủ yếu để nói
về vai trò của con người. Tuy nhiên, nếu coi quỹ môi trường cộng đồng là một chủ
thể trong hệ thống bảo vệ môi trường tại các vùng nông thôn hiện nay thì bản thân
quỹ môi trường cộng đồng cũng là tập hợp các mong đợi, các quyền và những nghĩa
vụ như bất kể như một vai trò nào khác - ở đây là vấn đề bảo vệ môi trường chính
tại cộng đồng. 11
Quỹ môi trường (hay quỹ bảo vệ môi trường) [7, tr.113]: Là tổ chức tài
chính được thành lập ở trung ương, ngành, lĩnh vực, địa phương để hỗ trợ hoạt động
bảo vệ môi trường.
Như vậy khái niệm quỹ môi trường cộng đồng có thể được hiểu như sau: Quỹ môi
trường cộng đồng là quỹ tài chính do cộng đồng hoặc chính quyền địa phương
(53,3%), từ lớp 10 trở lên: 69 người (23%); (4) Nghề nghiệp: nông dân: 195 người
(65%), nghề khác: 105 người (35%); (5) Hôn nhân: chưa có vợ chồng: 11 người
(3,7%), đang có vợ chồng 239 người (79,7%), ly hôn: 2 người (0,6%), goá: 48
người (16%).
- Mẫu định tính: 10 cuộc phỏng vấn sâu và 2 thảo luận nhóm bao gồm nhóm cán bộ
đoàn thể tại địa phương và một số người dân.
1.7. Cơ sở thực tiễn của đề tài.
1.7.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu.
Do đây là một đề tài mới chính vì thế ở thời điểm hiện tại, các công trình nghiên
cứu hay các bài viết có liên quan trực tiếp tới quỹ môi trường cộng đồng là không
có, chỉ có các nghiên cứu và các tài liệu gián tiếp liên quan tới đề tài
1
. Trên thực tế,
các quỹ môi trường cộng đồng thường được hình thành thông qua hai con đường
chính. Thứ nhất dựa vào nội lực của chính các cộng đồng: trường hợp này lại bao
gồm 2 trường hợp (i) do cộng đồng khởi xướng và (ii) do chính quyền địa phương
khởi xướng, thứ hai dựa vào sự hỗ trợ từ các dự án phát triển cộng đồng, bảo vệ môi
trường thường được thực hiện bởi các INGO
2
hoặc các VNGO
3
(tuy nhiên cũng có
sự tham gia của chính quyền địa phương). Bản thân các quỹ môi trường cộng đồng
cũng có nhiều hình thức tồn tại khác nhau và nhìn chung được vận dụng một cách
linh hoạt phù hợp với tình hình thực tiễn tại các địa bàn nghiên cứu. Tuy nhiên đại
đa số các dạng quỹ môi trường cộng đồng được tổ chức và quản lý dựa trên cơ sở
đóng góp về tài chính của người dân trong cộng đồng. Đóng góp tài chính này được
xác định trên cơ sở sự đồng thuận của cộng đồng và thường được đảm bảo hoạt
động bằng các quy định về bảo vệ môi trường do cộng đồng soạn thảo và thông qua.
số các báo cáo, dự án dưới đây.
Báo cáo: “Nâng cao vai trò và sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ môi trường
thông qua tăng cường công tác phổ biến thông tin môi trường cho cộng đồng” của
tác giả Dương Thị Tơ và Tô Kim Oanh trong khuôn khổ dự án: “Tăng cường năng
lực thể chế quản lý thông tin môi trường” do WB tài trợ 2000-2002. Trong báo cáo
này các tác giả chỉ ra tầm quan trọng của cộng đồng trong các hoạt động bảo vệ môi
trường trong đó giải pháp tối ưu để huy động sự tham gia của người dân dựa trên
các biện pháp phổ biến thông tin. Ngoài việc nêu và phân tích kinh nghiệm của các
quốc gia trên thế giới các tác giả cũng đã đánh giá các hiệu quả các hoạt động triển
khai công tác huy động cộng đồng và phổ biến thông tin môi trường ở một số các
4
Các công trình, dự án được sắp xếp theo thứ tự tăng dần về thời gian. 14
tỉnh, thành phố lớn: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng. Mặc dù vậy, phạm
vi vấn đề mà các tác giả nghiên cứu mới chỉ tập trung tại các khu vực đô thị (nơi
vốn có nhiều điều kiện thuận lợi cho các hoạt động phổ biến thông tin môi trường)
trong khi đó ở khu vực nông thôn, vấn đề này còn bỏ ngỏ.
