1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***** NGUYỄN THỊ VÂN ANH THÔNG TIN CHỈ DẪN TIÊU DÙNG TRÊN
TRUYỀN HÌNH CỦA ĐÀI PHÁT THANH-
TRUYỀN HÌNH HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH BÁO CHÍ HỌC
MÃ SỐ: 60.32.01.01
2.1. Khái quát về các chƣơng trình có tính thông tin chỉ dẫn tƣ vấn tiêu dùng trên truyền
hình Hà Nội 31
2.2. Các chƣơng trình có nội dung thông tin chỉ dẫn tiêu dùng trên truyền hình Hà Nội35
2.3. Hình thức thể hiện của các chƣơng trình có nội dung thông tin chỉ dẫn tiêu dùng
trên truyền hình Hà Nội 44
2.4. Cách thức tổ chức và xây dựng chƣơng trình có nội dung thông tin chỉ dẫn tiêu
dùng trên truyền hình Hà Nội 46
2.5. Hiệu quả các chƣơng trình có nội dung thông tin chỉ dẫn, tƣ vấn tiêu dùng trên
truyền hình Hà Nội 49
2.6. Những bất cập của các chƣơng trình có nội dung thông tin chỉ dẫn, tƣ vấn tiêu dùng
trên truyền hình Hà Nội 62
Tiểu kết chương 2 80
CHƢƠNG 3/ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG, HIỆU QUẢ CÁC
CHƢƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CÓ NỘI DUNG THÔNG TIN CHỈ DẪN
TIÊU DÙNG TRÊN TRUYỀN HÌNH 82 3
3.1. Xây dựng chiến lƣợc, mục tiêu và cơ chế chính sách hợp lý cho các chƣơng trình
truyền hình, trong đó có các chƣơng trình thông tin chỉ dẫn tiêu dùng 82
3.2. Xây dựng đội ngũ nhà báo, đổi mới qui trình sản xuất các chƣơng trình truyền hình88
3.3. Đề xuất giải pháp cụ thể đối với Đài PTTH Hà Nội. 96
Tiểu kết chương 3 97
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHẦN PHỤ LỤC 6
MỞ ĐẦU
sự chuyên biệt về nội dung, đảm bảo sự linh hoạt của lựa chọn. 7
Trong sự phát triển của Truyền hình, chúng ta có thể nhận thấy rất rõ
điều này. Chính sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt để tăng thời lƣợng phát
sóng và thu hút, hấp dẫn sự chú ý của khán giả mà nghiệp vụ truyền hình
cũng buộc phải không ngừng thay đổi cho phù hợp với nhu cầu không
ngừng thay đổi của những đối tƣợng công chúng. Chúng ta có thể dễ dàng
nhận thấy, truyền thông chuyên biệt mà trong đó truyền hình đang chiếm
ƣu thế có ý nghĩa quan trọng trong việc tiết kiệm thời gian và đáp ứng nhu
cầu của từng đối tƣợng của khán giả và đang là xu thế phát triển của truyền
thông hiện đại.
Vào đầu những năm 90 của thế kỷ trƣớc, khi quan hệ thị trƣờng đã
đƣợc khẳng định rõ ràng và trở thành yêu cầu bức thiết trong quản lý, phát
triển của các doanh nghiệp cũng nhƣ toàn bộ nền kinh tế, thì hầu nhƣ các cơ
quan báo chí còn quá lạ lẫm với vấn đề tự chủ tài chính. Về khía cạnh kinh
tế, có thể nói những chuyển động trong khu vực báo chí nói chung và truyền
hình nói riêng diễn ra chậm hơn nhiều so với các khu vực kinh doanh, sản
xuất của xã hội. Tuy nhiên, những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh
mẽ của nền kinh tế thị trƣờng, có thể thấy trong xã hội đang hình thành một
nền kinh tế báo chí nói chung và kinh tế truyền hình nói riêng. Hai chỗ dựa
quyết định cho nền kinh tế báo chí là sản phẩm hàng hóa báo chí truyền
thông và dịch vụ quảng cáo. Xã hội càng phát triển thì yêu cầu thông tin báo
chí càng tăng lên, do đó nhu cầu về sản phẩm hàng hóa báo chí cũng tăng
lên. Nền kinh tế tăng trƣởng nhanh dẫn đến nhu cầu ngày càng lớn về quảng
cáo nhằm đƣa hàng hóa, dịch vụ đến ngƣời tiêu dùng.
