Tư tưởng dân tộc cách mệnh của Hồ Chí Minh với sự ra đời của nước Việt Nam độc lập tự do - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*

TRẦN THỊ LIÊN

TƯ TƯỞNG “DÂN TỘC CÁCH MỆNH” CỦA HỒ CHÍ MINH
VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA NƯỚC VIỆT NAM ĐỘC LẬP TỰ DO

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI 2009

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

*


“Nước Việt Nam có quyền
hưởng tự do và độc lập, và sự
thật đã thành một nước tự do
độc lập. Toàn thể dân tộc Việt
Nam quyết đem tất cả tinh
thần và lực lượng, tính mạng
và của cải để giữ vững quyền
tự do, độc lập ấy”. Chủ tịch Hồ Chí Minh
đọc Tuyên ngôn Độc lập tại vườn hoa Ba Đình, Hà Nội,
khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà,
ngày 2-9-1945 2
MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 4

Chương 1 TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN TỘC CÁCH MỆNH 10
1.1. Những nhân tố định hướng sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn
đề dân tộc cách mệnh 10

PHỤ LỤC 113 4
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VII (tháng 6-1991) đã thông
qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Cương lĩnh khẳng định vị trí tư tưởng Hồ Chí Minh trong toàn bộ quá trình
phát triển của cách mạng Việt Nam: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”[15;
tr.127]. Đại hội IX của Đảng tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết

2. Tình hình nghiên cứu
Tư tưởng dân tộc cách mệnh của Hồ Chí Minh đã được nhiều người
trong nước và ở nước ngoài quan tâm nghiên cứu. Đã có nhiều công trình
khoa học có giá trị: như Trường Chinh (1991), Chủ tịch Hồ Chí Minh và cách
mạng Việt Nam, Nxb Thông tin lý luận, H; Võ Nguyên Giáp (1992), Thế giới
còn đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi, Nxb Sự Thật, H; Võ
Nguyên Giáp (2000), Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt
Nam, Nxb CTQG, H.v.v
Nhiều báo cáo khoa học của các nhà nghiên cứu đã được trình bày tại
nhiều hội thảo khoa học trong nước và quốc tế như: Hội thảo khoa học
quốc tế: Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá
(do UNESCO tổ chức tại Hà Nội nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của
Chủ tịch Hồ Chí Minh); Hội thảo khoa học quốc tế: Chủ tịch Hồ Chí Minh
- người chiến sĩ kiên cường của phong trào giải phóng dân tộc, phong
trào cộng sản và công nhân quốc tế (do Viện Mác-Lênin và Thành uỷ Hà
Nội tổ chức tháng 8-1990).
Một số nhà khoa học đã công bố những công trình nghiên cứu có giá trị về
tư tưởng Hồ Chí Minh, về dân tộc cách mệnh như: Lê Mậu Hãn, Sức mạnh
dân tộc của cách mạng Việt Nam dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh (Nxb 6
CTQG, H, 2003); Đặng Xuân Kỳ, Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh (Nxb
Thông tin lý luận, H, 1990); Hùng Thắng- Nguyễn Thành: Chủ tịch Hồ Chí
Minh người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận giải phóng dân tộc (Nxb Khoa
học xã hội, H, 1985); Trịnh Nhu – Vũ Dương Ninh: Về con đường giải phóng
dân tộc của Hồ Chí Minh (Nxb Chính trị quốc gia, H,1996); và một số bài
nghiên cứu của một số tác giả thuộc nhóm đề tài: Tư tưởng Hồ Chí Minh về
vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc (KX.02.12) đã công bố trên
Tạp chí Lịch sử Đảng số 4-1994, như bài: Con đường cách mạng Hồ Chí

