ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
CHU THỊ THANH VUI
VAI TRÒ CỦA THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT
BIỆN CHỨNG ĐỐI VỚI VIỆC RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC
CỦA SINH VIÊN NGÀNH Y TẾ HIỆN NAY
(QUA THỰC TẾ TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƢỠNG NAM ĐỊNH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2011
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
CHU THỊ THANH VUI
VAI TRÒ CỦA THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT
BIỆN CHỨNG ĐỐI VỚI VIỆC RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC
CỦA SINH VIÊN NGÀNH Y TẾ HIỆN NAY
(QUA THỰC TẾ TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƢỠNG NAM ĐỊNH)
Chuyên ngành: Triết học
Mã số
: 60 22 80
Chƣơng 1. VAI TRÒ CỦ A THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHƢ́NG ĐỐI
VỚI VIỆC RÈ N LUYỆN ĐẠO ĐƢ́C CỦ A SINH VIÊN NGÀ NH Y
TẾ HIỆN NAY ................................................................................... 6
1.1. Những chuẩ n mực đa ̣o đức của người thầ y thuố c mà sinh viên ngành y
cầ n phấ n đấ u và rèn luyê ̣n ..................................................................... 6
1.2. Thế giới quan duy vật biện chứng và vai trò của nó đối với viê ̣c rèn
luyê ̣n đa ̣o đức của sinh viên ngành y tế hiện nay ................................ 15
1.2.1. Thế giới quan duy vật biện chứng ..................................................... 15
1.2.2. Vai trò của thế giới quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng đố i với viê ̣c rèn
luyê ̣n đa ̣o đức của sinh viên ngành y tế hiện nay ................................ 25
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA THẾ GIỚI QUAN DUY
VẬT BIỆN CHƢ́NG ĐỐI VỚI VIỆC RÈ N LUYỆN ĐẠO ĐƢ́C CỦ A
SINH VIÊN NGÀNH Y TẾ HIỆN NAY
(QUA THƢ̣C TẾ TẠI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƢỠ NG NAM ĐINH
) VÀ MỘT SỐ VẤN
̣
ĐỀ ĐẶT RA ........................................................................................... 33
2.1. Thực tra ̣ng phát huy vai trò của thế giới quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng đối
với viê ̣c rèn luyê ̣n đa ̣o đức của sinh viên ngành y tế hiê ̣n nay (qua
thực tế tại Trường Đa ̣i ho ̣c Điề u dưỡng Nam Đinh)............................
33
̣
2.1.1. Về mă ̣t tić h cực .................................................................................. 33
2.1.2. Về mă ̣t ha ̣n chế và yế u kém .............................................................. 50
2.2. Một số vấn đề đặt ra trong việc phát huy vai trò thế giới quan duy vật
biện chứng đối với việc rèn luyện đạo đức của sinh viên ngành y
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................. 92
PHỤ LỤC ............................................................................................................. 97
5
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
CNĐQ : Chủ nghĩa đế quốc
Nxb : Nhà xuất bản
6
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thế giới quan duy vật biện chứng của triết học Mác-Lênin là thế giới
quan khoa học, tiên tiến, triệt để và cách mạng. Thế giới quan đó phản ánh
đúng đắn những qui luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy con người;
là cơ sở phương pháp luận khoa học cho hoạt động nhận thức và thực tiễn của
con người; “cung cấp cho loài người nhất là giai cấp công nhân những công
cụ nhận thức vĩ đại" [32, tr.54]. Chính vì thế việc bồi dưỡng, giáo dục thế giới
quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng có ý nghiã vô cùng quan tro ̣ng