Cũng chính vì vậy, những năm gần đây, dòng thông tin chỉ dẫn tiêu
dùng chiếm số lƣợng khá lớn trong “biển thông tin” mà các phƣơng tiện
truyền thông đƣa đến công chúng, đặc biệt đối với truyền hình, các chƣơng
Trƣớc thực tế của việc phát triển mạnh mẽ các chƣơng trình có nội
dung thông tin chỉ dẫn, tƣ vấn tiêu dùng trên truyền hình và nhu cầu của
công chúng với dòng thông tin này, cho thấy việc nghiên cứu, tìm hiểu
dòng thông tin chỉ dẫn tiêu dùng trên truyền hình là rất cần thiết và có ý
nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi sẽ
tìm hiểu, nghiên cứu, khảo sát, đánh giá từ góc độ quản lý báo chí về các 9
chƣơng trình truyền hình có nội dung thông tin chỉ dẫn, tƣ vấn tiêu dùng
trên 2 kênh truyền hình Hà Nội trong năm 2011, 2012, bƣớc đầu đƣa ra
đánh giá về những hiệu quả cũng nhƣ những gì còn bất cập đồng thời nêu
và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của các chƣơng trình
truyền hình có nội dung thông tin chỉ dẫn, tƣ vấn tiêu dùng trên truyền hình
Hà Nội nói riêng và trên các đài truyền hình nói chung.
2/ Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Truyền thông chuyên biệt với những nội dung thông tin chuyên biệt
hƣớng tới những đối tƣợng công chúng riêng là xu hƣớng phát triển của
truyền thông hiện đại. Tuy nhiên xu hƣớng truyền thông này cũng chỉ mới
phát triển trong những năm gần đây. Chính vì vậy những công trình nghiên
cứu về chuyên thông chuyên biệt nói chung và nghiên cứu về các chƣơng
trình có nội dung thông tin chỉ dẫn tƣ vấn tiêu dùng nói riêng còn ít
Ở Việt Nam, mới chỉ có một số cuốn giáo trình đề cập đến các khái
niệm về thông tin nói chung nhƣ Cơ sở lý luận của báo chí của
E.P.Prokhôrôp, NXB Thông tấn, Hà Nội, năm 2001; Cơ sở lý luận báo chí
truyền thông của các tác giả Dƣơng Xuân Sơn, Đinh Văn Hƣờng, Trần
Quang, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2004 hoặc nghiên cứu chung
về truyền thông chuyên biệt hay thông tin chỉ dẫn nói chung mà chƣa có
nghiên cứu chính thức nào về nội dung thông tin chỉ dẫn, tƣ vấn tiêu dùng.