về chân lý sáng tạo của Hồ Chí Minh.
- Trên cơ sở đó rút ra một số kinh nghiệm nhằm phát huy yếu tố dân tộc
trong hoàn cảnh mới trên con đường xây dựng đất nước hiện nay.
- Góp phần phê phán những luận điểm xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng
Hồ Chí Minh đối với các phần tử chống Đảng, chống nhân dân Việt Nam.
b- Nhiệm vụ:
- Dựa vào các sự kiện lịch sử trong nước và quốc tế để phân tích, lý giải
những yếu tố khách quan và chủ quan của quá trình hình thành tư tưởng Hồ
Chí Minh về dân tộc cách mệnh theo con đường cách mạng vô sản.
- Trình bày những nội dung cốt lõi, tư tưởng xuyên suốt trong tư tưởng
Hồ Chí Minh về dân tộc cách mệnh và mối quan hệ với các nội dung khác
trong tư tưởng của Người. Trên cơ sở đó khẳng định công lao to lớn và sự
nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Sự thắng lợi của quan điểm cách mạng dân tộc của Hồ Chí Minh đưa
đến sự ra đời của nước Việt Nam độc lập tự do
- Phân tích ý nghĩa thiết thực của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc
cách mệnh đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta hiện nay.

8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: tư tưởng của Hồ Chí Minh về dân
tộc cách mệnh là cơ sở tư tưởng để Đảng và Người đề ra đường lối, tổ chức
lãnh đạo nhân dân Việt Nam đấu tranh giải phóng dân tộc dẫn đến sự ra đời
của nước Việt Nam độc lập tự do.
Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: Tư tưởng dân tộc cách mệnh của Hồ Chí Minh trong thời
đại mới bằng hiện thực cách mạng tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam
10
Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN TỘC CÁCH MỆNH
1.1. Những nhân tố định hướng sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về
vấn đề dân tộc cách mệnh
1

Để hiểu thấu đáo tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc cách mệnh,
cần xem xét toàn diện, đầy đủ quá trình hình thành và phát triển tư tưởng đó
và những nhân tố tác động đến quá trình ấy của Hồ Chí Minh

dưới một lòng, nhằm giữ lấy giang sơn chung mà tổ tiên đã tạo dựng. Truyền
thống yêu nước Việt Nam, ý chí độc lập và khát vọng tự do đã thôi thúc các
thế hệ Việt Nam nối tiếp nhau xây dựng và bảo vệ đất nước. Truyền thống
yêu nước Việt Nam hòa quyện với tình yêu thương đồng bào, đồng loại đã
đúc kết trong khối đoàn kết cộng đồng, nhất là khi đứng trước những thử
thách lớn lao, đe dọa sự sống còn của dân tộc. Thử thách càng lớn, ý chí quyết
tâm càng cao; kẻ thù càng hung bạo, chiến công của dân tộc càng hiển hách
Trong nhiều thế kỷ, những cuộc xâm lược của các triều đại phong kiến
phương Bắc đều gặp sức phản kháng mãnh liệt của quân dân Đại Việt. Hầu
hết các triều đại phong kiến Việt Nam đều gắn liền với những cuộc kháng
chiến, những chiến thắng oanh liệt, những địa danh lịch sử ghi dấu chiến
công: Bạch Đằng, Chi Lăng, Xương Giang, Đống Đa…Ý chí độc lập tự chủ,
tự lực tự cường, quyết tâm bảo vệ chủ quyền dân tộc được thể hiện đậm nét ở
những sự kiện điển hình: Hội nghị Diên Hồng, Hội thề Lũng Nhai…; ở các
văn kiện lịch sử, những lời hịch, lời thơ hào hùng, như bài thơ “Nam quốc sơn
hà…” đời Lý, Hịch tướng sĩ đời Trần, Bình Ngô đại cáo đời Lê…Tuy đất
không rộng lắm, người không đông lắm, song dân tộc Việt Nam trong lịch sử
đã lập nên những chiến công mà không phải dân tộc nào cũng có được. Nhiều
thế lực xâm lược hung hãn đã từng chinh phục, thống trị nhiều khu vực trên
thế giới, trong đó có những đất nước rộng lớn hơn Việt Nam, nhưng khi xâm
lược Việt Nam đã phải chịu thất bại nặng nề. Đó là trường hợp các đế quốc
Nguyên Mông, Mãn Thanh… 12
Là một dân tộc luôn luôn phải đương đầu với những kẻ thù lớn mạnh
hơn mình gấp bội trong lịch sử mấy ngàn năm, truyền thống chống ngoại xâm
của dân tộc Việt Nam cũng có những nét riêng. Những cuộc kháng chiến của
dân tộc Việt Nam thường mang tính nhân dân sâu sắc, huy động được nhiều
lực lượng tham gia, cha ông ta đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm quý về lấy

