Nghiên cứu văn bia huyện Sóc Sơn, Hà Nội - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ THỊ THÔNG
NGHIÊN CỨU VĂN BIA HUYỆN SÓC SƠN, HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ HÁN NÔM Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Thị Thuỳ Vinh

Hà Nội - 2010

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 1
3. Đối tượng nghiên cứu - Phạm vi nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu 3
3.1Đối tượng nghiên cứu 3
3. 2 Phạm vi nghiên cứu 3
3.3Phương pháp nghiên cứu 4
4. Đóng góp mới của luận văn 4
5. Bố cục luận văn 5
6. Quy ước trình bày 5
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 LỊCH SỬ, ĐỊA LÝ, VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG HUYỆN
SÓC SƠN……………………………………………………………………. 7
1.1 LỊCH SỬ ĐỊA LÝ 7
1.1.1Lịch sử địa lý 7

3.3 Văn bia góp phần tìm hiểu các hoạt động trong làng xã Sóc Sơn 75
3.3.1 Văn bia ghi về việc xây dựng các công trình phục vụ tín ngưỡng
của người dân 76
3.3.1.2 Xây dựng sửa chữa đình 79
3.3.1.3 Xây dựng, sửa chữa Đền…………………………………… 78
3.3.1.4 Xây dựng trùng tu miếu……………………………… 80
3.3.2 Văn bia ghi về việc hát cửa đình. 83
3.3.3 Văn bia huyện Sóc Sơn góp phần tìm hiểu tinh thần giáo dục và
truyền thống hiếu học địa phương. 86
3.3.4 Văn bia Sóc Sơn phản ánh về gia phả các dòng họ. 91
3.3.5 Văn bia ghi về việc xây dựng các công trình phục vụ đời sống
sản xuất của người dân Sóc Sơn: xây cầu, đào giếng. 93
3.3.6 Văn bia ghi về các hoạt động sinh hoạt làng xã: tranh chấp đất
đai, kiện tụng, bán đất. 95
Tiểu kết chương 3 96
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO. 98
PHỤ LỤC………………………………………………………………….131
PHỤ LỤC 1: Nguyên văn chữ Hán, phiêm âm, dịch nghĩa một số văn bia
huyện Sóc Sơn…………………………………………………………… 132
PHỤ LỤC 2: Một số ảnh chụp văn bia huyện Sóc Sơn……………………224

1
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Sóc Sơn là một huyện thuộc ngoại thành Hà Nội, là vùng đất có bề dầy
lịch sử văn hóa, nơi hội tụ giao thoa giữa hai nền văn hóa: văn hóa Kinh Bắc
và văn hóa Thăng Long. Sóc Sơn là vùng có nhiều di tích lịch sử. Đặc biệt
Sóc Sơn còn lưu giữ được một số lượng văn bia khá lớn. Văn bia nơi đây

thu thập được 11.651 đơn vị văn khắc với 20.980 mặt thác bản. Từ nhưng
năm cuối của thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, Viện Nghiên cứu
Hán Nôm đã và đang tổ chức tiến hành thu thập các văn khắc Hán Nôm hiện
có ở các địa phương trong cả nước, kết quả khối lượng văn khắc Hán Nôm đã
thu thập được khoảng hơn 30.000 mặt thác bản. Trong thế kỷ XX và những
năm đầu thế kỷ XXI đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn bia, đáng chú ý
như luận án Văn biaViệt Nam và giá trị của nó trong nghiên cứu văn học Việt
Nam thời trung đại của TS Trịnh Khắc Mạnh. Luận án Văn bia thời Lê xứ
Kinh Bắc và sự phản ánh sinh hoạt làng xã của TS. Phạm Thị Thùy Vinh.
Luận án Văn bia thời Mạc và đóng góp của nó trong nghiên cứu lịch sử Việt
Nam thế kỷ XVI của TS. Đinh Khắc Thuân. Luận án Văn bia khuyến học Việt
Nam của TS. Nguyễn Hữu Mùi. Các luận văn: Văn bia đình làng Bắc bộ thế
kỷ XVII của Ths. Trần Thu Hường; Nghiên cứu văn bia chợ của Ths. Đỗ Bích
Tuyển; Nghiên cứu văn bia chữ Nôm của Ths.Nguyễn Thị Hường; Nghiên
cứu văn bia huyện Đông Sơn, Thanh Hóa của Ths. Ngô Thị Thanh Tâm,
Nghiên cứu bia chùa quận Ba Đình, Hà Nội của Ths. Đoàn Trung Hữu, Luận
văn Nghiên cứu văn bia huyện Kiến Thụy, Hải Phòng của Th.s Nguyễn Thị