Dự án SES/1/03: “Nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường và sản xuất an toàn
thực phẩm. Xây dựng mô hình hợp tác xã dịch vụ bảo vệ môi trường tại xã Khắc
Niệm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh” do Tổ chức hợp tác phát triển quốc tế Thuỵ
Điển (SIDA) tài trợ đã hướng đến công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho
người dân. Các nội dung có lồng ghép với Luật Bảo vệ môi trường và phát triển bền
vững. Trong báo cáo của dự án, các biện pháp được triển khai, hướng dẫn cho cộng
đồng tương đối xác thực, có giá trị thực tiễn cao như xây dựng các mô hình biogas,
thành lập đội vệ sinh môi trường tự quản…Tuy nhiên tính bền vững của dự án cũng
bị ảnh hưởng bởi cơ chế để duy trì dự án khi kết thúc tài trợ chưa được tính toán
một cách cụ thể.
nguyên và Môi trường tỉnh Hà Nam thực hiện dưới sự tài trợ của chương trình
SEMLA, trong dự án này có 2 mục tiêu hết sức quan trọng được đặt ra: “xây dựng
một mô hình thu gom rác, tự quản bảo vệ môi trường với sự tham gia của đông đảo
nhân dân và các tổ chức xã hội. Đồng thời với việc tuyên truyền phổ biến chính
sách, kỹ năng hoạt động bảo vệ môi trường để nâng cao nhận thức và trình độ hiểu
biết khả năng tự bảo vệ môi trường của cộng đồng” [15]. Các hoạt động của dự án
đã mang lại những thay đổi tích cực trong hoạt động bảo vệ môi trường không chỉ
tại Đồng Văn mà tại nhiều khu vực lân cận với các hoạt động của đội thu gom rác
thải và hàng loạt các hoạt động truyền thông môi trường.
1.7.2. Chủ trương xã hội hóa lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Mô hình quỹ môi trường cộng đồng là một ví dụ điển hình của hoạt động xã hội hoá
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Hiện nay, xã hoá hoá không chỉ là một thuật ngữ
về mặt khoa học mà còn là một thuật ngữ của chính sách. Chính sự thay đổi của tư
duy quản lý Nhà nước đã khiến cho thuật ngữ xã hội hoá được sử dụng phổ biến.
Hiện nay, có rất nhiều các lĩnh vực quản lý Nhà nước được khuyến khích xã hội hoá
như: Giáo dục, Y tế, văn hoá, thể dục thể thao…Xã hội hoá lĩnh vực bảo vệ môi
trường là một chủ trương lớn của Việt Nam trong nhiều năm qua. Nhờ vào chủ 16
trương này, “tốc độ” ô nhiễm môi trường tại nhiều khu vực đã được kìm chế đáng
kể, trách nhiệm môi trường vì thế cũng được thực thi một cách rộng rãi. Ở khía
cạnh vĩ mô, số lượng các văn bản quản lý Nhà nước trong lĩnh vực môi trường ngày
càng dầy và đa dạng, trong đó có sự đóng góp đáng kể của các chính sách xã hội
hoá. Ngoài Luật Bảo vệ môi trường, khi nhắc tới vấn đề xã hội hoá công tác bảo vệ
môi trường các nhà khoa học và các nhà quản lý thường hay nhắc tới chỉ thị 36/CT-
TW và nghị quyết 41-NQ/TW.
