Biện chứng giữa lý luận và thực tiễn trong tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp đổi mới kinh tế ở Việt Nam - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN THỊ LIÊN

BIỆN CHỨNG GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
TRONG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỚI SỰ NGHIỆP
ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành Hồ Chí Minh học HÀ NỘI – 2013
HÀ NỘI – 2013 iii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn khoa học của PGS.TS.GVCC. Lê Trọng Ân. Các số liệu và
trích dẫn trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan và có
nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Ngƣời cam đoan Trần Thị Liên

TP. Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2013
Tác giả
v

MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA
TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN 7
1.1. Hoàn cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam và tình hình thế giới cuối
thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX với việc hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về
biện chứng giữa lý luận và thực tiễn 7
1.1.1. Hoàn cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX 7
1.1.2. Tình hình thế giới cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX 10
1.2. Những tiền đề của tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về biện chứng giữa lý
luận và thực tiễn 12
1.2.1. Chủ nghĩa yêu nước và những giá trị truyền thống của dân tộc
Việt Nam – cội nguồn của tư tưởng Hồ Chí Minh về biện chứng giữa lý luận và
thực tiễn 12
1.2.2. Tinh hoa văn hóa nhân loại – tiền đề quan trọng của tư tưởng Hồ
Chí Minh về biện chứng giữa lý luận và thực tiễn 14
1.2.3. Chủ nghĩa Mác – Lênin, tiền đề lý luận cơ bản của tư tưởng Hồ
Chí Minh về biện chứng giữa lý luận và thực tiễn 16
1.2.4. Phẩm chất đặc biệt và hoạt động thực tiễn phong phú của Hồ Chí
Minh – nhân tố quyết định bản chất khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh về
biện chứng giữa lý luận và thực tiễn 18

kinh tế ở Việt Nam 75
2.3.1. Mục tiêu và phương hướng phát triển kinh tế của Việt Nam đến
năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020 75
2.3.2. Một số giải pháp cơ bản vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa lý
luận và thực tiễn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về để phát triển kinh tế ở Việt
Nam…………… 77
KẾT LUẬN 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 951

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm lý luận toàn diện và
sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận
dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của
nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người”[27, 19].
Nhận thức sâu sắc về giá trị đặc biệt quan trọng của tư tưởng Hồ Chí
Minh đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam (1991) đã trân trọng ghi vào cương lĩnh
của mình là “Lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng
tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
IX, một lần nữa Đảng khẳng định: “Đảng và nhân dân dân ta quyết tâm xây
dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” [16, 25].
Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta.
Trong hệ thống lý luận của Người, một trong những nội dung cốt lõi nhất,

Thực trạng trên do nhiều nguyên nhân, theo tác giả, một trong những
nguyên nhân chính yếu nhất là sự xa rời thực tế, nói không đi đôi với làm, hành
động thực tiễn không phù hợp với tư tưởng – lý luận, vì lợi ích cá nhân mà một
bộ phận cán bộ, đảng viên xa rời những nguyên tắc lãnh đạo của Đảng, vi phạm
lợi ích của nhân dân và dân tộc.
Để khắc phục tình trạng trên và đưa đất nước tiến lên, một trong những
nhiệm vụ cơ bản và cấp bách hiện nay là phải tăng cường học tập và làm theo
tư tưởng, tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh; tiếp tục nghiên cứu lý
luận, tổng kết thực tiễn và vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người để góp phần
phát triển lý luận, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước ta trong quá trình đổi mới, mà trọng tâm là đổi mới kinh tế để thực
hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Chính từ những lý do 3

