Hoạt động của các tổ chức tín dụng qua phản ánh của báo chí - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đoàn Mai Anh HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
QUA PHẢN ÁNH CỦA BÁO CHÍ Chuyên ngành: Báo chí
Mã số: 5.04.03

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC BÁO CHÍ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. VŨ HIỀN


2.2.2. Hoạt động nghiệp vụ của các tổ chức tín dụng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 51
2.2.3 Vì một hệ thống ngân hàng lành mạnh hơn 62
2.2.4 Hoạt động của ngân hàng và các tổ chức tín dụng trong khu vực và quốc tế 66
2.2.5 Hoạt động của các tổ chức tín dụng phi ngân hàng 74
2.3. HÌNH THỨC CHUYỂN TẢI THÔNG TIN 78
2.3.1.Tin 78
2.3.2. Phỏng vấn 82
2.3.3. Bài phản ánh 84
Hoạt động của các tổ chức tín dụng qua phản ánh của báo chí

3
2.3.4. Bài tiểu luận 88
2.3.5. Các thể loại khác 89
CHƢƠNG 3 90
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƢỢNG PHẢN ÁNH CỦA BÁO CHÍ 90
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 90
3.1. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỀ NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC PHẢN ÁNH 90
3.2. MỘT SỐ NHÓM GIẢI PHÁP 108
3.2.1 Đối với bản thân các toà soạn báo 108
3.2.2. Đối với các cơ sở đào tạo báo chí 113
3.2.3. Đối với cơ quan quản lý nhà nước về báo chí 114
KẾT LUẬN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
PHỤ
LỤC… 118
Hoạt động của các tổ chức tín dụng qua phản ánh của báo chí

4
MỞ ĐẦU

trên báo chí về ngân hàng đang gặp nhiều rào cản mà vấn đề lớn nhất, theo
chúng
tôi, là mâu thuẫn giữa mong muốn mở rộng đối tượng độc giả và hạn chế thực tế
trong việc tìm phương pháp thông tin thích hợp. Muốn vậy, cần có một công
trình báo chí học nghiên cứu nguyên nhân các thành tựu báo chí đạt được trong
thông tin về hoạt động của các tổ chức tín dụng, đồng thời phân tích những mặt
hạn chế mà báo chí đang mắc phải nhằm bước đầu tìm một cách thông tin phù
hợp với bản chất và tính chất hoạt động của ngành. Việc này sẽ giúp báo chí
thông tin đầy đủ, chính xác hơn, đến được với nhiều người đọc hơn, tạo điều
kiện để họ tham gia nhiều hơn nữa vào hoạt động ngân hàng và do đó, giúp nền
kinh tế phát triển tốt hơn.
2. Tình hình nghiên cứu
Hiện nay, mỗi ngành ngân hàng và báo chí học đều có nhiều công trình
nghiên cứu riêng trong lĩnh vực ngành mình. Tuy nhiên, một công trình nghiên
cứu khoa học ở cấp tương đương về phương pháp thông tin của báo chí trong
lĩnh vực ngân hàng và các tổ chức tín dụng hiện vẫn chưa được thực hiện. Trong
bối cảnh thị trường tài chính-tiền tệ phát triển nhanh và rộng khắp như hiện nay
thì việc báo chí thông tin hiệu quả và phù hợp với trình độ còn chưa cao của
người Việt Nam trong lĩnh vực này là điều hết sức cần thiết.
Với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào lĩnh vực thông tin đặc biệt
này, chúng tôi đã chọn “Hoạt động của các tổ chức tín dụng qua phản ánh của
báo chí” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học của mình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Hoạt động của các tổ chức tín dụng qua phản ánh của báo chí