Hiện nay nước ta đang trong thời kì đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa. Muốn thực hiện thành công sự nghiệp này, đưa đất nước đi
lên chủ nghĩa xã hội thì chúng ta cần phải có những con người có trình độ cao
về tri thức khoa học, giàu lý tưởng phấn đấu cho sự nghiệp cao cả của đất
nước. Trong những con người đó có sinh viên ngành y . Họ sẽ là người thầy
đó xác lâ ̣p quan điể m số ng tích cực
, có ý thức tự rèn luyện đa ̣o đức nghề
nghiê ̣p của mình . Thế giới quan duy vật biện chứng có vai trò và ý nghĩa hết
sức quan tro ̣ng đối với việc rèn luyện đạo đức của sinh viên nói chung và sinh
viên ngành y nói riêng. Để góp phầ n làm rõ vai trò quan trọng đó , tôi cho ̣n đề
tài: “Vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng đối với việc rèn luyện đạo
đức của sinh viên ngành y tế hiện nay” (qua thực tế của Trường Đại học
Điều dưỡng Nam Định) làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề về vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng mácxít đã được
đề cập đến trong nhiều công trình khoa học , các cuốn sách, các bài viết, luận
án tiến sĩ, thạc sĩ. Chẳ ng ha ̣n, trong những năm gầ n đây có các công triǹ h sau:
Bùi Ngọc,“Thế giới quan khoa học một tất yếu lịch sử”, Tạp chí Thông
tin khoa học xã hội, 1981, số 8; Lê Xuân Vũ, "Thế giới quan Mác-Lênin trong
đời sống tinh thần nhân dân ta", Tạp chí Cộng sản số 6-1986; Bùi Ỉnh, "Vấn
đề xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng đối với cán bộ, đảng viên là
người dân tộc, thiểu số trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta",
Luận án PTS Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1988;
Nguyễn Trọng Chuẩn, “Một số khía cạnh về vai trò của sinh học hiện đại đối
với sự hình thành và củng cố thế giới quan khoa học”, Tạp chí Triết học
1988, số 3; Trần Thanh Hà, "Vấn đề giáo dục thế giới quan khoa học cho cán
8
bộ, đảng viên người dân tộc Khơmer ở đồng bằng sông Cửu Long trong giai
đoạn cách mạng hiện nay", Luận án Thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, 1993; Trần Phước, "Sự hình thành thế giới quan xã
viê ̣c rèn luyê ̣n đa ̣o đức của sinh viên ngành y.
- Góp phần làm rõ thêm thực tra ̣ng phát huy vai trò thế giới
quan duy
vâ ̣t biê ̣n chứng với việc rèn luyện đạo đức của sinh viên ngành y hiê ̣n nay
(qua thực tế Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định ). Từ đó đề xuấ t những
giải pháp cơ bản nhằm giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh
viên ngành y.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luâ ̣n văn
- Luâ ̣n văn góp phầ n đưa ra những cơ sở khoa ho ̣c nhằ m phát huy vai
trò thế giới quan duy vật biện chứng đối với việc rèn luyện đạo đức cho sinh
viên ngành y.
- Luâ ̣n văn có thể dùng làm tài liê ̣u tham khảo cho cá
c công tác giáo
dục, đào ta ̣o ở các trường đa ̣i ho ̣c, cao đẳ ng
7. Kế t cấ u của luâ ̣n văn
Ngoài phần mở đầu , kế t luâ ̣n , danh mu ̣c tài liê ̣u tham khảo , luâ ̣n văn
đươ ̣c kế t cấ u làm 3 chương, 8 tiế t:
Chƣơng 1: Vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng đối với việc
rèn luyện đạo đức của sinh viên ngành y tế hiện nay.
Chƣơng 2: Thực trạng phát huy vai trò của thế giới quan duy vật biện
chứng đối với việc rèn luyện đạo đức của sinh viên ngành y tế hiện nay (qua
thực tế tại Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định) và một số vấn đề đặt ra.
Chƣơng 3: Một số giải pháp về việc giáo dục thế giới quan duy vật
biện chứng để rèn luyện đạo đức cho sinh viên ngành y tế hiện nay.
11
nghề y.
