ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA BÁO CHÍ
NGUYỄN VĂN TẤN
KHẢO SÁT BƯỚC ĐẦU VỀ BÁO CHÍ CHO
ĐỒNG BÀO TÔN GIÁO VÀ DÂN TỘC Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG.
(Khảo sát báo chí đòa phương và khu vực 2004-2005) LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HÀ NỘI 2006
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU trang 1
1.TÍNH THỜI SỰ VÀ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI. 1
2. Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI. 4
3. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 6
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
5. CẤU TRÚC LUẬN VĂN 8
Chương I. TÌNH HÌNH TÔN GIÁO VÀ DÂN TỘC Ở CÁC TỈNH ĐỒNG
BẰNG SÔNG CỬU LONG 10
1. Tổng quan về tôn giáo, dân tộc ở ĐBSCL 10
1.1. Vài nét về Đồng bằng sông Cửu Long 10
1.2. Vài nét lòch sử chính sách dân tộc ở ĐBSCL 14
1.3.Văn hoá các dân tộc ở ĐBSCL đối với sự phát triển 19
1.4. Cơ cấu dân số theo tiêu chí dân tộc và tôn giáo 24
2. Đặc trưng công tác và trình độ học vấn của cộng đồng dân cư
ở ĐBSCL 31
2.1. Dân cư hoạt động trong lónh vực Nông nghiệp 32
2.2. Dân cư hoạt động trong các lónh vực khác 34
2.3. Dân cư hết tuổi lao động và người thất nghiệp 35
2.4. Trình độ văn hoá của cư dân đồng bằng sông Cửu Long 35
3. Tình hình tôn giáo ở ĐBSCL 37
3.1. Sơ lược lòch sử du nhập và hình thành các tôn giáo lớn 37
3.2. Sự phân bố các tín đồ của các tôn giáo và sắc tộc ở ĐBSCL 40
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC 86 Khảo sát bước đầu về báo chí cho đồng bào tôn giáo và các dân tộc ở ĐBSCL
PHẦN MỞ ĐẦU
1.TÍNH THỜI SỰ VÀ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất trù phú phía Nam của tổ
quốc có diện tích tự nhiên 39.000 Km
2
, dân số khoảng 17 triệu người, bao
gồm 12 tỉnh và 1 thành phố: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vónh Long, Trà
Vinh, Đồng Tháp, An Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên
Giang và thành phố Cần Thơ. Là vùng đất giàu tiềm năng, cung cấp khoảng 9
triệu tấn lúa hàng hoá, chiếm 50% sản lượng lúa gạo cả nước và chiếm 80%
lượng gạo xuất khẩu trong cả nước; chiếm 65% lượng thuỷ sản xuất khẩu trong
cả nước, chiếm 60% sản lượng trái cây của cả nước. Thế nhưng đó lại là vùng
có trình độ dân trí thấp nhất nước (cứ 100 người trong cả nước mù chữ thì
ĐBSCL có 38 người), đứng sau Tây Bắc và Tây Nguyên. Vì thế sự hưởng thụ
văn hoá, tiếp nhận thông tin từ các phương tiện truyền thông cũng kém hơn.
Đây cũng là vùng đa sắc tộc, đa tôn giáo, có nhiều tiềm năng kinh tế chưa
được khai thác đúng mức.
Từ cuối thế kỷ thứ XVII đến nay, ở đồng bằng sông Cửu Long có
4 dân tộc: Kinh, Hoa, Khơ Me, Chăm cùng sinh sống, cùng giao lưu văn hoá
hình thành một bản sắc riêng cho vùng, đoàn kết chinh phục thiên nhiên, đoàn
kết đấu tranh chống ngoại xâm để hình thành một diện mạo đồng bằng như
đề này cũng là biện pháp góp phần cho khu vực phát triển. Với chức năng của
mình, báo chí là lónh vực đi tiên phong phổ biến chủ trương, đường lối, chính
sách của Đảng và Nhà nước; phản ánh nguyện vọng, đáp ứng nhu cầu hưởng
thụ thông tin, hưởng thụ văn hóa của đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, góp
phần cho khu vực ĐBSCL phát triển kinh tế. Từ đó tạo ra sự đồng thuận trong
khu vực đa sắc tộc, đa tôn giáo, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết dân
tộc, hướng tới một mục tiêu chung: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh; chống lại những luận điệu chia rẻ của các thế lực thù đòch.