6
Luận văn của chúng tôi sẽ tập trung khảo sát nội dung và hình thức chuyển
tải thông tin về hoạt động của các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước trên năm
tờ báo kinh tế lớn hiện nay là Đầu tư, Thời báo kinh tế Sài Gòn, Thời báo kinh tế
Việt Nam, Thời báo Ngân hàng và Thời báo Tài chính Việt Nam trong thời gian

chuyên môn (Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín
dụng) hiểu rõ hơn về hoạt động báo chí để giữa họ và những người làm báo thiết
lập được mối quan hệ gắn bó và vì lợi ích của hai bên. Chúng tôi muốn họ hiểu
rằng, để người dân tham gia tích cực hơn vào các hoạt động tài chính - ngân
hàng, báo chí là một kênh thông tin vô cùng quan trọng nhằm tác động và nâng
cao hiểu biết của công chúng. Sự hiểu biết đúng đắn và sự tham gia có hiệu quả
của công chúng là điều kiện để ngành tài chính - ngân hàng phát triển và mở
rộng hoạt động, đồng thời đó cũng là yếu tố thúc đẩy nền kinh tế đi lên.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn, chúng tôi thực hiện sưu tầm, tập hợp tài liệu về
hoạt động của các tổ chức tín dụng từ khi hai luật ngân hàng được ban hành
tháng 12/1997, tức là từ năm 1998 đến năm 2000, phân tích và so sánh về nội
dung và hình thức thể hiện để làm rõ đặc điểm thông tin về lĩnh vực này trong
bối cảnh hiện nay.
Luận văn sẽ nêu bật vai trò của các tổ chức tín dụng trong nền kinh tế và
sự phản ánh của báo chí về hoạt động của các tổ chức này thông qua việc khảo
sát năm tờ báo nêu trên. Từ đó, luận văn sẽ rút ra những mặt thành công và hạn
Hoạt động của các tổ chức tín dụng qua phản ánh của báo chí

8
chế cũng như đánh giá các tờ báo này để bước đầu đưa ra một số đề xuất nhằm
nâng cao chất lượng thông tin về hoạt động của các tổ chức tín dụng trên báo chí.
6. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, theo đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà
nước ta.
Để làm luận văn, chúng tôi đã thực hiện sưu tầm các tư liệu, văn kiện, chỉ
thị của Đảng và Nhà nước về chiến lược phát triển ngành ngân hàng cũng như
chiến lược thông tin, đặc biệt là về thông tin kinh tế trong từng giai đoạn.
Chúng tôi tập hợp, thống kê, phân loại theo dòng thời gian, theo từng báo,

Để có thể khái quát tầm quan trọng của các tổ chức tín dụng trong nền
kinh tế (và do đó chiếm vị trí tương ứng trên các tờ báo), trong chương 1 chúng
tôi giới thiệu đôi nét về vị trí, vai trò và chức năng của các tổ chức này. Hệ thống
các ngân hàng và tổ chức tín dụng Việt Nam, định hướng phát triển ngành tài
chính - ngân hàng qua các đại hội Đảng (từ Đại hội 6 đến Đại hội 9) cũng sẽ
được tóm lược. Báo chí với tư cách là phương tiện truyền tải nội dung thông tin
đặc biệt này sẽ mang những đặc điểm riêng, và cũng được đề trong chương 1.
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
1.1.1 Khái niệm, vị trí, vai trò của các tổ chức tín dụng trong nền kinh tế
1.1.1.1 Khái niệm
Các tổ chức tín dụng được hiểu là “ doanh nghiệp được thành lập theo quy
định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt
động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử
dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng và các tổ chức tín dụng phi ngân
hàng. Ngân hàng là “loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động
Hoạt động của các tổ chức tín dụng qua phản ánh của báo chí

11
ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục
tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng
phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các
loại hình ngân hàng khác”.
Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng là “loại hình tổ chức tín dụng được
thực hiện một số hoạt động ngân hàng như là nội dung kinh doanh thường
xuyên, nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn, không làm dịch vụ thanh
toán. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài
chính và tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác”
1
.