Đáng chú ý có luận văn thạc sỹ khoa học xã hội và nhân văn về Xây dựng
Trong điều kiện hiện nay, báo chí chƣa có bộ chuẩn mực về thông tin
chỉ dẫn, tư vấn tiêu dùng từ góc độ thực tiễn cũng nhƣ các công trình
nghiên cứu. Vì vậy, trên cơ sở kế thừa những nền tảng lý luận chung về báo
chí truyền thông đã có và từ thực tiễn trong hoạt động báo chí của bản thân,
chúng tôi xin chọn đề tài này với mong muốn có sự nghiên cứu, tìm hiểu
một cách nghiêm túc về lý luận và sẽ tiến hành tiến khảo sát trong thực tiễn
về những chƣơng trình truyền hình có tính thông tin chỉ dẫn tƣ vấn tiêu
dùng để nâng cao hiệu quả nội dung thông tin chỉ dẫn, tƣ vấn tiêu dùng trên
truyền hình nói chung và truyền hình Hà Nội nói riêng. 11
3/ Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích nghiên cứu: Luận văn bƣớc đầu khảo sát và đánh giá
những mặt ƣu điểm của các chƣơng trình có nội dung thông tin chí dẫn, tƣ
vấn tiêu dùng trên truyền hình, cũng nhƣ những bất cập, tồn tại, đồng thời
đề xuất những giải pháp nhằm đổi mới và nâng cao chất lƣợng của các
chƣơng trình truyền hình có nội dung thông tin chỉ dẫn, tƣ vấn tiêu dùng
trên truyền hình Hà Nội.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trên phƣơng diện và góc độ về quản lý báo chí noi chung, truyền hình nói
riêng, luận văn sẽ:
+ Làm rõ khái niệm về thông tin chỉ dẫn, tƣ vấn tiêu dùng trên truyền hình
+ Nội dung thông tin chỉ dẫn, tƣ vấn tiêu dùng trên truyền hình Hà Nội
+ Các hình thức thể hiện của thông tin chỉ dẫn, tƣ vấn tiêu dùng trên
truyền hình Hà Nội.
+ Hiệu quả và những mặt còn tồn tại của các chƣơng trình truyền
hình thuộc dòng thông tin giải trí tiêu dùng trên truyền hình Hà Nội
+ Giải pháp để nâng cao chất lƣợng và hiệu quả của những chƣơng
trình có tính thông tin chỉ dẫn tiêu dùng trên truyền hình.
mặt lý luận đi kèm với những khảo sát tình hình thực tiễn đƣợc cập nhật
gần nhất, mới nhất từ các chƣơng trình có nội dung thông tin chỉ dẫn, tƣ
vấn tiêu dùng trên kênh 1và kênh 2 truyền hình Hà Nội.
Do vậy luận văn có ý nghĩa nhất định về mặt lý luận và thực tiễn dối
với đối với các nhà quản lý, lãnh đạo các cơ quan báo chí, đối với đội ngũ
những ngƣời làm công tác đạo diễn, biên tập, tổ chức sản xuất các chƣơng
trình truyền hình cũng nhƣ có thể dùng làm tài liệu tham khảo bổ ích đối
với học viên chuyên ngành báo chí nói chung cũng nhƣ có ý nghĩa thiết thực
đối với việc xây dựng tài liệu, giáo trình báo chí truyền thông về xây dựng
các kênh truyền thông chuyên biệt và các chƣơng trình truyền hình có nội
dung thông tin chuyên biệt. Các nhà quản lý, các cơ quan báo chí, các BTV,
các nhà sản xuất cũng có thể tham khảo các kết quả khảo sát và những tổng
kết thực tiễn của luận văn đề từ đó có những điều chỉnh trong công tác quản
lý cũng nhƣ xây dựng kế hoạch, chiến lƣợc tổ chức sản xuất các chƣơng
trình truyền hình theo hƣớng khoa học, hiện đại, hiệu quả và thiết thực. 13
7/ Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn bao gồm 3 chương như sau:
Chương 1/ Một số vấn đề lý luận chung về thông tin, thông tin chỉ
dẫn tiêu dùng trên truyền hình.
Chương 2/ Thông tin chỉ dẫn tiêu dùng trên truyền hình Hà Nội; hiệu
quả và bất cập.
Chương 3/ Giải pháp nâng cao chất lƣợng và hiệu quả của các chƣơng
trình có thông tin chỉ dẫn tiêu dùng trên truyền hình Hà Nội.