Chỉ thị số 36/CT-TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo
vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước chỉ rõ: “Bảo vệ
môi trường là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Bảo vệ môi trường
Sau chỉ thị số 36/CT-TW, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15 tháng
11 năm 2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước. Sau thời gian chạy đà, Việt Nam bước vào giai đoạn đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, cũng đồng nghĩa với sự gia tăng đáng kể nguy cơ, sức ép và
những tác động tiêu cực tới môi trường. Sự tăng tốc của hoạt động kinh tế xã hội đòi
hỏi sự “quyết liệt” trong các chính sách về bảo vệ môi trường, do đó dễ hiểu khi có sự
thay đổi về mục tiêu bảo vệ môi trường cụ thể của Việt Nam giữa Nghị quyết số 41-
NQ/TW và chỉ thị số 36/CT-TW:“Ngăn ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm,
suy thoái và sự cố môi trường do hoạt động của con người và tác động của tự nhiên
gây ra. Sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học. Khắc
phục ô nhiễm môi trường, trước hết ở những nơi đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, phục
hồi các hệ sinh thái đã bị suy thoái, từng bước nâng cao chất lượng môi trường.
Xây dựng nước ta trở thành một nước có môi trường tốt, có sự hài hoà giữa tăng
trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; mọi
người đều có ý thức bảo vệ môi trường, sống thân thiện với thiên nhiên.” Như vậy,
vấn đề ô nhiễm môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên đã được đưa lên
hàng đầu, tuy nhiên không thể kiểm soát ô nhiễm, không thể sử dụng hợp lý tài
nguyên thiên nhiên nếu ý thức, trách nhiệm về bảo vệ môi trường của mỗi người
còn hạn chế và những hành vi thiếu thân thiện với môi trường vẫn được tiếp diễn.
Các nghiên cứu về xung đột môi trường đã cho thấy sự “lệch pha” về mặt giá trị
giữa hành động bảo vệ môi trường với các hành động kinh tế và các hành động “có
lợi” khác của con người. Xét về mặt lịch sử, con người đã được lĩnh hội và thường
xuyên trau dồi các hành động kinh tế nhưng lại mới hoặc ít biết, thực hiện các hành
vi về mặt môi trường. Bên cạnh đó, tâm lý con người thường chỉ nhìn thấy cái lợi
trước mắt (đặc biệt là lợi ích kinh tế) trong khi lợi ích của các hành động về môi 18
trường lại ít hoặc khó nhìn thấy ngay lập tức. Do đó, xã hội hoá lĩnh vực bảo vệ môi
trường vừa là một sự lan toả, vừa là một sự thâm nhập của hệ giá trị về môi trường
19
dịch vụ thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải và các dịch vụ khác bảo vệ môi
trường với sự tham gia của mọi thành phần kinh tế…”
Tóm lại, xét về mặt cơ sở pháp lý các quỹ môi trường cộng đồng được khuyến khích
ra đời với rất nhiều ý nghĩa quan trọng: (i) phát huy nguồn lực tự chủ của cộng đồng,
(ii) giải quyết tại chỗ và giải quyết sớm các vấn đề môi trường của cộng đồng (iii)
nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng đối với hoạt động bảo vệ môi
trường. Đó cũng chính là những vai trò mà các quỹ môi trường cộng đồng đang thực
hiện tại các vùng nông thôn hiện nay. Tuy nhiên, cơ cấu của các dạng quỹ bảo vệ môi
trường cũng có những điểm khác biệt thể hiện sự chuyên nghiệp hay bán chuyên
nghiệp trong việc tổ chức quản lý, vận hành, phát triển của quỹ này. Do đó, cũng có
những điểm khác biệt trong quá trình thực hiện các chức năng nhằm đạt các mục tiêu
về bảo vệ môi trường đã được đề ra.
1.7.3. Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu.
