ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRƯƠNG THỊ TUYÊN
BÁO CHÍ VỚI RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CỦA SINH VIÊN Chuyên ngành: Triết Học
Mã số : 60.32.01 LUẬN VĂN TH.S TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN
TS.TRẦN ĐĂNG THAO
25
1.2.2. Sinh viên có thể tìm thấy những thông tin khoa học cập nhật,
những tài liệu liên quan đến chuyên ngành mình học trên các loại hình
báo chí
25
1.2.3. Những thông tin về đời sống văn hóa tinh thần, về những điển
hình tiến tiến, gương người tốt việc tốt đang hàng ngày, hàng giờ
được báo chí phản ánh 26
1.2.4. Báo chí góp phần tuyên truyền tổ chức, hướng dẫn SV tham
gia vào các phong trào thực tiễn chính trị - xã hội
26
Tiểu kết chương 1
30
Chương 2: THỰC TRẠNG BÁO CHÍ VỚI VIỆC RÈN LUYỆN
ĐẠO ĐỨC CỦA SINH VIÊN
32
2.1. Vài nét về hệ thống báo chí cho sinh viên hiện nay
32
2.1.1. Cơ cấu tổ chức hệ thống báo chí dành cho sinh viên hiện nay
32
2.1.2. Khái quát về các báo khảo sát
33
2.1.3. Những nội dung tuyên truyền, giáo dục, rèn luyện đạo đức
cho sinh viên trên các báo
35
2.2. Nội dung chuyển tải
36
3.1.2. Yêu cầu giáo dục đạo đức cho sinh viên trong thời kỳ mới
116
3.2. Đề xuất một số giải pháp
122
3.2.1. Những giải pháp chung
122
3.2.2. Những giải pháp cụ thể
125
Tiểu kết chương 3
140
KẾT LUẬN
142
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 3 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN CNXH
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Ngay từ thời niên thiếu, Hồ Chí Minh đã thấy rõ sự đóng góp to lớn của
tuổi trẻ Việt Nam trong sự trường tồn và phát triển của dân tộc. Họ là lực lượng
đông đảo nhất, hùng hậu nhất trong các công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, là
lực lượng gánh vác những công việc nặng nề, khó khăn vất vả nhất với tinh thần
xung kích: “Việc gì khó có thanh niên, ở đâu khó có thanh niên” [31, tr. 60].
Từ năm 1986, Việt Nam chính thức bước vào thời kì đổi mới, xóa bỏ chế độ
bao cấp và chuyển sang nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa
(XHCN). Một nền kinh tế mở đang ngày càng đặt dần những bước chân mạnh mẽ
vào quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Đặc biệt năm 2007 đánh dấu sự kiện
Việt Nam chính thức được công nhận là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương
mại thế giới (WTO). Hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu
đáng tự hào, đời sống nhân dân được nâng lên rõ rệt. Tuy nhiên quá trình mở cửa
nền kinh tế cũng tác động mạnh đến các giá trị tinh thần, đặc biệt là giá trị đạo đức
của con người trên cả hai phương diện tích cực và tiêu cực. Thế hệ trẻ hôm nay
mang nhiều nét của thời đại mới: Thông minh, năng động, ham hiểu biết, dám nghĩ,
dám làm. Bên cạnh đó, trong thanh niên đã xuất hiện những biểu hiện tiêu cực về
đạo đức, lối sống. “Đặc biệt đáng lo ngại là trong một bộ phận học sinh, sinh viên
có tình trạng suy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng,
thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước” [43].
1.2. Việc giáo dục thế hệ trẻ nói chung, với sinh viên (SV) nói riêng là một
việc lớn đòi hỏi tất cả các cấp, các ngành, các đoàn thể xã hội cùng tham gia, trong
đó có sự đóng góp của các phương tiện thông tin đại chúng mà báo chí là đội quân
(CĐ), đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hoá (HĐH) đất
nước.
6
- Luận văn thạc sĩ: “ Tạp chí thanh niên với việc giáo dục thế hệ trẻ nước ta
hiện nay” của tác giả Trần Hương Giang (2004), Học viện Báo chí & Tuyên truyền.