Phần phụ lục: Bao gồm các tƣ liệu, văn bản, nhằm minh họa cho
những vấn đề nêu trong luận văn.
yếu, trực tiếp của điều khiển học, của lý thuyết thông tin và tin học. Từ đó
có rất nhiều định nghĩa về thông tin. Nhìn chung, những định nghĩa đó đều
cố gắng tiếp cận với bản chất của thông tin nhƣng chỉ từ những góc độ,
phƣơng diện nhất định nào đó của nó. 15
Có thể xem xét thông tin từ góc độ phân biệt các loại thông tin nhƣ
thông tin kinh tế, thông tin khoa học - kỹ thuật, thông tin văn hoá - xã
hội… Chẳng hạn, "thông tin kinh tế là các tín hiệu mới được thu nhận,
được thụ cảm (hiểu) và được đánh giá là có ích cho việc ra quyết định
quản lý"[16]. Cũng có thể xem xét thông tin từ góc độ đánh giá vai trò của
thông tin, nhƣ nhà khoa học Đức E.Pietch đã chỉ ra "Thông tin là một sản
phẩm mà với ý nghĩa, công dụng của nó có thể xem ngang hàng với trữ
lượng nguyên liệu của nước đó”[16]…Ngoài những cách tiếp cận theo
từng góc độ trên, một số cách tiếp cận đã có tầm khái quát hơn, chẳng hạn
"thông tin là dữ liệu mà có thể nhận thấy, hiểu được và sắp xếp lại với
nhau để hình thành kiến thức", hay "thông tin là sự truyền đưa độ đa dạng"
(R.Esbi) [16] hoặc "Thông tin là nội dung thế giới bên ngoài được thể hiện
trong sự nhận thức của con người" (N.Viener)[16]
Nhƣng để tiếp cận với bản chất chung nhất của thông tin - hiện tƣợng
vốn có của thế giới vật chất, đó là sự khái quát của triết học! Nhờ lý thuyết
phản ánh của Lênin cùng với sự phát triển của khoa học hiện đại, đặc biệt
là lý thuyết thông tin, điều khiển học và tin học, chúng ta đã tiếp cận đƣợc
với bản chất của thông tin, đó là: "Cái đa dạng đƣợc phản ánh". Nhƣ vậy,
thông tin gắn liền với phản ánh, thông tin không phải là phản ánh nhƣng
cũng không nằm ngoài phản ánh. "Tiếp cận với khái niệm thông tin, vì vậy,
không thể không bắt đầu từ phạm trù "phản ánh " của triết học. Có nghĩa
là con người sẽ không nhận thức được bản chất của thông tin nếu thông tin
là một mặt của phản ánh và phản ảnh của vật chất chính là phản ánh thông
Trong hoạt động báo chí, thông tin là yếu tố thứ nhất, tạo nên sức
mạnh, uy tín của nhà báo, cơ quan báo chí. Báo chí không sử dụng các
phƣơng tiện nào khác để thực hiện vai trò xã hội của mình, ngoài thông tin.
Khi trở thành cầu nối trung gian giữa báo chí và độc giả, thông tin cũng là
một công cụ mà nhờ sự trợ giúp của nó sẽ giải quyết đƣợc những nhiệm vụ
đa dạng đang đặt ra trƣớc toàn bộ hệ thống báo chí nhƣ một thiết chế xã hội
đặc thù. Là một thuật ngữ nền tảng của báo chí, “thông tin” liên quan trực
tiếp đến tính hiệu quả của các phƣơng tiện thông tin đại chúng, đến những
đòi hỏi về phƣơng pháp, hình thức sáng tạo của nhà báo, đến nguyên tắc về
sự tác động qua lại giữa báo chí và công chúng. Tất cả các vấn đề lý luận
trong lĩnh vực báo chí đều liên quan đến thuật ngữ này. 17
Thông tin là chức năng sơ khởi của báo chí, theo nghĩa sử dụng
phƣơng tiện kỹ thuật để phổ biến kết quả lao động sáng tạo của nhà báo.