Trong nề n y ho ̣c Ấn Đô ̣ cổ đa ̣i , kinh Aiur Vêđa (ở thế kỷ III TCN ) yêu
cầ u người thầ y thuố c phải đa ̣o ma ̣o , có giọng nói thanh thoát, tính tình cương
nghị, không vu ̣ lơ ̣i , thông minh, có lý trí và trí nhớ , khiêm tố n , giản dị trong
ăn mă ̣c , sạch sẽ , ôn hoà , đứng đắ n, thành kính , tháo vát , chăm chỉ ho ̣c tâ ̣p .
13
Cũng theo sách ấy, Xushuruta, nhà phẫu thuật đức độ cho rằng, thầ y thuố c chỉ
biế t kỹ năng mổ mà khinh rẻ kiế n thức y ho ̣c , không đáng đươ ̣c kính trọng vì
người ấy có thể đẩy con người vào những nguy hiể m , người thầ y thuố c phải
trở thành người cha đố i với người bê ̣nh, người bảo vê ̣ đố i với người đang bình
phục và là người bạn đối với người đang khoẻ mạnh.
Trong xã hô ̣i Trung Hoa cổ đa ̣i , nề n y ho ̣ c cũ ng đa ̣t đươ ̣c những đỉnh
cao. Trong cuố n “Bàn về thiên nhiên và cuộc sống” có nêu mô ̣t nguyên lý đă ̣c
sắ c là người thầ y thuố c cầ n làm ch o người bê ̣nh tin tưởng sẽ
khỏi bệnh .
Người thầ y thuố c phải chú ý tới người bê ̣nh về t ính tình, luôn khuyên bê ̣nh
nhân thay đổ i chế đô ̣ dinh dưỡng , áp dụng phương pháp thể dục trị liệu , xoa
bóp với mục đích tăng cường sức lực cho cơ thể; thể du ̣c hàng ngày, không để
xảy ra những phản ứng quá mức . Cũng trong sá ch ấ y , có lời giáo huấn nổi
tiế ng là “y ho ̣c không cứu ta khỏi chế t nhưng giúp ta số ng lâu”.
Ở Hy Lạp cổ đại , khi ra trường các thầy thuốc thuộc phái Axelefiat thề
rằ ng luôn đem hế t khả năng , hế t sức lực và trí tuê ̣ để xây dựng lố i số ng riêng
cho người bê ̣nh theo lơ ̣i ích riêng của ho ̣ ; sẽ giữ gìn cuộc số ng và ho ̣c thuâ ̣t
mô ̣t cách thành kin
́ h và trong sa ̣ch
họa đều ở trong tay mình xoay chuyển. Lẽ nào người có trí thức không đầy
đủ, hành động không chu đáo, tâm hồn không thoáng đạt, trí quả cảm không
thận trọng mà giám theo đòi bắt trước nghề y”; “Đạo làm thầy thuốc là nhân
thuật, có nhiệm vụ là giữ gìn tính mạng cho con người, chỉ lấy việc giúp mình
mà không cầu lợi kể công”; “Vui cái vui của người bệnh, lo cái lo của người
bệnh, làm hết những việc đáng là để giúp đỡ mọi người. Thế rồi lòng này
không hổ thẹn với trời đất”. Từ những quan niệm đó ông đã đưa ra các chuẩn
mực của người thầy thuốc cần phải có: nhân, minh, trí, đức, thành, lượng,
khiêm, cần. Nhân là sự nhân từ bác ái cộng hưởng mọi người và quan tâm đến
người khác, không cá nhân ích kỷ. Minh là phải hiểu biết rộng, sáng suốt
minh bạch, không nhầm lẫn. Trí là khôn khéo nhạy bén, để tâm lo nghĩ việc làm,
không cẩu thả tuỳ tiện. Đức là phải có đạo đức nhân hậu, cốt làm điều lành để
của đức về sau, chống điều ác. Thành là thành thật, ngay thẳng, trung thực vô
tư, không dối trá không thiên lệch. Lượng là phải độ lượng, hoà nhã, đúng
mức vừa phải. Khiêm là phải chuyên cần học hỏi và phải thực sự cầu thị,
không tự phụ chủ quan. Cần là phải chuyên cần nhẫn nại và cần cù chịu khó.