3
Kim Hoa, Nghiên cứu văn bia huyện Gia Lâm, Hà Nội của Th.s Phạm Minh
Đức…Ngoài ra còn rất nhiều bài viết đề cập đến văn bia một cách sâu sắc.
Huyện Sóc Sơn có 274 văn bia văn bản có niên đại sớm nhất là năm Hồng
Phúc 1 (1572), muộn nhất vào năm Bảo Đại thứ 14 (1939). Số lượng bia
huyện Sóc Sơn khá lớn và có giá trị, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một
công trình khoa học nào nghiên cứu một cách đầy đủ về số lượng văn bia này.
Viết về văn bia huyện Sóc Sơn, cho đến nay đáng kể nhất phải kể đến cuốn
sách Văn bia thời Lê xứ Kinh Bắc và sự phản ánh sinh hoạt làng xã của TS.
Phạm Thùy Vinh, trong đó huyện Sóc Sơn được đề cập đến là huyện Kim
Hoa thời Lê.
3. Đối tượng nghiên cứu - Phạm vi nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu

kê định lượng chúng tôi còn sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử.
3.3.3 Phương pháp tổng hợp
Chúng tôi dựa vào phương pháp này để đưa ra nhận định tổng quát về
những giá trị của văn huyện Sóc Sơn, Hà Nội.
Ngoài ra chúng tôi tiến hành phương pháp điền dã để khảo sát thực về
văn bia huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Chúng tôi cũng sử dụng các biểu đồ, sơ đồ,
đồ thị nhằm biểu thị những nét khái quát của vấn đề.
4. Đóng góp mới của luận văn
- Khảo sát, thống kê toàn bộ số lượng thác bản văn bia của huyện Sóc Sơn,
Hà Nội hiện đang được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (274 thác bản
văn bia).
- Lần đầu tiên văn bia huyện Sóc Sơn, Hà Nội được nghiên cứu có hệ
thống về cả nội dung và hình thức. Hơn nữa đề tài đưa ra những thống kê, so

5
sánh đối chiếu mang tính tổng hợp, khái quát cao nhất về văn bia huyện Sóc
Sơn, Hà Nội từ trước đến nay.
- Chúng tôi cố gắng đưa ra những nhận xét đánh giá chung nhất, khách quan
nhất cùng những ưu điểm nổi bật về những giá trị về văn hóa, lịch sử, phong
tục tập quán của vùng đất này thông qua những văn bia nơi đây; góp phần làm
cơ sở cho các ngành nghiên cứu về vùng đất này.
- Đưa ra danh mục văn bia huyện Sóc Sơn, Hà Nội.
- Phần phụ lục dịch một số tấm bia tiêu biểu, có nguyên văn chữ Hán, phiên âm,
dịch nghĩa.
5. Bố cục luận văn
- Luận văn gồm có 4 phần: Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và
phần phụ lục.
- Phần nội dung được chia ra 3 chương:
+ Chương 1: Giới thiệu lịch sử địa lý, văn hóa truyền thống của huyện Gia
Lâm, Hà Nội.