đến nửa đầu thiên niên kỷ thứ hai, Hồ Chí Minh đã nêu rõ tổ tiên ta đã treo
bao tấm gương đạo đức và dũng cảm, chí khí và tự tôn dân tộc. Người tóm tắt
dân tộc ta đã thắng quân phong kiến Trung Quốc không phải nhờ quân đông
sức mạnh mà chính là nhờ ý chí độc lập và lòng khát khao tự do”.[39; tr.80].
Trong những thời kỳ đất nước sạch bóng quân thù, nhân dân ta có điều
kiện để xây dựng, bồi đắp thêm, phát triển nền văn hóa dân tộc lên những
bước cao hơn. Những nét đặc sắc của nền văn hóa dân tộc được ghi dấu trong
những công trình kiến trúc, những tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa
học…trong đó có những công trình còn được lưu giữ đến ngày nay.
Cuộc xâm lược và nền thống trị tàn bạo của thực dân Pháp ở nửa sau
thế kỷ XIX đã đặt dân tộc Việt Nam trước những thử thách mới. Kẻ thù lúc
này là một cường quốc tư bản chủ nghĩa phương Tây, có tiềm lực kinh tế,
quân sự lớn mạnh hơn và trình độ kinh tế, khoa học, kỹ thuật phát triển cao.
Với truyền thống quật khởi, để bảo vệ đất nước, bảo tồn nòi giống và
nền văn hóa dân tộc, những cuộc khởi nghĩa vũ trang chống thực dân Pháp
của nhân dân Việt Nam vẫn diễn ra suốt trong quá trình chúng xâm chiếm đất
nước ta ở cuối thế kỷ XIX.
Sang đầu thế kỷ XX khi thực dân Pháp đã cơ bản hoàn thành cuộc xâm
lược, chúng đã đặt được ách thống trị trên lãnh thổ Việt Nam, cuộc vận động
cứu nước vẫn tiếp tục với những hình thức mới, khí thế mới, xu hướng mới,
trong đó nổi bật lên khuynh hướng bạo động, đại diện là Phan Bội Châu và
khuynh hướng cải lương, tiêu biểu là Phan Châu Trinh. Các thế hệ Việt Nam 14
đã nối tiếp nhau, lớp trước ngã xuống, lớp sau xông lên, thất bại của lớp trước
là kinh nghiệm cho lớp sau đứng dậy tiếp tục phất cao ngọn cờ giải phóng dân
tộc, giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc.
Truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết cộng đồng, ý chí độc lập, tự
cường của dân tộc đã thôi thúc nhiều người dân, nhất là lớp thanh niên yêu