Thực hiện chức năng thông tin, báo chí cung cấp cho công chúng về tất cả
các vấn đề, sự kiện của đời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu khám phá, tìm
hiểu thế giới tự nhiên, xã hội. Trong một thế giới hiện thực chứa đầy lƣợng
thông tin, báo chí có cách riêng của mình để phản ánh hiện thực với mục
đích tác động tới nhiều tầng lớp xã hội với những mối quan tâm, sở thích
và nhu cầu khác nhau. Chính điều đó đã khiến cho báo chí trở thành một
hoạt động thông tin đại chúng rộng rãi và năng động nhất mà không một
hình thái ý thức xã hội nào có đƣợc.
Nhƣ vậy, khái quát lại thông tin báo chí cũng đƣợc hiểu theo hai nghĩa:
Thứ nhất, đó là tri thức, tƣ tƣởng do nhà báo tái tạo và sáng tạo từ hiện
thực cuộc sống. Tất cả những vấn đề, sự kiện, hiện tƣợng trong tự nhiên và
xã hội đƣợc báo chí phản ánh nhằm phục vụ nhu cầu tìm hiểu, khám phá
của con ngƣời.
Thứ hai, đó là phƣơng tiện, công cụ chuyển tải tác phẩm báo chí tới
Hiện nay, thuật ngữ thông tin cũng có nhiều cách hiểu khác nhau.
Trong báo chí, thông tin dùng để nói về chất liệu ngôn ngữ sống, sự miêu
tả, câu chuyện kể, bằng chứng…Thông tin là cách gọi truyền thống trong
nghề báo, theo nghĩa chính xác của từ này thì đó là thông tin sự kiện. Ngoài
ra trên báo in, trong chƣơng trình phát thanh hay truyền hình còn có thông
tin lý luận, thông tin giải thích, thông tin nghệ thuật, thông tin tư vấn….
Những năm gần đây, trong xu thế phát triển báo chí hiện đại, báo chí đang
tích hợp nhiều loại hình thông tin, trong đó thông tin dịch vụ đang đƣợc gia
tăng nhằm đáp ứng yêu cầu của thế hệ công chúng mới. Trong xu thế
chung đó, thông tin dịch vụ là nguồn thông tin rất phát triển trên truyền
hình. Thông tin dịch vụ có thể hiểu là thông tin về các loại hình dịch vụ đáp
ứng nhu cầu khác nhau của con ngƣời rất đa dạng, phong phú nhƣ thông tin
tiêu dùng, thƣơng mại, thông tin quảng cáo, thông tin sức khoẻ, thông tin
chỉ dẫn, thông tin tƣ vấn pháp luật, việc làm… 19
Báo chí là nguồn thông tin trung thực, cập nhật, chuẩn hoá, phổ quát
nhất. Các doanh nghiệp đã coi: Thông tin là một loại tài nguyên vô hình
mang lại lợi ích kinh tế, lợi thế kinh doanh vô cùng to lớn. Chính vì vậy, để
đáp ứng yêu cầu của công chúng, báo in ngày càng hƣớng tới việc cung
cấp nhiều dịch vụ thông tin, sao cho nguồn tin vừa đảm bảo nhanh, chính
xác, có độ tin cậy cao, song cũng đảm bảo tính phong phú, đa dạng. Một
trong những giải pháp quan trọng hàng đầu đƣợc các phƣơng tiện truyền
thông lựa chọn, đó là nâng cao chất lƣợng nguồn thông tin và tích hợp
nhiều loại hình dịch vụ thông tin
Cuộc sống hiện đại ngày càng nhiều nhu cầu mới, đa dạng, trong đó
thông tin là nhu cầu nổi bật, ngày càng gia tăng, đặc biệt là nhu cầu về
thông tin tƣ vấn, chỉ dẫn trên mọi lĩnh vực của đời sống. Hiện nay, hệ thống
phát thanh, truyền hình, internet hiện nay mới chỉ đáp ứng nhu cầu ở dạng
1.3.1. Đáp ứng nhu cầu của công chúng
Nhiều năm trƣớc đây, truyền thông hƣớng đến đối tƣợng là số
đông công chúng nói chung. Một bài báo hay một chƣơng trình truyền hình
là dành cho tất cả mọi ngƣời, mọi giới, mọi lứa tuổi cùng xem, cùng đọc…
Nhƣng ngày nay, truyền thông hiện đại mang xu hƣớng “phi đại chúng
hóa”. Có nghĩa là mỗi tác phẩm báo chí hay sản phẩm truyền thông không
đƣợc thiết kế ra để phục vụ tất cả các công chúng, nó hƣớng tới từng đối
tƣợng nhỏ. Mỗi loại hình truyền thông cũng hƣớng tới những đối tƣợng
công chúng khác nhau và ngày càng hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao và chuyên biệt của nhóm công chúng mà mình hƣớng tới.