Mặt khác đó cũng là cách giữ gìn bản sắc văn hoá của từng dân tộc, góp phần
tạo nên sắc thái phong phú cho nền văn hoá chung.
Về mặt lý luận báo chí, chúng ta đã có những nghiên cứu chung
về hệ thống báo chí trong cả nước, phục vụ cho nhiệm vụ chính trò chung. Thế
nhưng, để tăng cường tính hiệu quả của báo chí, để thực hiện tốt chức năng
của mình, báo chí cũng cần đi sâu nghiên cứu đối tượng cụ thể mà từng tờ báo
tác động lên công chúng của mình. Đối tượng ấy cụ thể ở ĐBSCL là đồng bào
các dân tộc và tôn giáo.
Về mặt tuyên truyền, từ trước đến nay, vấn đề dân tộc và tôn giáo
là vấn đề nhạy cảm nên các cơ quan báo chí, các nhà báo gặp một số khó
khăn. Công tác vận động đồng bào dân tộc và tôn giáo là nhiệm vụ chung của
cả hệ thống chính trò, trong đó báo chí. Tuy nhiên, để làm tốt nhiệm vụ đó,
trước hết, báo chí học Việt Nam cần có những nghiên cứu cơ bản về vấn đề
đang xét. Luận văn này sẽ là một trong số đó.
Khảo sát bước đầu về báo chí cho đồng bào tôn giáo và các dân tộc ở ĐBSCL
4
Những nghiên cứu ban đầu này nằm góp phần nhỏ bé phục vụ các
cấp lãnh đạo đòa phương có thêm thông tin để chỉ đạo công tác dân tộc, tôn
giáo và báo chí sát thực hơn. Đồng thời đóng góp tư liệu và đề xuất vấn đề cho
nền báo chí hoạt động có yếu tố đa sắc tộc, đa tôn giáo.
2.2. Ý nghóa thực tiễn.
Đặc biệt vấn đề báo chí trong môi trường đa sắc tộc, đa tôn giáo
hiện chưa có những nghiên cứu đáng kể và căn bản. Luận văn này chỉ là kết
quả khảo sát ban đầu về một vấn rất khó khăn của báo chí ĐBSCL.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Từ những lý luận về chính trò học, báo chí học, văn hoá học
luận văn này làm sáng tỏ mối quan hệ giữa báo chí và chính trò, báo chí và
văn hoá mối quan hệ giữa báo chí và công chúng Từ đó rút ra được vấn đề
cốt lỏi của mối quan hệ này trong khu vực ĐBSCL. Cũng bằng lý luận đó,
luận văn đặt ra những vấn đề đặt ra cho báo chí hoạt động trong môi trường đa
sắc tộc, đa tôn giáo. Từ đó đònh hướng cho những phương thức thực tiễn trong
tác nghiệp.
Khảo sát bước đầu về báo chí cho đồng bào tôn giáo và các dân tộc ở ĐBSCL
6
Mặt khác, luận văn này sử dụng phương pháp điều tra khảo sát
thực tế.
Về vấn đề sắc tộc, luận văn này chọn những khảo sát tiêu biểu.
Việc khảo sát tập trung vào 2 tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, là những tỉnh có tỉ lệ
dân số là người Khơ-Me khá cao, có văn hoá đặc trưng. Về người Chăm, luận
vănn chỉ tập trung ở một làng nghề nhỏ Châu Giang, huyện Tân Châu, tỉnh An
Giang, nơi có dòng Hồi giáo đặc trưng của ĐBSCL.