7
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1

LỊCH SỬ ĐỊA LÝ, VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG
HUYỆN SÓC SƠN

1.1 LỊCH SỬ ĐỊA LÝ
1.1.1 Lịch sử địa lý
Huyện Sóc Sơn hiện nay là một huyện ngoại thành của thủ đô Hà Nội.
Huyện Sóc Sơn nguyên là đất của hai huyện Đa Phúc và Kim Anh thuộc tỉnh
Vĩnh Phúc hợp nhất và lấy tên mới là huyện Sóc Sơn từ tháng 10 năm 1977.
Là vùng đất có lịch sử lâu đời trải qua hàng ngàn năm kiến tạo, cả hai huyện
Kim Anh – Đa Phúc đã nhiều lần thay đổi về tên gọi, địa giới hành chính,
thay đổi về châu tỉnh trực thuộc.
Huyện Đa Phúc thời Trần gọi là Tân Phúc, thời thuộc Minh vẫn gọi là Tân
Phúc, thuộc châu Bắc Giang. Đời Lê Hoằng Định (1600 - 1619) đổi là Thiên
Phúc rồi lại đổi là Tiên Phúc thuộc phủ Bắc Hà xứ Kinh Bắc. Đầu đời Nguyễn
đổi là Đa Phúc thuộc phủ Bắc Hà, trấn Kinh Bắc. Năm 1822 thuộc trấn Bắc
Ninh, năm 1831 thuộc tỉnh Bắc Ninh, năm 1901 thuộc tỉnh Phúc Yên.
Huyện Kim Anh đổi thành Đại Hành, nằm trong trấn Cổ Pháp, đời Lý nằm
trong phủ Thiên Đức, đời Trần nằm trong huyện Đông Ngàn thuộc châu Vũ
Ninh, lộ Bắc Giang. Đời hậu Lê vẫn là một phần của huyện Đông Ngàn thuộc

Ninh và Bắc Giang, ranh giới tự nhiên là sông Cầu, sông Cà Lồ, sông Như
Nguyệt. Phía tây giáp huyện Mê Linh và thị xã Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc.
Huyện Sóc Sơn hiện nay có 26 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 1 thị trấn và
25 xã: Bắc Phú, Đông Xuân, Đức Hoà, Hiền Ninh, Kim Lũ, Phù Linh, Phù
Lỗ, Phú Cường, Phú Minh, Tân Hưng, Tân Minh, Tiên Dược, Trung Dã, Bắc
Sơn, Việt Long, Xuân Giang, Xuân Thu, Minh Trí, Nam Sơn, Mai Đình,
Quang Tiến, Hồng Kì, Thanh Xuân, Tân Dân.
1.1.2 Lịch sử chống ngoại xâm
Sóc Sơn là huyện có bề dày lịch sử và truyền thống văn hoá. Nơi đây
có huyền thoại Thánh Gióng - một trong “Tứ bất tử” của thần điện Việt. Theo
truyền thuyết thời vua Hùng thứ 6, giặc Ân đem quân xâm lược nước ta. Đi
đến đâu chúng cũng cướp bóc của cải, tàn phá nhà cửa xóm làng, hãm hiếp

9
đánh giết người hết sức dã man. Vua Hùng phải hạ Chiếu chỉ đi khắp nơi để
cầu người tài giỏi ra đánh giặc cứu nước. Thời gian này ở làng Phù Đổng -
huyện Gia Lâm đã xuất hiện một tướng tài mà người xưa tôn là Thánh Gióng,
xin nhà vua đi đánh giặc Ân. Thánh Gióng tập hợp lực lượng rất giỏi, sau một
thời gian ngắn đã có một đội quân đông, huấn luyện giỏi và rất mạnh. Thánh
Gióng đánh đến đâu, giặc Ân tan đến đó. Cuối cùng Thánh Gióng đã dồn giặc
Ân đến vùng Đa Phúc (huyện Sóc Sơn hiện nay). Một trận chiến đấu hết sức
ác liệt và quyết định đã diễn ra ở đây. Giặc chết như rạ, thua bỏ chạy tán
loạn. Những tên còn sống sót sợ khiếp đảm phải rút về nước. Vùng đất Phù
Linh có núi Sóc, nơi Thánh Gióng cởi áo giáp sắt treo lên cây trầm hương, từ
biệt vua Hùng, mẹ già, quê hương đất nước, cả người và ngựa bay về trời. Ghi
dấu công đức của người anh hùng cứu nước, nhà vua đã phong cho ông là Phù
Đổng Thiên Vương. Nhân dân Sóc Sơn đã lập đền thờ ông ở núi Sóc và hàng
trăm địa danh khác trong huyện – nơi ghi dấu chân của người anh hùng làng
Gióng.
Năm 1076, dưới thời vua Lý Nhân Tông trị vì đất nước, 30 vạn quân