thương mại Nhà nước, 47 ngân hàng thương mại cổ phần, 7 công ty tài chính, 8
công ty cho thuê tài chính và 959 quỹ tín dụng nhân dân. Ngoài ra, hoạt động tại
Việt Nam còn có 31 chi nhánh của 26 ngân hàng nước ngoài và 4 ngân hàng liên
doanh.
1.1.1.3. Vị trí, vai trò của các tổ chức tín dụng trong nền kinh tế
Ngân hàng và các tổ chức tín dụng được coi là “trái tim” của nền kinh tế.
“Trái tim” này có vận hành tốt thì sức khoẻ nền kinh tế mới ổn định và phát
triển. Việc báo chí dành nhiều diện tích cho hoạt động của các tổ chức tín dụng
(mà chủ yếu là các ngân hàng thương mại) xuất phát chính từ vai trò thực tế của
các tổ chức này trong đời sống kinh tế cũng như đời sống xã hội. Ở các ngành
khác, sự tham gia của nước ngoài có thể được nới rộng nhưng riêng trong lĩnh
vực ngân hàng thì hoạt động của các tổ chức này luôn được đặt dưới sự kiểm
Hoạt động của các tổ chức tín dụng qua phản ánh của báo chí

13
soát chặt chẽ của Nhà nước. Tại sao lại có sự đối xử đặc biệt này? Có thể hiểu
vấn đề này một cách giản lược vì bốn lý do sau đây:
Thứ nhất, hoạt động ngân hàng chi phối hầu như toàn bộ các khía cạnh
của đời sống kinh tế. Hầu như không có một ngành nào lại không quan tâm đến
sự ổn định của đồng tiền (để đảm bảo giá trị tài sản của mình), đến nguồn vốn
(một trong bốn yếu tố đầu vào của sản xuất), đến tỷ giá hối đoái (liên quan mật
thiết đến xuất nhập khẩu) v.v
Thứ hai, ngân hàng là ngành kinh doanh chủ yếu dựa vào lòng tin. “Tín
dụng”, khái niệm cơ bản của ngân hàng, có nguồn gốc tiếng Latinh “creditum”
có nghĩa là lòng tin, sự tin tưởng. Nếu không có lòng tin thì không ai lại mang
tiền của mình gửi vào ngân hàng. Khi lòng tin bị mất đi thì không những một mà
hàng loạt các ngân hàng sẽ bị phá sản.
Thứ ba, các hoạt động của ngân hàng liên quan đến tiền: giá trị đồng tiền,
quá trình tạo tiền Đây là vấn đề mà không một nhà nước nào có thể bỏ ngỏ.
Khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Đông Nam Á năm 1997-1998 cho ta nhiều bài

ương có thể đưa tiền vào lưu thông thông qua bốn con đường là: cho vay đối với
các ngân hàng thương mại (dưới hình thức tái cấp vốn), thông qua nghiệp vụ thị
trường mở, dự trữ ngoại hối và cho ngân sách Nhà nước vay
1
.

1
Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng có bảo đảm của Ngân hàng Nhà nước nhằm cung ứng vốn ngắn hạn
và phương tiện thanh toán cho các ngân hàng.
Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn do Ngân hàng Nhà nước thực hiện
trên thị trường tiền tệ nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
Hoạt động của các tổ chức tín dụng qua phản ánh của báo chí

15
Lượng tiền cung ứng vào lưu thông phụ thuộc vào nhiều yếu tố như lãi
suất thị trường, các cuộc khủng hoảng ngân hàng, sự tích luỹ của cải trong xã
hội
Việc bơm thêm tiền vào lưu thông hay rút tiền về (được thực hiện thông qua các
kênh trên) sẽ phụ thuộc vào mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ để
đảm bảo tăng trưởng kinh tế.
1.1.2.2. Nghiệp vụ cho vay của ngân hàng trung ương
Một trong các kênh để ngân hàng trung ương đưa tiền vào lưu thông là cấp
tín dụng ngắn hạn cho các ngân hàng thương mại. Thông qua việc cho vay này,
NHTW kiểm soát được khả năng tạo tiền của họ.
Trong các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng trung ương thì cho vay tái
cấp vốn là nghiệp vụ quan trọng nhất. Ngân hàng trung ương thực hiện tái cấp
vốn thông qua việc cho vay lại theo hồ sơ tín dụng; chiết khấu và tái chiết khấu
thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác; và cho vay có bảo đảm bằng
cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.
Ngân hàng trung ương còn cho vay theo chỉ định nhằm thực hiện các yêu