Do tính ƣu việt về kỹ thuật, truyền thông đại chúng, tiện lợi trong thu
phát sóng, chƣơng trình phong phú, truyền hình là phƣơng tiện truyền
thông ngày càng chiếm ƣu thế và đã chiếm lĩnh phần lớn thời gian giải trí
của con ngƣời. Theo thống kê, trong một ngày, con ngƣời đã sử dụng quĩ
thời gian tƣơng ứng nhƣ sau: làm việc 7 giờ, ngủ 9 giờ, ăn uống, chăm sóc
gia đình 1,5 giờ, thời gian rỗi 4,5 giờ [3]. Thời gian rỗi, chúng ta thƣờng sử
dụng vào việc đọc sách, gặp gỡ bạn bè, ngƣời thân, đi du lịch. Mua sắm,
giải trí (xem phim, ca nhạc, xem TV…). Nhƣ vậy, có thể thấy, loại hình
giải trí xem truyền hình đã trở thành nhu câu hữu ích, và không thể thiếu
của con ngƣời trong thời gian rỗi. Nhu cầu xem truyền hình của mỗi cá
nhân cũng khác nhau nhƣ: tìm hiểu thông tin, học tập, mua sắm… và nhu
cầu về các chƣơng trình giải trí trở thành một phần quan trọng trong các
chƣơng trình truyền hình. 21
Các phƣơng tiện truyền thông nói chung và truyền hình nói riêng có
tác động rất lớn đến con ngƣời thông qua tín hiệu truyền tin và hình ảnh.
Đặc biệt trong lĩnh vực truyền thông tin tức và kinh doanh dịch vụ, tƣ vấn
chỉ dẫn thì truyền hình đƣợc xem nhƣ một loại hình nhanh nhất, dễ tiếp cận
hƣớng tới những đối tƣợng riêng biệt, công chúng nhóm nhỏ. Đây cũng
chính là xu hƣớng phân hóa và chuyên môn hóa của báo chí. Đó là một
phương thức trong đó một ấn phẩm báo chí chỉ tập trung vào một lĩnh vực
cụ thể của đời sống, nhằm vào một lượng đối tượng công chúng xác định.
cụ thể. Trong điều kiện toàn cầu hóa thông tin, các phƣơng tiện thông tin
đại chúng ngày càng thực hiện mạnh hơn quá trình phân hóa và chuyên
môn hóa, tạo cơ hội cho những tổ chức ấy tìm đƣợc vị trí xã hội của mình,
hƣớng đến một tầng lớp dân cƣ hoàn toàn xác định, tác động có hiệu quả
đến ngƣời đọc, ngƣời nghe và ngƣời xem.