trên, tác giả chọn vấn đề “Biện chứng giữa lý luận và thực tiễn trong tư
tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp đổi mới kinh tế ở Việt Nam” cho đề tài
Luận văn Thạc sĩ của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Nhận thức sâu sắc giá trị khoa học và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí
Minh, trong những năm qua, theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, các nhà
khoa học, các nhà nghiên cứu đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu tư
tưởng Hồ Chí Minh trên nhiều lĩnh vực với những cách tiếp cận cơ bản sau:
- Thứ nhất, tiếp cận nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh dưới góc độ
lịch sử. Theo hướng nghiên cứu này, có thể kể đến các tác phẩm và các tác giả
tiêu biểu sau: Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương với tác phẩm: “Chủ tịch Hồ
Chí Minh - tiểu sử và sự nghiệp”, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1975; Hà Huy
Giáp với tác phẩm: “Bác Hồ - người Việt Nam đẹp nhất”, Nhà xuất bản Thanh

+ Nguồn gốc thế giới quan triết học Hồ Chí Minh của TS Vũ Văn Thuận;
+ Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong tư tưởng triết học Hồ Chí
Minh của TS Trần Văn Phong;
+ Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giai cấp và dân tộc của GS,TS
Nguyễn Ngọc Long;
+ Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh của TS Nguyễn Thế Kết;
+ Tư tưởng triết học về con người của PGS,TS Nguyễn Tĩnh Gia, GS
Mai Trung Hậu;
Ngoài ra còn nhiều bài báo, công trình khác nghiên cứu về tư tưởng Hồ
Chí Minh đăng trên các tạp chí chuyên ngành.
Nhìn chung, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về lý luận và thực
tiễn đã được nhiều tác giả đề cập đến trong nhiều tác phẩm và đã được công bố.
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách
có hệ thống mang tính chuyên khảo sâu về vấn đề biện chứng giữa lý luận và
thực tiễn trong tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng tư tưởng của Người trong
sự nghiệp đổi mới kinh tế ở Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn:
Phân tích và làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về
lý luận và thực tiễn; trên cơ sở đó vận dụng tư tưởng của Người vào sự nghiệp
đổi mới kinh tế ở nước ta. 5

Nhiệm vụ của luận văn:
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu
sau:
Thứ nhất, phân tích và làm rõ hoàn cảnh lịch sử - xã hội và những tiền đề
hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về lý luận và thực tiễn.

lôgic, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, so sánh, đối chiếu, lý luận
gắn liền với thực tiễn… trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài luận văn.
6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học của luận văn:
Luận văn góp phần làm rõ những nội dung cơ bản và khẳng định giá trị
khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh về lý luận và thực tiễn đối với sự nghiệp
cách mạng Việt Nam; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự vận dụng
tư tưởng của Người trong sự nghiệp đổi mới nói chung và đổi mới tư duy kinh
tế nói riêng ở Việt Nam.
Ý nghĩa thực tiễn của luận văn:
Kết quả của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên
các trường Đại học và Cao đẳng trong việc nghiên cứu và học tập môn Hồ Chí
Minh học hoặc làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm nghiên cứu
chuyên sâu chuyên đề “nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong tư
tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng tư tưởng của Người trong sự nghiệp đổi
mới tư duy, phát triển kinh tế ở Việt Nam”.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn được kết cấu gồm 2 chương, 6 tiết. 7

Chƣơng 1
HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA
TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ BIỆN CHỨNG GIỮA
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 . Hoàn cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam và tình hình thế giới cuối
thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX với việc hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về