ra nước ngoài nhiều) và xuất khẩu giảm làm ngoại tệ thu về giảm. Và ngược lại,
khi tỷ giá tăng thì sẽ khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, lượng ngoại
tệ chuyển vào có xu hướng tăng, dự trữ ngoại tệ dồi dào, tạo điều kiện cho ổn
định cán cân thương mại quốc tế.
Không những thế, khi đồng tiền trong nước lên giá, hàng hóa nhập khẩu sẽ
rẻ hơn, làm lạm phát giảm. Ngược lại, khi đồng tiền mất giá thì giá những mặt
Hoạt động của các tổ chức tín dụng qua phản ánh của báo chí

17
hàng tư liệu sản xuất, vật tư nhập khẩu lại tăng, làm cho giá thành sản phẩm tăng
khiến mặt bằng giá cả trong nước lên cao, gây áp lực lạm phát.
Vì ảnh hưởng to lớn của tỷ giá hối đoái nên trong từng thời kỳ, ngân hàng
trung ương sẽ thực hiện chính sách hối đoái của mình cho phù hợp. Ngoài ra,
ngân hàng trung ương còn dùng quỹ bình ổn hối đoái hay lãi suất chiết khấu để
can thiệp khi cần thiết.
Ngân hàng Nhà nước quản lý việc chuyển ngoại hối ra nước ngoài và
ngược lại của các tổ chức kinh tế, xã hội, dân cư theo quy định cụ thể.
1.1.2.4. Nghiệp vụ thanh toán và thống kê
Ngân hàng trung ương mở tài khoản và thực hiện các giao dịch, các dịch
vụ thanh toán cho các tổ chức tín dụng trong nước, các ngân hàng nước ngoài và
tổ chức tiền tệ, ngân hàng quốc tế để đảm bảo sự vận động về vốn giữa các ngân
hàng thương mại diễn ra trôi chảy và nhanh chóng. Thanh toán ở đây bao gồm cả
thanh toán tiền mặt và không dùng tiền mặt (thanh toán séc, chuyển khoản, uỷ
nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thẻ tín dụng) Thông qua nghiệp vụ này, các chi phí lưu
thông, vận chuyển tiền mặt được hạn chế ở mức thấp, đồng thời cũng điều hoà
được nguồn vốn giữa các ngân hàng.
Để làm tốt chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ, tín dụng, thanh toán và
ngoại hối, ngân hàng trung ương phải có các số liệu chính xác về lĩnh vực này.
Vì vậy, ngân hàng trung ương tiến hành thống kê số liệu theo các tiêu thức riêng
biệt để phục vụ cho công tác quản lý. Nghiệp vụ thống kê của ngân hàng trung

Hoạt động của các tổ chức tín dụng qua phản ánh của báo chí

19
2. Nghiệp vụ kinh doanh tín dụng
2.1 Cho vay ngắn hạn
2.2 Cho vay trung và dài hạn
3. Nghiệp vụ hùn vốn, góp vốn
4. Nghiệp vụ kinh doanh khác
5. Tài sản cố định
1.1 Tiền gửi của các tổ chức kinh tế
1.2 Tiền gửi tiết kiệm
2. Vốn đi vay
2.1 Vay của các NHTM khác
2.2 Vay của NHTW
2.3 Vốn điều hoà
2.4 Vốn nhận uỷ thác
3. Vốn tự có