Xã Tân Sơn là một xã miền núi đông dân của huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam nằm
cách trung tâm thị trấn Quế 4km về hướng Tây. Ngoài nông nghiệp, kinh tế của
nhiều hộ gia đình tại Tân Sơn phụ thuộc và nghề đi xây đã có từ nhiều đời nay. Chợ
Tân Sơn hiện nay là một trong những chợ lớn của huyện Kim Bảng, nơi tập trung
buôn bán, giao thương của các xã ở khu vực phía Tây. Do có địa hình đồi núi nên
mật độ dân cư của xã tập trung cao tại các khu vực đồng bằng, đặc biệt khu vực chợ
Tân Sơn. Do đó, khu vực chợ Tân Sơn cũng là trung tâm xã là nơi vấn đề ô nhiễm
môi trường bức xúc hơn cả. Chính vì thế, tại Tân Sơn quỹ môi trường cộng đồng đã
được thành lập từ khá sớm (2004).
Nằm ngay cạnh trung tâm thị trấn Bích Động, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, xã
Bích Sơn được coi là điểm sáng của tỉnh trong các phong trào cộng đồng, hoạt động
quần chúng. Tính đến năm 2009, toàn xã có 1354/1436 hộ gia đình văn hoá, 4 làng
văn hoá cấp tỉnh, thôn nào cũng xây dựng các nhà văn hoá khang trang trở thành
nơi sinh hoạt cộng đồng thường xuyên của người dân. Đây cũng là nơi ra đời HTX
dịch vụ môi trường Đồng Lợi một trong những đơn vị điển hình về bảo vệ môi
VAI TRÒ CỦA QUỸ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT
ĐỘNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI VÙNG NÔNG THÔN
NÂNG CAO NHẬN THỨC
CỦA CỘNG ĐỒNG VỀ
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 21
CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Phần nội dung chính của luận văn bao gồm 2 chương:
- Chương 1: Mô hình quản lý quỹ môi trường cộng đồng tại xã Tân Sơn và
Bích Sơn.
- Chương 2: Vai trò của các quỹ môi trường cộng đồng trong hoạt động bảo vệ
môi trường tại các vùng nông thôn hiện nay.
Nội dung chính của chương 1 tập trung vào 2 lĩnh vực chính: (i) phân tích quá trình
hình thành các quỹ môi trường cộng đồng tại các địa phương để từ đó thấy được
tầm quan trọng, vai trò và sứ mạng của các quỹ môi trường cộng đồng và (ii) phân
tích cụ thể mô hình quản lý quỹ môi trường cộng đồng tại 2 địa phương bằng việc
mô tả hệ thống sơ đồ quản lý với sự tham gia của các bên liên quan: chính quyền
địa phương các cấp, đội thu gom rác, cộng đồng…Bên cạnh đó, trong phần này 2
vấn đề đặc trưng cốt lõi gắn với quá trình hình thành, vận hành, quản lý, phát triển
các quỹ môi trường cộng đồng là vấn đề tài chính và quy chế của các quỹ môi
trường cộng đồng cũng được phân tích cụ thể.
Nội dung chính của chương 2 tập trung vào việc đánh giá vai trò của quỹ môi
trường cộng đồng đối với hoạt động bảo vệ môi trường tại Tân Sơn và Bích Sơn
thông qua việc phân tích về tình hình môi trường hiện tại ở các địa bàn, những so
sánh về vấn đề môi trường hiện tại với thời điểm khi thành lập, các hoạt động mà
quỹ môi trường đã và đang thực hiện qua đó tổng kết lại vai trò của các quỹ môi
trường dựa trên đánh giá và nhu cầu của người dân.
1
Môi trường đã bị ô
nhiễm
Môi trường đang có
dấu hiệu bị ô nhiễm
Muốn bảo vệ môi
trường ngay từ đầu
Khác
Số liệu trên biểu đồ cho thấy những đánh giá về “thực trạng môi trường” tương đối
khác nhau của người dân tại thời điểm thành lập quỹ môi trường cộng đồng. Đa số
người dân (63,7%) đều cho rằng thời điểm thành lập quỹ môi trường cộng đồng là