Sang đầu thế kỷ thứ 20, qua hàng chục năm ròng, có những trận chiến
đấu quyết liệt của nghĩa quân Đề Thám diễn ra ở một số nơi thuộc huyện như:
Thắng Trí, Xuân Lai, Dược Thượng, chống bọn thực dân xâm lược Pháp.
Vào ngày 18 tháng 12 năm 1972 trên cánh đồng Chuôm của xã Phù Lỗ,
huyện Sóc Sơn, tiểu đoàn 59, trung đoàn 261 bộ đội tên lửa bảo vệ thủ đô đã
bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay B52G của đế quốc Mỹ khi chúng xâm phạm
bầu trời Hà Nội. Tiêu diệt 4 giặc lái, bắt sống 2 tên, chiến công xuất sắc này
đã mở đầu cho chiến thắng Điện Biên Phủ trên không của quân dân Hà Nội

11
đánh bại cuộc tập kích đường không bằng B52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội
trong 12 ngày đêm cuối tháng 12 – 1972.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và
Mỹ, nhân dân Sóc Sơn vừa trực tiếp, vừa gián tiếp góp sức người, sức của cho
Tổ quốc, góp phần làm nên bao chiến công oanh liệt. Chính vì vậy huyện Kim
Anh cũ, một phần của huyện Sóc Sơn ngày nay, huyện Sóc Sơn và 17 xã
trong huyện đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng Lực
lượng vũ trang nhân dân.
1. 2. Văn hóa truyền thống
1. 2.1 Văn hóa lịch sử
Sóc Sơn là vùng đất văn hiến ghi dấu ấn của ông cha từ thời xa xưa còn rải
rác khắp huyện. Nơi đây có nhiều đình chùa, đền thờ trong huyện thờ các vị
thần thời vua Hùng, chứng tỏ mảnh đất này có lịch sử rất lâu đời, tồn tại hàng
ngàn năm. Sóc Sơn là mảnh đất còn lưu dấu nhiều di tích lịch sử liên quan
đến buổi đầu dựng nước và giữ nước của dân tộc. Huyện Sóc Sơn có hệ thống
di tích liên quan đến Phù Đổng Thiên Vương và Tản Viên Sơn Thánh, với số
lượng di tích lịch sử văn hoá và một kho tàng văn hoá phi vật thể rất phong
phú, đa dạng, tiêu biểu cho một diện mạo văn hoá truyền thống và mang đậm
bản sắc văn hoá Thăng Long – Hà Nội ngàn năm văn hiến.
Sóc Sơn là nơi có nhiều di tích được mọi người biết đến như: Khu di tích

Thánh Tam Giang và được thờ ở nhiều nơi);
Đền Thuỵ Hương lưu giữ được 21 đạo sắc phong, trong đó đạo sắc phong
có niên đại sớm nhất là năm Phúc Thái thứ 5 (Lê Chân Tông)(1647). Đền
Hương Giang còn lưu giữ được 15 đạo sắc phong, sắc phong có niên đại sớm