Nghệ - Tĩnh cùng là một trong những nơi khởi phát các phong trào vận
động cứu nước như Đông du, Duy tân…Những phong trào đó đã góp phần
trực tiếp và quan trọng bỗi dưỡng, nâng cao lòng yêu nước của Hồ Chí Minh.
Nghệ - Tĩnh, Thừa Thiên - Huế, là nơi Người sinh sống, học tập
trong nhiều năm của tuổi trẻ, đã để lại dấu ấn sâu sắc và tác động mạnh
mẽ đến nhận thức, đến quá trình hình thành tư tưởng yêu nước của Hồ Chí
Minh. Huế là kinh đô của Nam Triều, nhưng chính tại đây, sự bất lực,
thân phận tay sai phụ thuộc của triều đình nhà Nguyễn vào chính quyền
bảo hộ Pháp lại càng bộc lộ rõ nét nhất. Sự oán hận, phẫn nộ của các sĩ
phu yêu nước và đông đảo nhân dân trước những cảnh bất công và nỗi
nhục mất nước đã bùng lên trong những phong trào yêu nước, phong trào
chống thuế sôi động mà Hồ Chí Minh đã tham gia.
Cũng chính tại Huế, Hồ Chí Minh đã sống và học tập trong không khí
học đường của Trường tiểu học Pháp - Việt Đông Ba và Trường quốc học
Huế. Tại đó, ở người thanh niên sớm có ý chí cứu nước này, cùng với nỗi bất
bình trước thái độ miệt thị thô bạo của những đốc học người Pháp, là sự suy
tư, thấm thía trước bài giảng chứa đựng nội dung yêu nước của những người
thày có tinh thần dân tộc, luôn đau xót trước cảnh nước mất nhà tan.
Đồng thời, cũng chính tại Huế, từ những tri thức thu được qua thực tế
cuộc sống, qua thày học, sách vở, nhận thức của Hồ Chí Minh được nâng cao,
mở rộng, góp phần thôi thúc Người quyết tâm tìm đường cứu nước. 16
Những năm đầu thế kỷ XX cũng là thời gian mà sự thất bại, bế tắc của
phong trào cứu nước ở cả hai khuynh hướng bạo động và cải lương đều đã thể
hiện rõ: phong trào Đông Du tan rã do sự thỏa hiệp của hai đế quốc Pháp và
Nhật; trường Đông kinh nghĩa thục bị đóng cửa; phong trào vận động cải cách
và phong trào chống sưu thuế tại Huế và các tỉnh miền Trung bị đàn áp. Mặt
khác, tư tưởng cải lương không đủ sức lãnh đạo phong trào của các tầng lớp

sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc. Để bảo vệ những quyền đó các
chính phủ được lập ra cho mọi người dân và có được những quyền lực
chính đáng trên cơ sở sự nhất trí của những người dân đó, và bất cứ khi
nào một chính phủ nào đó phá vỡ những mục tiêu đó, thì người dân có
quyền thay đổi hoặc xoá bỏ chính quyền đó và lập ra một chính phủ mới
dựa trên nền tảng những nguyên tắc trên và tổ chức thực thi quyền hành
theo một thể chế bảo đảm tốt nhất đến sự an ninh và hạnh phúc của họ.
Tinh thần cơ bản của quan điểm trên được Hồ Chí Minh nêu trong bài
giảng dùng trong các lớp huấn luyện cán bộ cách mạng tổ chức ở Quảng
Châu trong quá trình chuẩn bị thành lập đảng cách mệnh. Đến tháng 9-
1945, Người cũng nêu lại tư tưởng đó trong lời mở đầu bản Tuyên ngôn độc
lập của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà.
Đối với cuộc cách mạng tư sản Pháp, Người rất coi trọng giá trị tư
tưởng của bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền, trong đó nêu lên những
lẽ phải không ai chối cãi được rằng: người ta sinh ra tự do và bình đẳng về
quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.
Trên con đường bôn ba tìm phương cứu nước khắp các lục địa, Hồ Chí
Minh đã dành tâm sức xem xét tình hình các dân tộc, các giai cấp, các thể chế
chính trị, đặc biệt là đi sâu tìm hiểu lý luận và kinh nghiệm các cuộc cách
mạng điển hình trên thế giới. Nghiên cứu cuộc cách mạng giải phóng dân tộc
Mỹ và cuộc cách mạng dân chủ tư sản Pháp, Hồ Chí Minh đã học được nhiều 18
kinh nghiệm quý, nâng cao được tầm hiểu biết về vai trò của các giai cấp
trong cách mạng tư sản; về tổ chức; về tinh thần, ý chí cách mạng của quần
chúng đặc biệt về tư tưởng tự do, dân chủ. Tìm hiểu cốt lõi của cách mạng
Mỹ và cách mạng Pháp, đối chiếu với thực tiễn các thể chế chính trị của các
nước tư bản chủ nghĩa Pháp, Mỹ và với cuộc sống của các giai cấp, các dân
tộc thuộc các màu da khác nhau, Hồ Chí Minh đã đi đến kết luận: “Cách