- Luận văn thạc sĩ: “ Khả năng tác động của các phương tiện thông tin đại
chúng đối với việc hình thành lối sống của thanh niên sinh viên hiện nay” của tác
giả Hoàng Thị Xuân Quý (1999), Phân viện Báo chí & Tuyên truyền.
Đề tài đề cập đến những vấn đề làm sáng tỏ mối quan hệ giữa các phương
tiện thông tin đại chúng và việc hình thành lối sống của TNSV, qua đó xây dựng
những giải pháp phát huy tối đa khả năng các phương tiện thông tin đại chúng.
- Luận văn thạc sĩ: “ Báo chí với quá trình hình thành nhân cách của học
sinh sinh viên” của tác giả Lại Thị Hải Bình (2006), Trường ĐH Khoa học xã hội và
Nhân văn. Luận văn đề cập chủ yếu đến tác động của báo chí tới quá trình hình thành
nhân cách của HSSV ở mức độ khái quát.
- Luận văn thạc sĩ: “ Giáo dục nhân cách cho trẻ vị thành niên trên báo chí hiện
nay” của tác giả Trần Thị Dung (2007), Học viện Báo chí & Tuyên truyền. Đề tài tập
trung đưa ra những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục và định hướng nhân cách cho
trẻ vị thành niên trên báo Thiếu niên Tiền phong và Hoa học trò.
- Khóa luận: “Tác động của nhóm đề tài tình bạn, tình yêu trên báo in đối với
sự phát triển nhân cách của tuổi vị thành niên” của tác giả Trần Thúy Hồng (2007),
Học viện Báo chí & Tuyên truyền. Trong phạm vi khóa luận ngắn gọn, tác giả đưa ra
định hướng thông tin trên báo chí về tình bạn, tình yêu như thế nào để có giá trị giáo
dục tốt nhất cho vị thành niên trong giai đoạn hiện nay.
Các công trình nghiên cứu trên phản ánh ở các giai đoạn khác nhau, đối tượng
khác nhau. Tuy nhiên trên thực tế còn quá ít những công trình nghiên cứu, đánh giá,
tổng kết kinh nghiệm tuyên truyền GDĐĐ cho đối tượng là SV thông qua phương
tiện báo chí, đặc biệt là báo in. Vì vậy nội dung nghiên cứu: “Báo chí với việc rèn
luyện đạo đức của sinh viên” là đề tài mới chưa có công trình nào nghiên cứu.
8
6.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở sử dụng phương pháp luận báo chí Mác
xít, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối chủ trương, chính sách của
Đảng, Nhà nước, Nghị quyết của Đoàn Thanh niên về vấn đề TNSV.
6.2. Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
+ Nghiên cứu văn kiện
+ Nghiên cứu tài liệu ngành
+ Nghiên cứu sách báo, tạp chí, các công trình sản phẩm liên quan đến đề tài
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Quan sát, trò chuyện
+ Thống kê số liệu, phân tích thực trạng
+ Điều tra cơ bản bằng phiếu hỏi
+ Lấy ý kiến chuyên gia (qua trao đổi, toạ đàm)
+ Phỏng vấn trực tiếp SV.
- Bổ sung vào hai phương pháp trên, tác giả còn sử dụng phương pháp toán
thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp.
7. Những đóng góp mới của luận văn
7.1. Đánh giá một cách cơ bản thực trạng đạo đức SV và vấn đề tác động của
báo chí đối với giáo dục SV.
7.2. Đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm phát huy vai trò của báo
chí với việc rèn luyện đạo đức của SV.
8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
8.1. Ý nghĩa lý luận
9
Đây là công trình nghiên cứu cơ bản thực trạng của công tác tuyên truyền,
giáo dục SV trên 4 tờ báo. Việc quan tâm đến thế hệ trẻ là nhiệm vụ của mọi thời
đại, đặc biệt là trong tình hình xã hội nước ta hiện nay. Đảng, Nhà nước, Đoàn
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BÁO CHÍ VỚI VIỆC RÈN LUYỆN
ĐẠO ĐỨC SINH VIÊN
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM KHOA HỌC
1.1.1. Sinh viên
1.1.1.1. Khái niệm sinh viên
Trong từ điển Oxford (1995), thuật ngữ “Student” được giải thích như sau: “a,
Một người thường ở độ tuổi trên 16, đang theo học ở trường đại học hoặc cao đẳng.
b, Một thiếu niên nam hoặc nữ đang học ở trường phổ thông” [40, tr. 18].