1.1.3.1. Nghiệp vụ tài sản Nợ và vốn của ngân hàng
Nguồn vốn của ngân hàng thương mại có thể chia làm ba loại là vốn huy
động (từ các tổ chức kinh tế và dân cư), vốn đi vay (của các tổ chức tín dụng
khác và của ngân hàng trung ương), và vốn tự có của của ngân hàng.
Các tổ chức kinh doanh, các doanh nghiệp gửi tiền vào ngân hàng với mục
đích chủ yếu là bảo quản an toàn tài sản và nhờ ngân hàng thực hiện các dịch vụ
thanh toán cho mình. Vì vậy, ngân hàng thường mở cho họ tài khoản tiền gửi
thanh toán. Vì khách hàng có thể yêu cầu thanh toán bất cứ lúc nào nên đối với
loại tài khoản này, ngân hàng thương mại có thể không trả lãi mà thay vào đó
bằng cách không thu phí dịch vụ. Ngược lại, ngân hàng có thể vừa trả lãi, vừa
thu phí dịch vụ.
Đối với người dân muốn gửi tiền tiết kiệm nhằm mục đích hưởng lãi, ngân

Hoạt động của các tổ chức tín dụng qua phản ánh của báo chí

21
Với các khoản tiền của mình, ngân hàng phải trích một tỷ lệ nhất định để
nộp dự trữ bắt buộc (tỷ lệ này khác nhau đối với các loại tiền gửi và các loại hình
tổ chức tín dụng) và lập quỹ đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng. Việc
trích lập các quỹ này trong nghiệp vụ tài sản Có được gọi là nghiệp vụ ngân quỹ.
Bản chất của hoạt động ngân hàng là đi vay để cho vay nên nghiệp vụ tài
sản Có chủ yếu của ngân hàng là cho vay. Các khoản cho vay thường được phân
chia theo thời hạn thành ngắn hạn và trung - dài hạn. Các khoản cho vay ngắn
hạn là những khoản vay chủ yếu đầu tư vào tài sản lưu động của khách hàng, tức
là cho khách hàng vay để duy trì hoạt động kinh doanh bình thường của họ. Còn
cho vay trung và dài hạn là để đầu tư vào các tài sản cố định của doanh nghiệp.
Các khoản vay này thường có giá trị lớn và thời gian lưu chuyển vốn chậm.
Ngoài ra, ngân hàng còn có thể dùng số vốn khả dụng của mình (vốn được
phép sử dụng) để kinh doanh chứng khoán, hoặc hùn vốn, góp vốn, liên doanh,
liên kết hay kinh doanh vàng bạc, đá quý
1.1.4. Hoạt động nghiệp vụ của các tổ chức tín dụng phi ngân hàng
Về bản chất, hoạt động của các tổ chức tín dụng phi ngân hàng cũng tương
tự như các ngân hàng thương mại là đi vay để cho vay. Tuy nhiên, các tổ chức
tín dụng phi ngân hàng không được huy động vốn không kỳ hạn và không được
thực hiện nghiệp vụ thanh toán. Mỗi loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng có
nghiệp vụ và mục đích hoạt động riêng. Đối với các tổ chức tín dụng hợp tác
(các Quỹ tín dụng nhân dân), nghiệp vụ đi vay và cho vay được nhằm thực hiện
mục đích tương trợ lẫn nhau giữa các thành viên của quỹ trên địa bàn. Trong khi
đó, các công ty tài chính ở Việt Nam hiện nay đều trực thuộc các tổng công ty
lớn, làm nhiệm vụ huy động và cho vay giữa các công ty thành viên của tổng
Hoạt động của các tổ chức tín dụng qua phản ánh của báo chí