Quá trình phân hóa và chuyên môn hóa cho phép nâng cao hiệu quả của
các bài vở của báo chí, đài phát thanh và truyền hình, sử dụng phƣơng tiện sẵn
có với hiệu quả cao nhất. Quá trình phân hóa giúp thiết lập ra đƣợc các ấn
phẩm chuyên sâu vào một lĩnh vực, giúp cho công chúng có thể lựa chọn dễ
dàng ấn phẩm phù hợp. Nhƣ vây, việc khu biệt đối tƣợng và lựa chọn cho
mình một lĩnh vực để kinh doanh truyền thông là một xu hƣớng tất yếu.
Thứ 2, nguồn thông tin chỉ dẫn tƣ vấn tiêu dùng xuất hiện trên truyền
hình cũng nằm trong xu thế phát triển kinh tế truyền hình. Nguồn thông tin
này vừa đáp ứng nhu cầu của công chúng nhƣng cũng chính là nhu cầu của
các doanh nghiệp, các nhà sản xuất, nhƣ vậy đài truyền hình hoàn toàn có
thể coi đây là nguồn thu trong việc xã hội hóa các chƣơng trình truyền
hình, bù đắp một phần chi phí sản xuất chƣơng trình truyền hình. Theo đó,
việc hợp tác sản xuất và bắt tay phối hợp giữa các đài truyền hình và các
doanh nghiệp ra đời, tạo nên một xu hƣớng mới vừa giải quyết tiềm lực
kinh tế cho truyền hình vừa là động lực để đổi mới và nâng cao chất lƣợng
các chƣơng trình truyền hình.
Nhìn một cách tổng thể, có thể thấy trong xã hội đang hình thành một
nền kinh tế báo chí nói chung và kinh tế truyền hình nói riêng. Hai chỗ dựa
quyết định cho nền kinh tế báo chí là sản phẩm hàng hóa báo chí truyền
thông và dịch vụ quảng cáo. Xã hội càng phát triển thì yêu cầu thông tin
phẩm báo chí, chƣơng trình truyền hình kém chất lƣợng. 24
Vấn đề là làm sao chúng ta phát huy hiệu quả của mặt thứ nhất và hạn
chế tối đa những tác động không tích cực của mặt thứ 2 để xây dựng nên
kinh tế báo chí nói chung và kinh tế truyền hình nói riêng phát triển vững
mạnh mà vẫn không bị ảnh hƣởng bởi yếu tố thƣơng mại hóa.
1.3.3. Chiếm thời lượng lớn, xuất hiện ở vị trí giờ đẹp trong chương
trình truyền hình:
Xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của công chúng, lƣợng
thông tin chỉ dẫn tiêu dùng cũng nhƣ các chƣơng trình truyền hình có nội
dung thông tin chỉ dẫn vấn tiêu dùng trên truyền hình ngày càng phát triển và
chiếm thời lƣợng lớn trong các chƣơng trình truyền hình cũng nhƣ chiếm
phần lớn trong tổng thời lƣợng các chƣơng trình phát sóng. Bên cạnh đó, đối
với những nội dung thông tin này, thƣờng đƣợc chọn phƣơng thức thể hiện
sao cho phù hợp, hấp dẫn nhất, ở vị trí bắt mắt, dễ đón xem nhất mà theo
ngôn ngữ truyền hình thƣờng gọi là "giờ đẹp", vị trí tốt trong một chƣơng
trình truyền hình nhƣ các giờ buối tối, gần sát trƣớc và sau phim truyện
Những năm gần đây, trong xu thế phát triển nền kinh tế báo chí nói
chung và kinh tế truyền hình nói riêng, báo chí còn luôn sát cánh và đáp
ứng nhu cầu của các doanh nghiệp, đặc biệt đối với mảng thông tin chỉ dẫn
tƣ vấn tiêu dùng, luôn đƣợc các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm và là nhu
cầu thiết thân trong nên kinh tế thị trƣờng. Nắm bắt nhu cầu này, báo chí
trong đó có truyền hình luôn quan tâm, dành thời lƣợng lớn, vị trí , giờ phát
sóng đẹp để chuyển tải nguồn thông tin này, vừa là đáp ứng nhu cầu của
doanh nghiệp, vừa mang lại nguồn thu cho cơ quan báo chí, tái đầu tƣ,
nâng cao chất lƣợng các chƣơng trình phát sóng
1.4. Đặc trƣng của thông tin chỉ dẫn tiêu dùng
Trong hoạt động báo chí, nhận thức về chất lƣợng thông tin song song
cách thể hiện ) phải đƣợc công chúng nhận thức đầy đủ. Nếu không thực
hiện đƣợc nguyên tắc tính đại chúng của ngôn ngữ sẽ dẫn đến tình trạng là
công chúng không hiểu đƣợc tác phẩm.