Về vấn đề tôn giáo, khảo sát ban đầu về tình hình tôn giáo và nhu
cầu của đồng bào về hưởng thụ thông tin. Phương pháp khảo sát, chủ yếu là
dùng mẫu điều tra xã hội học, theo nhóm đại diện xung quanh vấn đề hưởng
thụ báo chí, nhu cầu thông tin, thò hiếu
Cuối cùng là thống kê, phân tích, miêu tả vấn đề và từ đó luận
văn đề xuất những qui luật, có đối chiếu với phần lý luận.
5. CẤU TRÚC LUẬN VĂN.
Luận văn này ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có 2 chương,
được cấu trúc như sau:
kết quả tổng điều tra dân số mới nhất:
-dân số có độ tuổi dưới 20 chiếm 53%;
- dân số có độ tuổi từ 20 đến 34 tuổi chiếm 20,24%
-dân số trên 35 tuổi chiếm 22.7%
1.1.2. Vò trí chiến lược của ĐBSCL so với cả nước
Khảo sát bước đầu về báo chí cho đồng bào tôn giáo và các dân tộc ở ĐBSCL
8
ĐBSCL là một trong những đồng bằng lớn, phì nhiêu ở Đông Nam
Á và thế giới; là vùng sản xuất lương thực, cây ăn trái nhiệt đới lớn nhất cả
nước; là vùng đất quan trọng đối với Nam bộ và cả nước trong phát triển kinh
tế, hợp tác đầu tư nước ngòai và giao lưu quốc tế trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. ĐBSCL là vùng có dân số trẻ, nguồn nhân
lực lớn cần được đào tạo để sử dụng, phát huy tốt trong thời kỳ đổi mới; là
vùng có vò trí quan trọng về chính trò, an ninh-quốc phòng.
* ĐBSCL có vò trí kinh tế đặc biệt quan trọng đối với khu vực
Nam bộ và cả nước trong tiến trình đẫy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước.
ĐBSCL là vùng sản xuất lương thực trọng điểm của cả nước, với
diện tích gieo trồng lúa đạt khoảng 2,6 triệu héc-ta. Cây lúa là cây trồng chính
chiếm gần 3/4 diện tích đất nông nghiệp. Sản lượng lương thực của ĐBSCL
chẳng những quyết đònh lương thự của Nam bộ, mà còn ảnh hưởng tình hình
lương thực cả nước, nhất là vấn đề an ninh lương thực đối với đất nước ta hiện
nay. ĐBSCL còn là vùng sản xuất thực phẩm lớn của cả nước, là vùng có
nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi các lọai gia súc, gia cầm,
nhất là các vùng tập trung chuyên canh nuôi trồng thủy hải sản ven biển, trên
sông, ao hồ… các vùng chuyên canh cây ăn trái chất lượng cao, với nhiều lọai
trái ngon, đủ súc cạnh tranh trên thương trường quốc tế.
* ĐBSCL là vùng có vò trí quan trọng về chính trò, an ninh-
quốc phòng
* Những kết quả đạt được sau 18 năm đổi mới của vùng
ĐBSCL.
+ Kinh tế:
- Hiện nay sản lượng nông nghiệp của ĐBSCL chiếm 59% sản
lượng lúa cả nước, 90% lượng gạo xuất khẩu. Hàng năm, ĐBSCL đã cung cấp
hơn 10 triệu tấn lương thực hàng hóa, chiếm 65% lượng thủy- hải sản, 70%
lượng trái cây so với cả nước và cho xuất khẩu.
- Về công nghiệp, tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm của ĐBSCL
từ năm 1996 đến 2003 nhìn chung đạt khá, bình quân 8,54%/năm (năm 2000
đến 2003 đạt gần 9,6%). Về gía trò GDP toàn vùng từ năm 1995 đến 2003 đều
tăng trưởng khá tốt, năm sau luôn cao hơn năm trước, đến năm 2003 đạt
73.001.594 triệu đồng. Đối với GDP bình quân đầu người, năm 1996 đạt bình
quân 241,5 đôla/người, đến năm 2003 đạt 389,6 đôla/người. Như vậy có thể
khẳng đònh rằng, trò giá GDP và GDP bình quân đầu người của ĐBSCL từ năm
1996 đến 2003 đều tăng trưởng. Đây là điều kiện rất quan trọng đảm bảo cho
một vùng kinh tế, một quốc gia đng phát triển kinh tế phát triển năng động,
vững chắc, nhất là trong xu thế nước ta đang chủ động hội nhập kinh tế khu
vực và toàn cầu, phải chòu nhiều tác động của kinh tế khu vực và toàn cầu.