Trước tình hình đó, nhiều tư tưởng cải cách, canh tân mang tính tích cực
như tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Phạm Phú Thứ, Đặng
Huy Trứ… với những phương án cách tân đầy tâm huyết nhằm giải quyết khó
khăn cho đất nước. Tuy nhiên, những tư tưởng canh tân phục hưng đất nước và
đề nghị những giải pháp cải cách đó đã không được triều Nguyễn chấp nhận,
hoặc chấp nhận một cách tùy tiện, ngẫu hứng. Vì vậy, nhiều tư tưởng được
đánh giá là tiến bộ song cũng không được thực hiện trong thực tế.
Hậu quả của việc không thực hiện cải cách là ngày càng có nhiều mâu
thuẫn nảy sinh và không thể giải quyết được. Đó chính là cơ hội cho các nước
đế quốc muốn thôn tính Việt Nam.
Lợi dụng điều này, thực dân Pháp đã nổ sung xâm lược Việt Nam vào
tháng 8 năm 1858. Từ đây, đời sống kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam diễn ra
bước chuyển mạnh mẽ về mọi mặt. Ngay sau khi đã cơ bản kết thúc giai đoạn
vũ trang xâm lược, thực dân Pháp thi hành chính sách khai thác thuộc địa, độc
quyền về kinh tế, chuyên chế về chính trị, biến Việt Nam vốn là nước phong
kiến thành nước thuộc địa nửa phong kiến, dẫn đến những biến đổi to lớn
trong đời sống kinh tế - xã hội. Về kinh tế, thực dân Pháp độc quyền và đưa ra
chế độ thuế khóa nặng nề. Toàn bộ chính sách kinh tế Việt Nam đều phụ
thuộc vào thực dân Pháp nên không phát triển được, nhân dân Việt Nam bị
bần cùng hóa. Về văn hóa, thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân, đưa
văn hóa ngoại lai thay thế văn hóa truyền thống Việt Nam. Chúng khuyến
khích truyền bá văn chương ủy mị của văn hóa phương Tây vào và thủ tiêu
Nho học nhằm mục đích toàn quyền thống trị. Xã hội Việt Nam lúc này trở
nên suy tàn và lạc hậu hơn trong vòng kìm hãm bởi những chính sách của
thực dân Pháp xâm lược. 9

Mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam giai đoạn này không chỉ là mâu

10

tưởng dân chủ tư sản của Tôn Trung Sơn, đặc biệt là cuộc cách mạng Tân Hợi
năm 1911 ở Trung Quốc thắng lợi đã ảnh hưởng nhất định đến phong trào Duy
Tân nước ta.
Với sự chuyển biến của cách mạng trong nước và ảnh hưởng của các trào
lưu tư tưởng tiến bộ trên thế giới, phong trào yêu nước chống Pháp của nhân
dân ta chuyển dần sang xu hướng dân chủ tư sản với sự xuất hiện của các
phong trào như: Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân, Việt Nam Quang
Phục Hội… Các phong trào yêu nước ngày càng phát triển rộng khắp nhưng
cuối cùng lần lượt bị dập tắt, một phần vì chưa lôi cuốn được các tầng lớp nhân
dân, phần khác vì các phong trào đó chủ yếu vẫn do các sĩ phu phong kiến
truyền bá và dẫn dắt nên không tránh khỏi những hạn chế và thất bại. Yêu cầu
cấp bách đặt ra cho cách mạng Việt Nam là phải có một hệ thống lý luận khoa
học soi đường. Đó chính là tiền đề cho việc tìm đường cứu nước sau này của
Nguyễn Ái Quốc. Sự thống nhất biện chứng giữa thực tiễn cách mạng thế giới
và thực tiễn cách mạng Việt Nam đã trở thành cơ sở vững chắc cho những lý
luận của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc.
1.1.2. Tình hình thế giới cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX
Những năm cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản phương
Tây bước sang một giai đoạn mới, từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn
độc quyền, tức giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Các nước tư bản đế quốc trong thì
tăng cường bóc lột nhân dân lao động, bên ngoài thì đẩy mạnh quá trình xâm
lược và áp bức nhân dân các nước thuộc địa, biến các quốc gia này thành thị
trường tiêu thụ hàng hóa, nơi cung cấp nguyên vật liệu, khai thác sức lao động
và xuất khẩu tư bản. Sự thống trị tàn bạo của các nước tư bản đế quốc làm cho
đời sống nhân dân lao động, đặc biệt ở các nước thuộc địa vô cùng khổ cực.
Mâu thuẫn giữa các nước đế quốc và nhân dân các nước thuộc địa ngày càng
cao độ. Vì vậy, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào đấu tranh
chống xâm lược, giải phóng dân tộc ở khắp nơi trên thế giới diễn ra ngày càng