các nước đế quốc là phải ủng hộ tích cực đối với phong trào giải phóng các
dân tộc thuộc địa. Đồng thời, Người nêu rõ yêu cầu cấp thiết đảm bảo thắng
lợi của cuộc đấu tranh giành độc lập ở các nước thuộc địa là sự liên minh,
đoàn kết với nước Cộng hòa Xô Viết, với giai cấp vô sản ở các nước đế quốc.
Luận cương của V.I.Lênin còn chỉ rõ bộ mặt giả dối của chế độ dân chủ tư
sản về quyền bình đẳng nói chung, bao gồm cả quyền bình đẳng dân tộc,
trong đó, sự lừa dối của những kẻ đứng đầu các nước dân chủ phương Tây
trong Hòa ước Véc xai là một biểu hiện cụ thể, rõ nét.
Những luận điểm của V.I.Lênin trong Luận cương đã soi sáng con
đường giải phóng dân tộc mà Hồ Chí Minh đang khao khát tìm kiếm. Sự hiểu
biết của Hồ Chí Minh về sự tàn bạo, giả dối của chủ nghĩa thực dân càng giúp
Người lĩnh hội sâu sắc, thấm thía những nhận xét của Lênin về bản chất của
chủ nghĩa đế quốc. Với kinh nghiệm thực tiễn, với tư duy độc lập sáng tạo,
với phương pháp độc đáo để tìm chân lý cứu nước, Hồ Chí Minh đã nhanh
chóng gặp gỡ và tin theo tư tưởng Lênin, tán thành Quốc tế cộng sản.
Tư tưởng của V.I.Lênin thể hiện qua Sơ thảo lần thứ nhất những luận
cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa đã nêu ra một khả năng phát
triển rộng lớn cho cách mạng giải phóng dân tộc ở khu vực thuộc địa và phụ
thuộc. Hồ Chí Minh đã tìm thấy ở những luận điểm cách mạng của Lênin lời
giải đáp cho câu hỏi lớn về vận mệnh dân tộc mà các thế hệ yêu nước Việt
Nam đã đi tìm suốt nhiều thập kỷ ngay từ khi bị chủ nghĩa đế quốc Pháp xâm 20
lược và thống trị. Luận cương của Lênin đã giúp Người nhận ra mối quan hệ
giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc bị áp bức cùng chung cảnh ngộ và
cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở các nước tư bản, đế quốc. Với Luận
cương của Lênin, Hồ Chí Minh cảm nhận được sức mạnh của lực lượng đồng
minh to lớn của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam là giai cấp vô sản và
các dân tộc bị áp bức ở khắp nơi trên thế giới. Tư tuởng vĩ đại của V.I.Lênin