Từ điển Tiếng Việt (2001) xếp SV vào danh từ và định nghĩa là “người học ở
bậc ĐH”. Bậc ĐH ở đây, theo quy định của luật giáo dục, bao gồm ĐH, CĐ [40, tr. 18].
Hiện nay, một định nghĩa về SV được chấp nhận rộng rãi trong khoa học xã
hội là: SV là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt gồm những người đang trong
quá trình chuẩn bị tri thức để trở thành chuyên gia, hoạt động lao động trong một
lĩnh vực nhất định thuộc các ngành kinh tế, văn hoá, xã hội hoặc SV là những người
đang học tập ở các trường ĐH, CĐ trong và ngoài nước [19, tr. 47]. Từ định nghĩa
này có thể hiểu: Sinh viên là những công dân có độ tuổi từ 18 đến 30 đang học tập
bậc đại học, cao đẳng. Như vậy, theo cách hiểu này TNSV có một số đặc điểm sau:
11
- Là những người đã tốt nghiệp phổ thông trung học, bổ túc trung học hoặc
trung cấp chuyên nghiệp, xuất thân từ các tầng lớp xã hội khác nhau đang trong quá
trình học tập, chuẩn bị nghề nghiệp chuyên môn tại các trường ĐH, CĐ.
- Là lớp người năng động, luôn nhạy cảm và sẵn sàng tiếp thu cái mới.
- “ SV là bộ phận trí tuệ và ưu tú trong các thế hệ thanh niên, là nơi kết tinh
nhiều tài năng sáng tạo, là nguồn lao động có học vấn cao, có chuyên sâu và đại bộ
phận SV sẽ trở thành người trí thức của đất nước”
[32].
Hình 1.1. Cấu trúc đội ngũ trí thức theo trình độ chuyên môn
D
1. Lực lượng trí thức đầu
ngành tiên tiến nhất
C
2. Lực lượng trí thức
nòng cốt
3. Lực lượng trí thức đông
đảo, ứng dụng, truyền bá
kiến thức
4. Lực lượng SV, nguồn bổ
sung của đội ngũ trí thức
1
2
3
4
A
B. Văn hóa, nghệ thuật
A. Khoa học, công nghệ
Đ
B
2
4
A
B
C
D
Đ
Đ. Quốc phòng, an ninh
D. Quản lý xã hội
C. Quản lý kinh tế
B. Văn hóa, nghệ thuật
A. Khoa học, công nghệ
4. Lực lượng SV, nguồn bổ
sung của đội ngũ trí thức
3. Lực lượng trí thức đông
đảo, ứng dụng, truyền bá
kiến thức
2. Lực lượng trí thức
nòng cốt
1. Lực lượng trí thức đầu
ngành tiên tiến nhất
14
nhận thức khoa học, động cơ tư tưởng, thái độ chính trị đến ý thức tình cảm và hành
vi đạo đức.
Thứ ba, với SV, lý tưởng về nghề nghiệp thường là một trong những biểu
hiện tập trung cho sự lựa chọn của họ về giá trị cuộc sống, thái độ nhập cuộc với
cuộc sống. Lý tưởng nghề nghiệp, hướng tới những vị trí xã hội trong nghề nghiệp ở
SV là năng lực tự đánh giá. Tự đánh giá của nhân cách thể hiện ở thái độ đối với
bản thân và kết quả sự biểu hiện các thuộc tính nhân cách và năng lực trong hoạt
động, giao tiếp và tự giáo dục. Tự đánh giá phản ánh mức độ thoả mãn của nhân
cách về bản thân, là mức độ thoả mãn của chủ thể về trình độ phát triển các thuộc
tính của cá nhân. Đó là kết quả đánh giá từ bên ngoài hình thành nên lòng tự trọng
của cá nhân. Chúng bảo đảm cho tính tích cực của nhân cách được thực hiện trong
đời sống với toàn bộ cấu trúc của mối quan hệ liên nhân cách. Các công trình
nghiên cứu về TNSV đã chỉ ra rằng, tự đánh giá có ý nghĩa lớn trong việc hình thành
lòng tự trọng của nhân cách. Học tập và giao tiếp là hai hoạt động tích cực, biểu hiện
trong nhân cách của SV và tự đánh giá các phẩm chất qui định tính cách SV như chủ
thể của lao động học tập và giao tiếp là có ý nghĩa nhất trong cấu trúc tự đánh giá của
nhân cách.