Ông khuyên rằng: “không nên thấy người giàu sang quyền quý thì hết lòng
phục vụ, thấy người khổ tàn tật thì thờ ơ”; “Chớ nên vì giàu sang hay nghèo
15
hèn mà nơi đến trước, chỗ tới sau hoặc bốc thuốc lại phân biệt hơn kém. Khi
lòng mình không thành thật thì khó lòng thu được hiệu quả”. Theo ông, người
thầy thuốc phải có “lòng nhân”, lòng nhân này là nhân ái vị tha, phải có lương
tâm nghề nghiệp; “Khi người thầy thuốc khoanh tay trước một bệnh hiểm
nghèo thì đó là thầy thuốc chỉ nghĩ đến danh tiếng cá nhân; Chính vì sợ chết
mà bệnh nhân tìm đến thầy thuốc, bây giờ đứng trước tình trạng vô vọng mà
người thầy thuốc lại khoanh tay, thì thầy thuốc để làm gì”; “Đạo làm thầy
thuốc là một nhân thuật chuyên bảo vệ sinh mạng con người, phải lo cái lo
đồng nghiệp cần nên khiêm tốn hòa nhã, giữ gìn thái độ kính cẩn không khinh
nhờn. Người hơn tuổi mình thì kính trọng, người học giỏi thì coi như bậc
thầy, người kiêu ngạo thì nên nhân nhượng, người kém mình thì dìu dắt họ.
Giữ được lòng đức hậu như thế sẽ đem lại nhiều hạnh phúc cho mình”.
Như vậy, có thể thấy rằng Hải Thượng Lãn Ông là một trong những
danh y nổi tiếng trong lịch sử y học dân tộc ta, ông đã nêu ra những chuẩn
mực sâu sắc về đạo nghề y. Mặc dù có những hạn chế về mặt lịch sử nhưng
những giá trị chung mà ông để lại là rất to lớn.
Kế thừa truyề n thố ng đa ̣o đức y ho ̣c của dân tô ̣c và những giá tri ̣đa ̣o
đức của nề n y ho ̣c thế giới , Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có quan điể m rấ t cu ̣ thể
về đa ̣o đức nghề y (y đức ). Nô ̣i dung y đức đươ ̣c Người đưa ra cho toàn
ngành thảo luận, quán triệt và tổ chức thực hiện là “Lương y kiêm từ mẫu” và
“Thâ ̣t thà đoàn kế t”.
Trong thư gửi Hô ̣i nghi ̣quân y tháng 3 năm 1948, Hồ Chí Minh đã chỉ
rõ: Người thầ y thuố c chẳ ng những có nhiê ̣m vu ̣ cứu chữa bê ̣nh tâ ̣ t mà còn
phải nâng đỡ tinh thần cho những người ốm yếu . Khi gă ̣p những ca anh em
thương binh thiế u trấ n tiñ h , người thầ y thuố c nên lấ y lòng nhân loa ̣i và tiǹ h
nhân ái mà cảm hoá ho ̣ . Người đã có câu “Lương y như từ mẫu” . Trong thư
gửi Hô ̣i nghi ̣cán bô ̣ y tế toàn quố c năm 1953, Người chỉ rõ: Phòng bệnh cũng
cầ n thiế t như viê ̣c tri ̣bê ̣nh, để làm tròn nhiệm vụ ấy người thầy thuốc cần phải
thương yêu người bê ̣nh như anh em ruô ̣t thiṭ . Cầ n phải tâ ̣n tâm , tâ ̣n lực phu ̣c
vụ nhân dân . Lương y phải kiêm từ mẫu . Trong thư gửi hô ̣i nghi ̣cán bô ̣ y tế
17
ngày 27-2-1955, Hồ Chí Minh viế t : Người bê ̣nh phó thác tiń h mê ̣nh của ho ̣
nơi các cô các chú , Chính phủ phó thác việc khám chữa bệnh v à phòng bệnh
cho các cô các chú . Đó là mô ̣t nhiê ̣m vu ̣ rấ t vẻ vang . Vì vậy, cán bộ cần phải