Đào Nha. Nơi đây cũng đã xuất hiện nhiều phong trào đấu tranh chống lại sự
xâm lược của chủ nghĩa đế quốc nhưng cuối cùng cũng đều thất bại.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của các phong trào đấu
tranh cách mạng giải phóng dân tộc trên thế giới là do các nước chưa tìm ra con
đường đấu tranh đúng đắn, chưa tìm ra lý luận cách mạng đúng đắn soi đường. 12

Do đó, các dân tộc thuộc địa và nhân dân lao động ở các nước thuộc địa vẫn bị
bao trùm bởi bóng đen của chủ nghĩa đế quốc.
Đến năm 1917, một sự kiện lịch sử lớn lao mang tính bước ngoặt đã xảy
ra. Đó là cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga vĩ đại do
V.I.Lênin và Đảng Cộng sản Bônsêvích lãnh đạo đã giành được thắng lợi vẻ
vang. Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới,
kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư
bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Thắng lợi của Cách mạng
Tháng Mười Nga vĩ đại, sự ra đời của nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới –
nhà nước đầu tiên do giai cấp công nhân và nhân dân lao động làm chủ - và sự
ra đời của Quốc tế Cộng sản III là nguồn động viên, cổ vũ vô cùng to lớn đối
với phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trên khắp thế giới.
Có thể nói, kinh nghiệm của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga, sự ra đời
của Quốc tế III, phong trào công nhân quốc tế và phong trào đấu tranh của các
nước thuộc địa theo khuynh hướng cách mạng vô sản chống chủ nghĩa thực
dân, chủ nghĩa đế quốc là những cơ sở hiện thực trực tiếp quan trọng nhất, có ý
nghĩa quyết định đến sự hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh nói
chung, tư tưởng của Người về sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực
tiễn nói riêng, nhất là mối quan hệ giữa lý luận cách mạng và thực tiễn cách
mạng do giai cấp vô sản lãnh đạo. Qua đó, Người khẳng định: “Muốn cứu nước
và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô

Trong các giá trị văn hóa truyền thống tinh túy nhất của dân tộc ta, chủ nghĩa
yêu nước Việt Nam luôn được đặt lên vị trí hàng đầu.
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam gắn kết mật thiết với truyền thống đại
đoàn kết toàn dân tộc đã tạo thành dòng chủ lưu trong lịch sử dân tộc, được
trao truyền và ngày càng phát huy sức mạnh từ thế hệ này qua thế hệ khác. Đối
với người Việt Nam, yêu nước phải thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc. Và, sức
mạnh của đại đoàn kết toàn dân tộc chỉ có thể phát huy ở mức cao nhất trên cơ
sở của chủ nghĩa yêu nước chân chính. Vì vậy, ông cha ta thường khuyên dạy
các thế hệ con cháu rằng: “Chia rẽ thì chết, đoàn kết thì sống”; “một cây làm
chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”… 14

Đến thời đại Hồ Chí Minh, trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, đặc
biệt là từ thực tiễn của lịch sử dân tộc Việt Nam, sức mạnh của đại đoàn kết đã
được Người khái quát bằng một luận điểm mang tính nhân sinh hết sức sâu sắc
là:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công”.
Cùng với chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, con
người Việt Nam, dân tộc Việt Nam còn rất nhiều giá trị truyền thống độc đáo
khác. Đó là truyền thống cần cù, dũng cảm, tự lực tự cường trong lao động sản
xuất, cải tạo tự nhiên; kiên cường trong chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù
xâm lược để bảo vệ vững chắc toàn vẹn lãnh thổ và độc lập quốc gia; đó là
truyền thống văn hiến, hiếu học, ham học hỏi tiếp thu cái mới, không ngừng mở
rộng và kế thừa có chọn lọc những tinh hoa văn hóa của nhân loại để bổ sung,
phát triển và làm phong phú thêm bản sắc văn hóa độc đáo của dân tộc Việt
Nam; là truyền thống nhân nghĩa, hòa hiếu, thương người như thể thương thân,
biết chia sẻ ngọt bùi với chóm xóm, bè bạn gần xa lúc khó khăn cũng như khi