+ Kế hoạch đường đời và xu hướng nghề nghiệp của SV:
Trong quá trình học tập ở ĐH, SV tiếp thu những tri thức từ các môn khoa
học và tham gia vào các hoạt động khác nhau của đời sống xã hội nên xu hướng nghề
nghiệp của SV được hình thành và phát triển. Đó là ý định của cá nhân muốn sử dụng
những tri thức, kinh nghiệm, năng lực của mình vào nghề nghiệp đã chọn. Trong xu
hướng nghề nghiệp của nhân cách thì thái độ tích cực đối với nghề, khuynh hướng và
hứng thú nghề nghiệp, ý muốn hoàn thiện việc chuẩn bị cho nghề nghiệp, muốn
chiếm lĩnh hoạt động trong lĩnh vực nghề nghiệp của mình được thể hiện. Việc thích
ứng tốt là cơ sở cho sự ổn định nghề nghiệp. Nó bảo đảm cho niềm tin vào sự đúng
đắn trong việc chọn nghề, là cơ sở để tự khẳng định nhân cách và củng cố xu hướng
nghề nghiệp của SV.
16
+ Xu hướng phát triển nhân cách của SV:
Nhân cách của SV là nhân cách của con người trẻ đang được chuẩn bị để thực
hiện chức năng người chuyên gia có trình độ nghiệp vụ cao trong một lĩnh vực hoạt
động nào đó của xã hội. Lứa tuổi TNSV là giai đoạn chuyển từ sự chín muồi về thể
lực sang trưởng thành về phương diện xã hội. Trong thời kỳ này, ở SV có sự biến đổi
đang đứng trước những trọng trách nặng nề và vẻ vang của dân tộc giao phó: những
trí thức trẻ tương lai phải trở thành nguồn nhân lực trẻ có chất lượng cao thực hiện
thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Là lớp người có tri thức, năng động, nhạy
cảm, SV có khả năng tiếp nhận nhanh với cái mới, cái hiện đại, có thái độ phê phán
cái sai, cái lạc hậu, bảo thủ; có quan niệm riêng về tự do, dân chủ, bình đẳng, nhân
đạo, về văn hoá và hiện đại.
Ở hầu hết các nước, “ngòi nổ” của các trào lưu tư tưởng, chính trị, lối sống mới,
thường bắt đầu từ SV. Ở Việt Nam trong phong trào cách mạng, SV đã và đang là lực
lượng xã hội - chính trị tích cực. Trong công cuộc đổi mới đất nước, SV tỏ rõ sự nhạy
cảm, năng động đi vào các lĩnh vực khoa học - công nghệ, kinh tế mới và đã mau
chóng hội nhập với thế giới. Hiện nay, trong các ngành chủ đạo của đất nước, như: tin
học, bưu chính viễn thông, vật liệu mới, hàng không, ngân hàng, dầu khí, sinh học
hầu hết lực lượng lao động chủ yếu là những SV mới tốt nghiệp khoảng 5 -10 năm gần
đây.