thương yêu , săn sóc người bê ̣nh như anh em ruô ̣t thiṭ của mình
yêu săn sóc người bê ̣nh ; hình thành đức tính cần , kiê ̣m, liêm, chính, chí công
vô tư của đa ̣o đức cách ma ̣ng trong công viê ̣c chuyên môn
. Giữ cho lương
tâm trong sa ̣ch là yêu cầ u khách quan của xã hô ̣i đố i với người thầ y thuố c . Để
đáp ứng yêu cầ u ấ y , người thầ y thuố c phải luôn lấ y viê ̣c phu ̣c vu ̣ người bê ̣nh
làm mục đích cho hành động của mình, lấ y lao đô ̣ng chính đáng bằ ng tài năng
18
và trí tuệ của mình làm lẽ sống ; biế t chăm lo, rèn luyện phẩm chất đạo đức
của người thầy thuốc ; bồ i dưỡng những tiǹ h cảm đe ̣p như sự đồ ng cảm , yêu
thương và biế t hố i hâ ̣n khi có khuyế t điể m , day dứt khi không làm tố t phầ n
viê ̣c của mình gây hâ ̣u quả cho người khác; chú tâm học tập nâng cao trình độ
lý luận và lâm sàng để có điều kiện thể hiện đầy đủ tình cảm đạo đức.
Nghĩa vụ của người thầy thuố c là ý thức và tình cả m trách nhiê ̣m với
người bê ̣nh và xã hội . Khi người thầ y thuố c phu ̣c tùng ý chí của người bê ̣nh
và của xã hội như là phục tùng sự công bằng , sự tấ t yế u , không thể làm khác
thì khi đó trách nhiệm đạo đức có nguồn gốc từ bên ngoài . Nghĩa vụ pháp lý
của người t hầy thuốc đã đươ ̣c thực hiê ̣n . Khi người thầ y thuố c tự giác phu ̣c
tùng ý chí xã hội , hoàn toàn tự do trong động cơ hành động thì trách nhiệm
đa ̣o đức có nguồ n gố c từ bên trong . Nghĩa vụ ấy được thự c hiê ̣n do tình cảm
đa ̣o đức, trong nghĩa vụ đạo đức, yế u tố chủ quan bên trong là yế u tố chủ đa ̣o.
Sự tấ t yế u khách quan của nghề nghiê ̣p đã biế n thành ý chí chủ quan của
người thầ y thuố c.
Lương tâm và nghiã vu ̣ là hai mă ̣t thố ng nhấ t biê ̣n chứng với nhau
trong đa ̣o đức của người thầ y thuố c . Trong quan hê ̣ này , lương tâm là nô ̣i
dung nghiã vu ̣ là hin
là đường lối , là phương trâm đối với ngành y mà còn thuộc về đạo đức của
người thầ y thuố c . Trong hai cuô ̣c kháng chiế n , bảo vệ độc lập , tự do cho Tổ
quố c và trong thời kỳ đổ i mớ i, hiê ̣u quả hoa ̣t đô ̣ng của ngành y biể u hiê ̣n ở sự
kế t hơ ̣p chă ̣t chẽ giữa y và dươ ̣c , giữa nô ̣i khoa và ngoa ̣i khoa, giữa đông y và
tây y, giữa phòng bê ̣nh và chữa bê ̣nh , giữa câ ̣n lâm sàng với lâm sàng , giữa
chẩ n đoán và điề u trị,... Mô ̣t chút mấ t đoàn kế t , mấ t sự gắ n kế t trong chữa
bê ̣nh cũng c ó thể đưa lại tác hại khôn
lường. Vì vậy , trong y đức Hồ Chí
Minh đưa vấ n đề đoàn kế t thành mô ̣t nô ̣i dung quan tro ̣ng, nó vừa mang giá trị
truyề n thố ng dân tô ̣c vừa có ý nghiã thời đa ̣i. Ngày nay, y ho ̣c đã phát triể n rấ t
rực rỡ , phân công điề u tri ̣tỷ mỷ , sâu sắ c thì sự đoàn kế t đồ ng lòng trong toàn
ngành lại càng phải được nâng cao.