- Về giá trò sản lượng công nghiệp toàn vùng ĐBSCL trong năm
2003 đạt 40.089.876 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng ngày càng cao,
Khảo sát bước đầu về báo chí cho đồng bào tôn giáo và các dân tộc ở ĐBSCL
11
với tốc độ bình quân 10,5%/năm, năm 2003 đạt 2205,3 triệu đôla. Tổng số dự
án đầu tư nước ngòai được cấp giấy phép từ năm 2001 đến 2003 đầu tăng lên
hàng năm. Năm 2001: 14 dự án; 2002: 27 dự án; và 2003: 29 dự án, với tổng
số vốn đầu tư trong 3 năm là 283,7 đôla.
- Đối với việc chuyển dòch cơ cấu kinh tế có nhiều chuyển biến
tích cực. Năm 2000: khu vực I chiếm tỷ lệ 61,54%; khu vực II: 11.20%; khu
vực III 27,25%. Đến năm 2003 khu vực I chiếm 50,57%, khu vực II chiếm
hoang lập đồn điền, cứ mộ được 500 người gọi là Cơ. Đối với người Hoa di
dân thế hệ đầu, cho thành lập khu vực tự trò riêng, thuế khóa lỏng lẻo,
được duy trì phong tục tập quán vì thế các khu vực thuộc người Hoa quản
lý trở nên sầm uất như, Biên Hòa, Mỹ Tho, Hà Tiên…trở thành những trung
tâm thương mại lớn giao thương với quốc tế ở Nam bộ thời Nguyễn. Đối
với người Khơ-me, Chúa Nguyễn vẫn cho họ chế độ tự trò trong phum sóc,
giữ gìn tập quan văn hóa truyền thống, được tự do tín ngưởng, có chữ viết.
Điều đó chứng minh rằng, lòch sử khai phá ĐBSCL là do quá
trình đoàn kết, cộng cư mà nên.
Khảo sát bước đầu về báo chí cho đồng bào tôn giáo và các dân tộc ở ĐBSCL
13
Chính vì chính sách kinh tế, dân tộc mềm dẻo để thu hút
nguồn nhân lực cho đồng bằng sông Cửu Long, Chúa Nguyễn đã tạo được
một trung tâm kinh tế mạnh và có giao thương quốc tế ở Nam bộ, làm hậu
thuẫn cho cuộc chiến với Tây Sơn.
Vào đầu thế kỷ XIX, vương triều Nhà Nguyễn được thành lập.
Năm 1802-1820, Gia Long trò vò còn lo ổn đònh chính trò. Kể từ khi Minh
Mạng lên ngôi 1820, chính sách dân tộc của ông vua này tương đối hoàn
chỉnh nhưng hà khắc. Đối với người Khơ-me, đặt lại họ (Kim, Thạch, Sơn,
Danh), phải mặc trang phục người Việt, bắt tu theo theo Phật giáo Bắc
tông, cử quan lại người Việt cai trò vùng đồng bào dân tộc… Điều này đã
gây phản ứng mạnh trong đồng bào dân tộc, nhiều cuộc nổi dậy. Trong khi
đó, người Hoa vẫn được sự ưu đãi, xem như là thủ pháp ngoại giao với Nhà
Thanh, vừa thu hút nhân lực phát triển thương nghiệp ở đồng bằng này.
Lúc này có một làn sóng di dân lần thứ 2, Nhà Nguyễn cũng bắt lập sổ bộ
ghi rõ người gốc Minh Hương và người Hoa mới nhập cư. Người Hoa lấy
vợ Việt, không được bắt buộc vợ theo phong tục người Hoa. Người Minh
Hương dần dần bò Việt hóa. Thế hệ người Hoa thứ 2 thành lập các bang,
hội để duy trì thuần phong mỹ tục của họ.