tinh thần bình đẳng, dân chủ, chống phân biệt đẳng cấp; là việc đề cao lao
động, chống lười biếng; là chủ trương sống không xa lánh việc đời mà gắn bó
với dân, với nước, tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh của nhân dân chống kẻ
thù dân tộc… Đến khi trở thành người mácxít, Hồ Chí Minh tiếp tục tìm hiểu
chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn, vì Người thấy trong đó “những điều
thích hợp với điều kiện của nước ta”.
Cùng với những tư tưởng triết học phương Đông, Hồ Chí Minh còn
nghiên cứu tiếp thu ảnh hưởng của nền văn hóa dân chủ và cách mạng phương
Tây. Người sớm làm quen với văn hóa Pháp, tìm hiểu các cuộc cách mạng ở
Pháp và ở Mỹ. Người trực tiếp đọc và tiếp thu các tư tưởng về tự do, bình đẳng
qua các tác phẩm của các nhà khai sáng như: Vonte, Rútxô, Môngtétxkiơ.
Người tiếp thu các giá trị của bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của
Đại cách mạng Pháp, các giá trị về quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu
hạnh phúc của Tuyên ngôn độc lập ở Mỹ năm 1776 nhưng Người không đi theo
con đường cách mạng tư sản vì cách mạng tư sản là cách mạng không đến nơi,
không triệt để, không đem lại hạnh phúc, tự do cho tất cả mọi người, nhất là
người lao động. 16

Nói tóm lại, trên hành trình cứu nước, Hồ Chí Minh đã tự biết làm giàu
trí tuệ của mình bằng vốn văn hóa của dân tộc kết hợp với trí tuệ của thời đại.
Người vừa tiếp thu, vừa gạn lọc, bổ sung và phát triển lên tầm cao mới, từ đó
mà suy ngẫm, lựa chọn, kế thừa và vận dụng vào thực tiễn của cách mạng Việt
Nam.
1.2.3. Chủ nghĩa Mác – Lênin, tiền đề lý luận cơ bản của tƣ tƣởng
Hồ Chí Minh về biện chứng giữa lý luận và thực tiễn
Chủ nghĩa Mác – Lênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa
học của tư tưởng Hồ Chí Minh.

viết: “Lúc đầu, chính chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã
đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”[43, 128].
Từ những nhận thức ban đầu về chủ nghĩa Lênin, Hồ Chí Minh đã tiến
dần tới những nhận thức “lý tính”, trở lại nghiên cứu chủ nghĩa Mác sâu sắc
hơn, để rồi tiếp thu học thuyết của các ông một cách chọn lọc, không rập khuôn
máy móc, không sao chép giáo điều. Người tiếp thu lý luận Mác – Lênin theo
phương pháp mácxít, nắm lấy cái tinh thần, cái bản chất. Người vận dụng lập
trường, quan điểm, phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin để giải
quyết những vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam, chứ không đi tìm
những kết luận có sẵn trong sách vở.
Như vậy, chủ nghĩa Mác – Lênin là tiền đề lý luận cơ bản của tư tưởng
Hồ Chí Minh, trong đó thế giới quan và phương pháp luận Mác – Lênin là cốt
lõi, giữ vai trò chủ đạo đã giúp Hồ Chí Minh tổng kết kiến thức và kinh nghiệm
thực tiễn để tìm ra con đường cứu nước, cứu dân. Người viết: “Trong cuộc đấu
tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác – Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần
tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng
được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới”[43, 128];
“Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất,
chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”[35, 268]; “Chính là do cố
gắng vận dụng những lời dạy của Lênin, nhưng vận dụng một cách sáng tạo,
phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay, mà chúng tôi đã chiến đấu và giành
được thắng lợi to lớn”[45, 476]. 18