Cơ sở về quan điể m của y đức của Hồ Chí Minh là tư tưởng nhân văn
cao cả và tấ m gương về cuô ̣c đời hoa ̣t đô ̣ng cách ma ̣ng của Người, biể u hiê ̣n
trước hế t ở tin
̀ h yêu thương con người , thương yêu nhân dân bao la và sâu
20
sắ c. Người đã khái quát triế t lý cuô ̣c số ng : Nghĩ cho cùng là làm người phải
thương nước , thương dân , thương nhân loa ̣i đau khổ bi ̣áp bức
. Ở Hồ Chí
Minh, lòng yêu nước thương dân , yêu nhân loa ̣i mang mô ̣t nô ̣i dung mới , sâu
sắ c toàn diê ̣n . Đó là sự đồ ng cảm với những người cù ng cảnh ngô ̣, từng trải
và chứng kiến biết bao đau thương , ngang trái , bấ t công. Con người trong tư
. Trong hoa ̣t
mô ̣t cơ thể bi ̣bê ̣nh mà còn
chăm sóc sức khoẻ về mă ̣t tinh thầ n cho mô ̣t con người . Để làm tố t viê ̣c chữa
bê ̣nh, người thầ y thuố c phải có tầ m nhiǹ rô ̣ng , bao quát thấ m nhuầ n kiế n thức
chuyên môn trong nhiề u liñ h vực , có học v ấn cao và uyên bác . Người thầ y
thuố c cầ n phải yêu nghề của miǹ h , có sự đồng cảm , thái độ lạc quan , tính
cương quyế t , thâ ̣n tro ̣ng khi giải quyế t vấ n đề của bê ̣nh nhân
. Uy tiń của
người thầ y thuố c tuỳ thuô ̣c vào kinh nghiê ̣m nghề nghiê ̣p, kiế n thức, sự uyên
bác và quan hệ tốt với người bệnh . Những tố chấ t này để có đươ ̣c ở những
người thầ y thuố c thì ho ̣ luôn phải tu dưỡng , rèn luyện cả cuộc đời của mình .
Chính vì vậy những sinh viên ngành y
sau khi ho ̣c ra trường sẽ trở thành
những bác si ̃ , thầ y thuố c phu ̣c vu ̣ nhân dân ho ̣ cầ n đươ ̣c rèn luyê ̣n đa ̣o đức
nghề nghiê ̣p ngay từ khi còn ngồ i trên ghế nhà trường , họ cầ n phải lấy những
chuẩ n mực đa ̣o đức đó để làm mu ̣c tiêu cho sự phấ n đấ u , rèn luyện, tu dưỡng
của mình.
1.2. Thế giới quan duy vật biện chứng và vai trò của nó đối với viêc̣
rèn luyện đạo đức của sinh viên ngành y tế hiện nay
1.2.1. Thế giới quan duy vật biện chứng
Con người là mô ̣t bô ̣ phâ ̣ n đươ ̣c cấ u thành hữu cơ của tự nhiên , đồ ng
thời con người la ̣i có tin
́ h đô ̣c lâ ̣p tương đố i với tự nhiên bởi vì con người là
chủ thể hoạt động có ý thức. Với khả năng nhâ ̣n thức và hoa ̣t đô ̣ng sáng ta ̣o của
đến đời sống của con người. Con người thần thánh hoá các hiện tượng tự
nhiên, tôn sùng chúng thành các hiện tượng siêu tự nhiên. Đồng thời con
người còn thần thánh hoá những thuộc tính tốt đẹp và những thuộc tính xấu
xa của con người (ông Thiện, ông Ác) cũng như thần thánh hoá những con
người có công lao to lớn đối với đất nước, đối với dân tộc và dân làng. Tuy
nhiên tôn giáo cũng là sự thể hiện ước mong của con người vì sự giải thoát
khỏi những nỗi khổ, về sự vươn tới hạnh phúc, về sự hướng thiện. Niềm tin
tôn giáo bao gồm cả niềm tin vào khả năng đạt tới một cuộc sống tươi đẹp
một cuộc sống hoàn thiện, nhất là đạo đức là nền tảng của thế giới tôn giáo.