15
Đối với người Khmer, chính quyền thành lập các Ty đặc trách
người Việc gốc Miên ở các tỉnh có đồng đồng bào Khơ-me như Vónh Bình
(Trà Vinh), Khánh Hưng (Sóc Trăng) ra sức mỵ dân, lôi kéo không cho
người Khơ-me theo kháng chiến.
Các chính sách dân tộc trong lòch sử ở ĐBSCL xuất phát từ ý
đồ chính trò mà không xuất phát từ lợi ích của từng dân tộc. Những chính
sách ấy gây hậu quả nặng nề, chia rẽ dân tộc, tác động xấu đến quá trình
phát triển đất nước hiện nay. Mặt khác, các thế lực thù đòch bên ngoài, cấu
kết với thế lực phản động bên trong lợi dụng những yếu tố nhạy cảm trong
lòch sử để kích động vấn đề sắc tộc.
1.3.Văn hoá các dân tộc ở ĐBSCL đối với sự phát triển.
Văn hóa khu vực ĐBSCL là văn hóa Việt Nam được dung nạp
các yếu tố văn hóa Khmer, Hoa và một ít Chăm, tạo nên một giá trò mới,
hình thành một bản sắc riêng của cư dân ĐBSCL. Chẳng hạn trong phương
ngữ Nam bộ, theo Sổ tay phương ngữ Nam bộ của Tiến só Nguyễn Văn i,
trong 5.000 từ phương ngữ có 2.200 từ gốc Khmer như: vàm, bậu, cá lóc, cá
chốt, xoài,….Khoảng 1.500 từ gốc Hoa như: xào, thối tiền, số dách, qua
(đại từ nhân xưng ngôi thứ nhứt)…và rất nhiều từ Việt cổ như: đìa, mùi,
ghè, ảng, chén, heo… Điều này đã phản ánh quá trình cộng cư, hợp tác khai
thác vùng đất, cũng cùng nhau tạo ra giá trò mới, mang bản sắc ĐBSCL.
Chúng ta cũng có thể gặp hiện tượng này trong kiến trúc, trong tín ngưởng,
trong văn hóa ẩm thực…
Khảo sát bước đầu về báo chí cho đồng bào tôn giáo và các dân tộc ở ĐBSCL
16
Tuy nhiên, từng dân tộc vẫn giữ gìn được bản sắc riêng.
1.3.1. Văn hóa Khmer
Người Khmer ở ĐBSCL sớm có nền văn hóa phát triển toàn
1.3.2. Người Hoa có 3 cuộc di dân lớn đến ĐBSCL.
Vào thế kỷ XVII-XVIII luồng di dân của cư dân miền duyên
hải phía Nam Trung Hoa di dân ào ạt đến Đàng Trong, được Chúa Nguyễn
cho đònh cư ở Biên Hòa, Mỹ Tho và Hà Tiên. Vì họ có tư tưởng phản
Thanh phục Minh, nên tự xưng là người Minh Hương. Họ còn giữ được nét
văn hóa riêng như tục thờ cúng tổ tiên, thờ Ông Bổn, Quan Công, bà Thiên
Hậu, Thần Tài, Thổ Đòa… và giao thoa văn hóa với người Việt. Ngôn ngữ
của cư dân này có ảnh hưởng mạnh đến phương ngữ Nam bộ, nhưng hiện
tại ngôn ngữ riêng bò Việt hóa. Nghề nghiệp của cư dân người Hẹ (Phúc
Kiến), Tiều (Triều Châu) là làm rẩy (trồng màu) đònh cư ở khu vực Tân
Hiệp (Tiền Giang) và Vónh Châu (Sóc Trăng). Số còn lại sống bằng nghề
buôn bán tại các thò tứ, thò trấn, thò xã. Phần nhiều (trên 5.000 ngừơi) ở các
đô thò như Mỹ Tho, Cần Thơ, Vónh Long, Hà Tiên, Sóc Trăng…
Khảo sát bước đầu về báo chí cho đồng bào tôn giáo và các dân tộc ở ĐBSCL
18
Lớp cư dân thứ hai đến vào thời Pháp thuộc tổ chức dưới hình
thức bang, hội chủ yếu ở thành phố Hồ Chí Minh. Một số ít nhập cư ở
ĐBSCL. Số này còn giữ được ngôn ngữ, nhưng chữ viết không biết nhiều.