1.2.4. Phẩm chất đặc biệt và hoạt động thực tiễn phong phú của Hồ
Chí Minh – nhân tố quyết định bản chất khoa học và cách mạng của tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh về biện chứng giữa lý luận và thực tiễn
Hồ Chí Minh là một con người sống có hoài bão lớn, có lý tưởng yêu

mệt mỏi. Đó là cuộc đời của những trải nghiệm từ tuổi thơ phải chịu cảnh nước
mất nhà tan, đắm mình trong phong trào đấu tranh cách mạng kiên cường, bất
khuất của cha anh. Từ địa vị một người dân mất nước, Người sang phương Tây
với mong muốn đem lại một làn gió mới cho dân tộc. Bước lên chuyến tàu
buôn của Pháp bắt đầu cuộc hành trình tìm kiếm những giá trị văn hóa mới,
không phải là Nguyễn Tất Thành – thân sĩ, trí thức mà là một người phụ bếp
Văn Ba. Với tư cách người lao động, Hồ Chí Minh đã sống với những người
cùng khổ trong xã hội tư bản để có thể hiểu được thực chất cái gì sau lá cờ “tự
do, bình đẳng, bác ái”. Có thể khẳng định rằng, rất ít nhà cách mạng có được
quá trình hoạt động thực tiễn phong phú như chủ tịch Hồ Chí Minh. Ba mươi
năm (1911 – 1941) liên tục hoạt động ở nước ngoài và hoạt động chủ yếu ở
những trung tâm văn minh, văn hóa phương Tây, Người có điều kiện tiếp thu
nhiều nền văn hóa khác nhau, thu nhận ở mỗi nước một thực tiễn sinh động.
Chính những khảo nghiệm thực tế đó khiến cho Hồ Chí Minh hiểu rằng chỉ có
hai loại văn hóa, văn hóa nô dịch, phản động của bọn thực dân và văn hóa tiến
bộ của giai cấp vô sản, cái gọi là “khai hóa văn minh” chỉ là khẩu hiệu lừa bịp,
thực chất đó là công cụ áp bức, bóc lột các dân tộc thuộc địa.
Sự kết hợp và thúc đẩy lẫn nhau giữa lý luận và thực tiễn đã khiến cho
Hồ Chí Minh trở thành một con người vô cùng uyên bác, vươn tới đỉnh cao của
tri thức nhân loại, hình thành những quan điểm lý luận hết sức toàn diện và sâu
sắc về sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn.
Mục tiêu đấu tranh giải phóng dân tộc, sự tác động mạnh mẽ của thời đại
và sự nhận thức đúng đắn về thời đại đã tạo điều kiện để Hồ Chí Minh hoạt
động có hiệu quả cho dân tộc và nhân loại. Có được điều đó là nhờ vào nhân
cách, phẩm chất và tài năng trí tuệ siêu việt của Hồ Chí Minh.
Phẩm chất, tài năng của Hồ Chí Minh được thể hiện trước hết ở tư duy
độc lập, tự chủ, sáng tạo, cộng với đầu óc phê phán tinh tường, sáng suốt trong
việc nhận xét, đánh giá các sự vật, sự việc xung quanh.

Trích đoạn Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh Nền kinh tế tập trung, bao cấp và vai trò lịch sử của nó Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa là một quá trình đổi mới tƣ duy lý luận của Đảng về kinh tế Những thành tựu về phát triển kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam sau 27 năm đổi mới và nguyên nhân của nó
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status