1.1.1.3. Vai trò của sinh viên
V.I. Lênin rất chú trọng tới phong trào SV, ông nhận thấy rằng sự gắn
bó mật thiết giữa bộ phận ưu tú nhất của SV với giai cấp vô sản cách mạng đã đem
lại sức mạnh to lớn và sự phát triển nhanh chóng của cách mạng. Sự nghiệp của giai
cấp vô sản không thể thiếu được sự tham gia tích cực và tự giác của SV. Những
người trẻ tuổi có học thức sẽ trưởng thành một cách chắc chắn, tích lũy thêm kinh
18
nghiệm và vốn sống thực tiễn và cùng với tri thức mà họ thu hái được, cùng với
nhiệt tình của tuổi trẻ, cùng với thực tiễn đấu tranh chính trị, mà chỉ có thông qua
thực tiễn ấy, tri thức ấy mới biến thành tình cảm, niềm tin và hành động họ sẽ trở
thành người cộng sản giác ngộ. V.I Lênin cho rằng, SV một bộ phận quan trọng của
giới trí thức trẻ, là người bạn đồng minh đáng tin cậy của giai cấp công nhân.
Trong “Nhiệm vụ của Đoàn thanh niên” V.I Lênin nhấn mạnh: người ta chỉ
có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí tuệ của mình bằng tổng số tri
được tăng lên với tư cách là nguồn lực của phát triển thì SV nguồn bổ sung cho đội
ngũ tri thức có vai trò hết sức to lớn, nhất là trong công cuộc đổi mới đất nước ta
hiện nay. Tại đại hội lần thứ V Hội SVVN (22/11/1993) nguyên Tổng Bí thư Đỗ
Mười khẳng định “sự nghiệp đổi mới đất nước, xây dựng CNXH có thành công hay
không, đất nước ta bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế
giới hay không, chủ yếu do thế hệ thanh niên hiện nay quyết định, trong đó SV là
bộ phận có vai trò hết sức quan trọng [28, tr. 177].
1.1.2. Đạo đức
1.1.2.1. Khái niệm đạo đức
Đạo đức theo từ điển Anh Việt (1993) được định nghĩa như sau: “1, Những
nguyên tắc xử thế đúng đắn: đạo đức. 2, (Mức độ) phù hợp các nguyên tắc đạo đức,
lòng tốt hay tính đúng đắn; đạo lý, đạo nghĩa. 3 là hệ thống đạo đức riêng: đạo; giáo lý”
[40, tr. 32].
Đạo đức theo tiếng Anh là Morality (từ điển Oxford 1995) giải thích: “1,
những quy tắc liên quan đến đúng và sai, hoặc hành vi tốt hoặc xấu. 2, Mở rộng đối
với những gì là đúng hoặc sai, tốt hoặc xấu. 3. Một hệ thống đặc biệt về các quy tắc”
[40, tr. 32].
20
Đạo đức là một vấn đề dành được sự quan tâm của nhiều lĩnh vực khoa học
và của nhiều nhà khoa học. Mỗi lĩnh vực khoa học, nhà khoa học lại đề cập đến đạo
đức ở những khía cạnh với những phạm vi nội dung khác nhau:
- “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, những
nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi của
mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội trong
quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội” [10].
- “Đạo đức là toàn bộ những quy tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh và đánh giá
cách ứng xử của con người với nhau trong quan hệ xã hội và quan hệ với tự nhiên”
[10].
- “Đạo đức là hệ thống những quy tắc, chuẩn mực biểu hiện sự tự giác trong
hành vi đạo đức (toàn bộ nhân cách cụ thể và GDĐĐ phải thông qua tổ chức cho
người được giáo dục tham gia vào các hành vi đạo đức và giáo dục toàn bộ nhân
cách con người); tính sẵn sàng hành động có đạo đức; niềm tin đạo đức; xu hướng
đạo đức; phẩm chất ý chí và phương thức hành vi. Hành vi đạo đức có mối quan hệ
chặt chẽ với nhu cầu đạo đức. Nhu cầu đạo đức quy định sự bộc lộ hành vi đạo đức,
nhưng hành vi đạo đức cũng tác động trở lại nhu cầu đạo đức làm cho nó biến đổi.
Nhu cầu đạo đức là một bộ phận trong hệ thống nhu cầu của cá nhân. Trong một
điều kiện nhất định, nhu cầu đạo đức sẽ được nổi bật lên và dần xác định được đối
tượng để thoả mãn nhu cầu đó. Khi đối tượng được xác định tức là động cơ đạo đức
được hình thành. Động cơ đạo đức chính là yếu tố thúc đẩy chủ thể tiến hành hành
vi đạo đức. Trong quá trình đó, nhân cách của con người được bộc lộ và hình thành.