Họ tiếp tục củng cố các yếu tố văn hóa của thế hệ người Minh Hương.
Lớp cư dân thứ ba đến vào thời Mỹ, dưới dạng doanh nhân. Họ
củng cố các yếu tố văn hóa truyền thống và mở thêm nhiều hội tương tế,
mở trường dạy học bằng tiếng Hoa phổ thông. Những đòa phương như Vónh
Long, Cần Thơ, Mỹ Tho… đều có trường trung học dạy tiếng Hoa.
Người Hoa đến ĐBSCL với nhiều lý do kinh tế, chính trò khác
nhau, với tư cách là một kiều dân, nhưng do hoàn cảnh lòch sử cộng cư dần
dần gia nhập vào cộng đồng cư dân ĐBSCL, thành công dân Việt Nam với
tên gọi người Hoa. Một số cọâng đồng vẫn có bản sắc riêng, nhưng vẫn hài
hòa với bản sắc văn hóa ĐBSCL. Số người đọc được chữ Hoa không đến
1%, nhưng số người nói tiếng Hoa còn khá nhiều, chẳng hạn cộng đồng
dân trí, yếu tố ngôn ngữ vốn là công cụ và điều kiện để hưởng thụ thông
tin lại còn rất kém. Cộng đồng dân tộc Hoa thì khá tiến bộ. Cộng đồng dân
tộc Chăm thì quá ít để có thể hình thành một chương trình phát triển, một
Khảo sát bước đầu về báo chí cho đồng bào tôn giáo và các dân tộc ở ĐBSCL
20
chính sách riêng, nhưng yếu tố Việt hóa cũng giúp họ có thể tiếp cận thông
tin qua ngôn ngữ Việt. Cộng đồng dân tộc thiểu số cần quan tâm nhất là
Khmer. Tuy có nhiều tiến bộ trong lónh vực giáo dục phổ thông, nhưng
“văn hóa chùa” vẫn còn đóng vai trò chi phối. Trình độ dân trí, trình độ lao
động còn thấp, ý thức phát triển kinh tế còn kém. Người biết chữ Khmer
còn ít….Đó là những cản ngại trong quá trình hưởng thụ thông tin từ các
phương tiện truyền thông.
Phát triển truyền thông đại chúng là những động lực góp phần
phát triển toàn diện cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu số ở ĐBSCL.
1.4. Cơ cấu dân số theo tiêu chí dân tộc và tôn giáo.
1.4.1. Người Khmer ở ĐBSCL xuất hiện khá sớm như đã nêu
trên, sống đan xen với các dân tộc anh em khác. Theo số liệu từ cuộc Tổng
điều tra dân số ngày 1/4/1999 người Khmer trong cả nước có 1.054.157
người. Chiếm 4% dân số Nam bộ. Riêng ĐBSCL có 876.040 người, chiếm
6,25% dân số trong vùng. Người Khmer cư trú trong 23 huyện thuộc 8 tỉnh
ĐBSCL: An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vónh Long,
Cần Thơ, Kiên Giang.
Căn cứ vào điều kiện đòa lý, môi sinh, lòch sử cư trú của người
Khmer ĐBSCL có thể chia ra làm 3 vùng cư trú chính: vùng Trà Vinh và
Vónh Long, vùng ven biển Sóc Trăng và vùng biên giới kéo dài từ Châu
Đốc đến Rạch Giá.
Khảo sát bước đầu về báo chí cho đồng bào tôn giáo và các dân tộc ở ĐBSCL
21