Tính hợp thời (đúng lúc): Những tác phẩm báo chí xuất hiện đúng lúc,
đáp ứng đƣợc nhu cầu của công chúng và sự quan tâm của họ trong thời
điểm đó thì tác phẩm sẽ có giá trị hơn, tạo sự hứng thú, hấp dẫn công 26
chúng. Lƣợng thông tin còn phụ thuộc vào tính thời điểm của nó. Trong
thời đại ngày nay, lƣợng thông tin phụ thuộc một cách quyết định vào tính
kịp thời, đúng lúc, nhanh nhạy. Báo chí làm đƣợc những điều trên sẽ làm
tăng giá trị của thông tin, nếu thông tin chậm, hiệu quả sẽ ngƣợc lại và
lƣợng của nó sẽ bằng không.
Tiêu chí đánh giá tác phẩm báo chí chất lượng cao, được các cơ quan
quản lý nhà nước nghiên cứu quy định cụ thể, đó là: “Những tác phẩm
mang lại hiệu quả thiết thực cho toàn xã hội hoặc một vùng miền, địa
phương; có nhiều tìm tòi, phát hiện những vấn đề mới nảy sinh trong cuộc
sống hàng ngày; có nội dung phù hợp, hấp dẫn người đọc, người nghe,
người xem; phù hợp với quan điểm chỉ đạo, tuyên truyền, đường lối, chủ
trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước”[22].
Cơ sở lý luận báo chí truyền thông cũng chỉ ra rằng, tác phẩm báo chí
là một chỉnh thể, bao gồm hai yếu tố nội dung và hình thức. Hai yếu tố này
có mối quan hệ biện chứng, gắn bó hữu cơ, chi phối lẫn nhau tạo nên chất
lƣợng tác phẩm báo chí. Tác phẩm báo chí còn đƣợc hiểu rộng hơn, đó là
cả trang báo, số báo, tờ báo, chuyên mục, chƣơng trình phát thanh, truyền
hình Do đó tiêu chí đánh giá chất lƣợng thông tin báo chí phải coi trọng
cả hai yếu tố nội dung và hình thức thông tin.
Hoạt động báo chí là hoạt động có ý thức và mục đích của con ngƣời,
bởi vậy yêu cầu về tính hiệu quả báo chí phải đƣợc đặt lên hàng đầu. Hiệu
nhu cầu của công chúng về thông tin, có tính đến khả năng của nhà báo và
công chúng [4, tr227].
Chính vì vậy, nhà báo trong quá trình tác nghiệp, phải biết lựa chọn,
cân nhắc thông tin gì là cần thiết, là thiết thực, hữu ích để thông tin tƣ vấn,
chỉ dẫn, và thông tin chỉ dẫn vào thời điểm nào là phù hợp, kịp thời và hiệu
quả nhất đối với công chúng
Ví dụ: ngay khi báo chí đƣa tin về tình hình động đất tại Nhật Bản
năm 2011, lập tức các báo chí đƣa các thông tin tƣ vấn, chỉ dẫn về phƣơng