22

Đến Đại hội Đảng VII, yêu cầu đối với ngành ngân hàng đã được nâng
lên, đòi hỏi ngân hàng phải làm tốt chức năng tiền tệ, tín dụng và thanh toán,
đồng thời phải phân định rõ chức năng ngân hàng Nhà nước và ngân hàng kinh
doanh. Lần đầu tiên, áp dụng chính sách kinh tế nhiều thành phần, Đảng và Nhà
nước đã cho phép thành lập ngân hàng thương mại cổ phần và cho phép ngân
hàng nước ngoài vào hoạt động theo luật pháp của Việt Nam. Quản lý ngoại tệ
được chú trọng hơn, yêu cầu các giao dịch ngoại tệ phải thông qua ngân hàng và
dần xây dựng một thị trường hối đoái.
“Lĩnh vực tài chính, tiền tệ đạt tiến bộ đáng kể, nổi bật nhất là đã chặn
được nạn lạm phát cao, từng bước đẩy lùi lạm phát”. Đó là một trong nhiều mặt
chúng ta đã làm được sau 10 năm đổi mới và được khẳng định trong văn kiện
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. Đại hội này cũng khuyến nghị phát triển
thị trường tiền tệ và thị trường vốn, tăng khả năng chuyển đổi của đồng Việt
Nam. Một lần nữa, việc kiểm soát và hạn chế sử dụng ngoại tệ trong nước lại
được đề cập, trong đó yêu cầu ổn định một tỷ giá hối đoái phù hợp với sức mua
thực tế của đồng tiền.
Chưa có một văn kiện đại hội Đảng nào mà các vấn đề NH lại được đề cập
nhiều như trong văn kiện đại hội IX. Văn kiện không chỉ đánh giá thành tựu mà
ngành NH đạt được trong 5 năm qua, chỉ ra mặt hạn chế mà còn đưa ra định
hướng phát triển và giải pháp xử lý. Việc phát triển vốn và tiền tệ với các hình
thức đa dạng, thích hợp nhằm thu hút các nguồn vốn trong xã hội được coi là
Hoạt động của các tổ chức tín dụng qua phản ánh của báo chí

24
nhiệm vụ hàng đầu. Đồng thời, Nhà nước sẽ “giảm mạnh các hình thức bao cấp
về vốn, tín dụng. Cải cách hệ thống ngân hàng thương mại, tách chức năng tín
dụng chính sách ra khỏi chức năng kinh doanh của các ngân hàng thương mại
quốc doanh, đặt các ngân hàng thương mại quốc doanh hoạt động trong môi
trường cạnh tranh; lành mạnh hoá toàn bộ hệ thống ngân hàng thương mại cổ
phần và ngân hàng thương mại quốc doanh. Hiện đại hoá và đổi mới công nghệ

Các thông tin, các dịch vụ truyền tin trên các phương tiện thông tin đại chúng
như các thông tin trên các chuyên mục kinh tế, khoa học, công nghệ trên báo
hàng ngày, phương tiện truyền hình, truyền thanh, các dịch vụ quảng cáo, thông
báo không mất tiền v.v đều là các sản phẩm thông tin cần thiết. Đồng thời, tác
giả cũng cho biết, theo kết quả điều tra 300 doanh nghiệp có nhu cầu về sử dụng
các thông tin thị trường, có tới 203 doanh nghiệp thu thập thông tin từ các
phương tiện thông tin đại chúng, 171 doanh nghiệp mua và sử dụng các thông tin
từ các tạp chí, ấn phẩm. “Tuy kết quả này không phải là phổ biến đối với tất cả
khách hàng của thị trường thông tin nhưng cũng cho thấy vai trò của các
phương tiện thông tin đại chúng, các xuất bản phẩm trong hoạt động thông tin là
rất lớn.”
Như vậy, thông tin báo chí kinh tế đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt
động sản xuất kinh doanh. Để có thể phân tích kỹ hơn về thông tin báo chí trong
lĩnh vực ngân hàng, chúng tôi chia đối tượng độc giả của thông tin hoạt động

Trích đoạn Hoạt động nghiệp vụ của cỏc tổ chức tớn dụng gúp phần thỳc đẩy tăng trưởng kinh tế Hoạt động của ngõn hàng và cỏc tổ chức tớn dụng trong khu vực và quốc tế HèNH THỨC CHUYỂN TẢI THễNG TIN Phỏng vấn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status