13
nhất là năm Cảnh Hưng 1(1740). Ở hai ngôi đền này còn bảo lưu nhiều mảng
chạm khắc, di vật mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII, XVIII. Đền Cả
hiện còn lưu giữ được nhiều di vật quý như: ngai thờ, nhang án, giá văn, kiệu
rước, đặc biệt là 5 đạo sắc phong có niên đại trải dài từ niên hiệu Cảnh Hưng
thứ 44 (1783) đến niên hiệu Khải Định 9 (1924) và hai tấm bia hậu thần niên
hiệu Tự Đức (1852).
Đình Thạch Lỗi hiện nay còn bảo lưu được một số đồ tế khí như long ngai
bài vị thế kỷ XIX –XX, bài vị thờ Thánh Tam Giang và bộ kiệu bát cống nghệ
thuật thế kỷ XIX – XX. Đình Hạ Xuân Lai còn lưu giữ nhiều di vật quý như:
kiệu rước, nhang án, bát bửu, long ngai được chạm khắc tỷ mỷ, sơn son thếp
vàng lộng lẫy. Đặc biệt trong đền còn lưu giữ cuốn thần phả và 8 đạo sắc
phong của các triều vua ban, cùng những tấm bia đá, hoành phi câu đối. Hàng
năm vào ngày sinh của Thần mùng 5 Giêng và ngày hoá mùng 10 tháng Tư là
các kỳ tế lễ lớn. Trong ngày hội đình Hạ Xuân Lai còn lưu giữ được tục đua
thuyền trên sông Cà Lồ để tưởng nhớ lại công tích của đức Thánh Tam Giang.
Đình thôn Trung còn lưu giữ bộ sưu tập di vật khá đa dạng về chủng loại
gồm: hai cỗ ngai thờ, một cỗ kiệu bát cống, hương án, được chạm khắc công
phu đề tài tứ linh phong cách nghệ thuật thời Nguyễn, một tấm bia hậu thần
thời Nguyễn. Lễ hội đình thôn Trung được tổ chức vào ngày mùng 6 tháng 9
âm lịch hàng năm. Đình Phú Tàng trải qua thời gian với những biến cố
thăng trâm của lịch sử đã làm cho kiến trúc di tích bị hư hỏng, một số di
vật bị thất lạc. Tuy nhiên, đình Phú Tàng hiện nay vẫn còn lưu giữ được
nhiều di vật như: 13 đạo sắc phong của các triều đại phong kiến phong
cho các thần hoàng làng, 1 cuốn thần tích, bức cửa võng sơn son thếp


15
ngoài ra những sinh hoạt văn hóa như: hát quan họ, hát trống quân, cò lả, hát
ví, múa lân, kéo co là những hoạt động của quần chúng làng xã.
Sóc Sơn là cửa ngõ của thủ đô Hà Nội đi Tây Bắc - Việt Bắc, nơi có nhiều
đường giao thông huyết mạch chạy qua, đường quốc lộ 2, đường quốc lộ 3,
đường quốc lộ 18, đường cao tốc Hà Nội – Lào Cai, đường Hà Nội – Sân bay
Nội Bài, đường vành đai 4, đường quốc lộ liên tỉnh 16, 35. Đường thuỷ là
sông Cầu đi ra biển Hải Phòng. Đặc biệt, huyện Sóc Sơn có sân bay quốc tế
Nội Bài và tuyến đường sắt Hà Nội – Thái Nguyên chạy qua, các nhà ga bến
xe, bến bãi kho tàng, hệ thống thông tin vô tuyến, hữu tuyến… ngày một phát
triển tạo thuận lợi cho việc giao dịch trong và ngoài nước. Là huyện thuộc
miền đất trung du, địa hình đa dạng, phong phú về tài nguyên, nền sản xuất
chủ yếu là nông nghiệp. Về nghề nông cùng với việc trồng lúa nước, nhân dân
còn trồng mầu (ngô, khoai, sắn), trồng cây thực phẩm (lạc, vừng, rau đậu …)
và một số cây công nghiệp (chè, cà phê, thuốc lá …), cây ăn quả, chăn nuôi
gia súc, gia cầm ngày một phát triển phong phú. Sóc Sơn cũng có những vùng
lúa gạo, rau ngon có tiếng, có nghề thủ công truyền thống mà nhân dân quanh
vùng đều biết đến qua câu ca dao:
“Gạo Cốc, rau Ngô ngon có tiếng
(1)
Giường tre Thu Thuỷ đệm rung rinh”
(2)
Sóc Sơn có nhiều phong cảnh đẹp, nhiều di tích, danh thắng làm hài lòng
du khách thập phương. Sóc Sơn tự hào có những công trình kỳ vĩ, đó là khu di
tích đền Sóc với tượng đài Thánh Gióng cao 11,07m, với độ vươn ra là 16m
được đúc bằng đồng nặng 85 tấn. Công trình tượng đài Thánh được hoàn
thành vào Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.
2
1.2.2 Một số danh nhân tiêu biểu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status