cấp vô sản và các dân tộc chống chủ nghĩa đế quốc trong từng giai đoạn cụ
thể. Trên ý nghĩa đó, Hồ Chí Minh đã lĩnh hội và vận dụng chủ trương của
Quốc tế cộng sản vào việc lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam.
Đồng thời, với tư duy độc lập sáng tạo Người vẫn luôn tìm ra những bước đi,
phương pháp phù hợp nhất đối với dân tộc mình.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga là một thành quả rực rỡ của
tư tưởng Lênin về cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng các dân tộc bị
áp bức, xây dựng quan hệ bình đẳng giữa các dân tộc trong Liên bang Xô
viết. Cách mạng tháng Mười Nga đưa ra một mô hình mới của một xã hội do
nhân dân lao động và các dân tộc làm chủ vận mệnh của mình.
Chính sách dân tộc tự quyết của nước Nga sau Cách mạng đã đưa ra
mẫu mực về vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa các dân tộc theo quan điểm
đúng đắn của V.I.Lênin, ảnh hưởng sâu sắc tư duy của Hồ Chí Minh về vấn
đề dân tộc mà sau này Người sẽ vận dụng sáng tạo và phát triển trong việc
giải quyết mối quan hệ giữa các dân tộc Việt Nam với các quốc gia dân tộc
khác trên thế giới; dân tộc Việt Nam với các quốc gia dân tộc trong khu vực
và đặc biệt là với các dân tộc Lào, Campuchia cùng nằm trên bán đảo Đông
Dương, với nhiều mối quan hệ đặc biệt về chính trị, kinh tế…
Tóm lại, có thể khẳng định rằng, việc tiếp xúc với Luận cương của
V.I.Lênin là bước ngoặt cho sự hình thành tư tưởng dân tộc và cách mạng
giải phóng dân tộc theo lập trường vô sản của Hồ Chí Minh. Và quá trình 22
hoạt động trong Quốc tế Cộng sản tới năm 1930 chính là thời kỳ tác động
trực tiếp quyết định đến sự phát triển toàn diện những luận điểm về dân tộc
cách mệnh của Người.
1.1.3. Phẩm chất và tài năng của Hồ Chí Minh
Ngoài những nhân tố khách quan nêu trên, nhân tố chủ quan Hồ Chí
Minh đã đóng vai trò quyết định trong việc hình thành tư tưởng dân tộc cách

thức về thời đại. Ý thức này ngày một sâu sắc, là một nhân tố quan trọng ảnh
hưởng trực tiếp đến tư tưởng, hành động của Người. Đúng như V.I.Lênin đã
nói: Chỉ có dựa trên cơ sở hiểu biết những đặc điểm của một thời đại, chúng
ta mới có thể tính đến những đặc điểm chi tiết của nước này hay nước nọ
Khi ra đi tìm đường cứu nước hành tranh của Hồ Chí Minh không chỉ
là lòng yêu nước và một nghị lực phi thường với hai bàn tay lao động để kiếm
sống, mà còn có cả trình độ học vấn nữa. Vốn tri thức mà Người có được là
do các nhà Nho uyên thâm lúc bấy giờ truyền dạy (như các thày Vương Thúc
Quý, Trần Thân…và cụ thân sinh Nguyễn Sinh Sắc), lấy cứu nước, cứu dân
làm lẽ sống cao đẹp của người có học. Người cũng có trình độ về Hán học.
Người còn thu nhận một số kiến thức của nền văn hóa phương Tây khi học tại
các trường tiểu học Pháp - Việt ở một số địa phương trong nước, nó giúp cho
Hồ Chí Minh những kiến thức cơ bản, về lịch sử, văn học, địa lý nước Pháp
và một số nước khác. Đây là cơ sở quan trọng ban đầu để Người tiếp tục bồi
dưỡng, nâng cao trình độ sau này.
Trong quá trình sống và hoạt động ở nhiều nơi trên thế giới, thực trạng
cuộc sống của những người lao động dưới chế độ tư bản chủ nghĩa là một
thực tế khách quan đã tác động đến nhận thức của Hồ Chí Minh. Người
hiểu rằng, nhân dân bị áp bức ở đâu cũng đều khốn khổ, tất cả đều có
chung kẻ thù là chủ nghĩa đế quốc, đều cùng có nguyện vọng được giải

Trích đoạn Dân tộc cách mệnh theo con đường cách mạng vô sản Mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng chính quốc Dân tộc cách mệnh là sự nghiệp của toàn dân tộc tiến hành bằng phương thức cách mạng khoa học, sáng tạo. Dân tộc cách mệnh trước hết phải có đảng cách mạng SỰ RA ĐỜI CỦA NƯỚC VIỆT NAM ĐỘC LẬP TỰ DO MỘT MINH CHỨNG GIÁ TRỊ SÁNG TẠO CỦA TƯ TƯỞNG DÂN TỘC CÁCH MỆNH
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status