Đạo đức được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh trong sáng, ở hành
động, góp phần giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn. Đạo đức còn thể
hiện ở hiệu quả hoạt động cá nhân trong việc hoàn thiện nhân cách suốt đời, sự
đóng góp của bản thân vào việc thực hiện nghĩa vụ công dân trong sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước, xây dựng một xã hội công bằng dân chủ, văn minh. Người có đạo
đức là người tự giác, sáng tạo, thực hiện có hiệu quả, có chất lượng cao các nhiệm
22
vụ của bản thân đối với công việc, đối với xã hội, gia đình và ở cộng đồng nơi sinh
sống.
Hiểu theo nghĩa rộng của khái niệm đạo đức, chúng ta thấy đạo đức còn liên
quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống. Đạo đức là thành phần cơ
bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách của cá nhân. Với tư cách là chủ thể
hoạt động trong các quan hệ xã hội.
Nói đến đạo đức trong xã hội và ở từng con người là nói tới chuẩn mực đạo
đức (hay còn gọi là giá trị đạo đức) là những phẩm chất đạo đức có tính chất chuẩn
mực nhiều người thừa nhận, được dư luận xác định như một đòi hỏi khách quan, là
thước đo giá trị cần có ở mỗi người. Những chuẩn mực đạo đức ấy được coi như
một mục tiêu giáo dục, rèn luyện ở mọi người, nhiều bậc học, cấp học, lứa tuổi,
giáo dục của gia đình ngày càng có ý nghĩa quan trọng.
Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì cấu trúc nhân cách được tóm
gọn trong mối quan hệ giữa Đức và Tài. Người luôn khẳng định: “Đạo đức là cái
gốc của con người cách mạng”. “Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó,
có tài mà không đức là người vô dụng”, nhiều khi lại hại dân, hại nước. Theo Hồ
Chủ Tịch, đức là yếu tố cơ bản, là thành phần chủ yếu của nhân cách. Muốn có đạo
đức cách mạng phải rèn luyện, học tập tham gia vào hoạt động lao động xã hội, đấu
tranh cách mạng và lao động sản xuất. Vì thế vấn đề cốt lõi của GDĐĐ là tác động
một cách hệ thống giá trị đạo đức, nhân văn đến việc hình thành phát triển, nhân
cách toàn diện cho SV.
Hệ thống giá trị đạo đức, nhân văn là những phẩm chất đạo đức, tư tưởng,
chính trị, cuộc sống tâm hồn và những nét tâm lý, tính cách của mỗi cá nhân. Nó
không phải là những tố chất sinh học di truyền, nhưng có thể kế thừa giữa các thế hệ
trong môi trường sống có truyền thống như gia đình, nhà trường, cộng đồng dân tộc.
Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức, nhân văn còn giúp người có nhu cầu, tạo động
lực bên trong của hành động muốn làm điều thiện, điều tốt lành vì danh dự vì lòng
24
tự trọng, vì cái cao thượng, vì mọi người chứ không phải vì quyền lợi ích kỷ cá
nhân. Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức nhân văn góp phần tạo ra khả năng điều
chỉnh nhận thức, hoạt động của mỗi cá nhân theo hướng hợp lý, đúng đắn nhất
trong sự phát triển của xã hội.
Vì vậy cần phải thông qua những phương tiện tác động một cách có hệ thống
những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực và các giá trị đạo đức đến sự phát triển của
trí lực, thể lực (SV) làm cho họ dần có được phẩm chất nhân cách mới do xã hội đề
ra.
SV hiện nay coi trọng chuẩn mực đạo đức trong quan hệ với bạn bè, thầy cô
giáo và những người thân những chuẩn mực thuộc về trách nhiệm của công dân đối
với quê hương, đất nước.
Tóm lại: Đạo đức với những chuẩn mực giá trị đúng đắn, là một bộ phận