23
Mặt tích cực của tôn giáo đã và sẽ còn ảnh hưởng tới đời sống tinh thần của
con người, của xã hội với nhiều mức độ khác nhau. Như vậy thế giới quan tôn
giáo là thế giới quan phản ánh hiện thực một cách ảo tưởng vào đầu óc con
người, chưa mang tính khoa học.
Thế giới quan triết học là hình thức phát triển cao của thế giới quan.
Thực tiễn của con người ngày càng đa dạng, phong phú và phức tạp đã kéo
theo sự phát triển tư duy của họ. Sản xuất xã hội tăng lên dẫn đến phân công
lao động chân tay và lao động trí óc. Với sự xuất hiện của tầng lớp lao động
trí óc, tính tích cực của tư duy đạt đến sự chuyển biến về mặt chất, ý thức về
bản thân cũng xuất hiện ở con người. Tư duy của con người hướng sự suy
ngẫm, đánh giá vào chính hoạt động của mình. Một phương thức mới của tư
duy cũng bắt đầu hình thành nhằm nhận thức thế giới - tư duy triết học. Từ đó
thế giới quan triết học ra đời.
Khác với thần thoại, tôn giáo, triết học thể hiện thế giới quan của con
người dựa vào hệ thống các khái niệm, phạm trù, hệ thống khái niệm, phạm
trù đánh dấu những nấc thang trong quá trình nhận thức thế giới của con
người. Tư duy lý luận là yếu tố chủ đạo trong triết học, triết học không chỉ
̣ sử , đă ̣c biê ̣t
là kế th ừa có phát triển sáng tạo hạt nhân hợp lý của triết học cổ điển Đức
,
C.Mác và Ph.Ăngghen đã sáng lâ ̣p ra mô ̣t hê ̣ thố ng triế t ho ̣c mới khác về chấ t
so với các triết học trước đó . Các tư tưởng triế t ho ̣c trước Mác chỉ nhằm mu ̣c
đić h giải thích thế giới , còn triết học Mác là công cụ hữu hiệu để cải tạo thế
giới hiê ̣n thực . “Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách
khác nhau, song vấ n đề là cải tạo thế giới” [36, tr.12].
Nhờ sự thố ng nhấ t giữa chủ nghiã duy vâ ̣t
và phép biê ̣n chứng khoa
học, chủ nghĩa duy vật triết học của Mác là chủ nghĩa duy vật triệt để , duy vâ ̣t
không chỉ trong tự nhiên mà cả trong xã hô ̣i . Nô ̣i dung của thế giới quan duy
vâ ̣t biê ̣n chứng bao gồ m viê ̣c giải quyế t vấ n đề về mố i quan hê ̣ giữa con người
với tự nhiên và xã hô ̣i . Thế giới quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng là thế giới quan của
giai cấ p công nhân, giai cấ p tiế n bô ̣ và cách ma ̣ng trong thời đa ̣i chúng ta. Thế
giới quan vừa có tin
́ h cách ma ̣ng , vừa có tiń h khoa ho ̣c . Bởi lẽ , sự ra đời của
thế giới quan duy vâ ̣t biê ̣n chứng đươ ̣c xây dựng trên những tiề n đề kinh tế -xã
hô ̣i và tư tưởng văn hoá tiên tiế n của nhân loại, mà trực tiếp nhất là sự phản
25