PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Ở Việt Nam cũng như các nước trên Thế Giới, các DNVVN có vai trò
cực kỳ quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi
nước. Cùng với việc đóng góp cho xã hội khối lượng hàng hóa lớn và giải
quyết nhiều việc làm cho người lao động, các DNVVN còn tạo nên nguồn thu
nhập ổn định cho một bộ phận dân cư, khai thác các nguồn lực và tiềm năng
tại chỗ của địa phương. Mặt khác, DNVVN giữ vai trò hỗ trợ bổ sung cho các
DN lớn tạo thành mối liên kết cùng hợp tác, cùng cạnh tranh và cùng nhau
phát triển.
Hiện nay, trong nền kinh tế các nước trên Thế Giới các DNVVN
thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số các DN. Ở nước ta số lượng các
DNVVN chiếm tỷ trọng khoảng 95,4% (nguồn kinh tế và dự báo T6/2007,
trang 21) theo tiêu chí dưới 300 lao động, đặc biệt trên địa bàn Đồng Tháp, là
một tỉnh Nông nghiệp thì số lượng đó càng cao hơn.
Đồng Tháp là một tỉnh thuộc ĐBSCL, là một vùng mạnh về Nông
nghiệp, thủy sản và cũng là nơi có nhiều tiềm năng về nguồn nguyên liệu nên
sự phát triển DNVVN lại càng được sự quan tâm của nhà nước và các cấp
chính quyền địa phương. Tuy nhiên, trong thời gian qua, sự phát triển và hoạt
động của DNVVN ở Đồng Tháp còn gặp nhiều khó khăn và chưa phát huy
được hết những tiềm năng của mình. Một trong những nguyên nhân của sự
khó khăn xuất phát từ chính sự yếu kém của các DNVVN như: chưa có hoạch
định chiến lược kinh doanh, vốn, marketing hỗn hợp, thương hiệu, trình độ kỹ
năng trong quản trị doanh nghiệp… và mặt khác là do cơ chế chính sách cũng
như sự hỗ trợ của nhà nước chưa rõ ràng và chưa được quan tâm thỏa đáng.
Do vậy, việc tìm ra hệ thống các giải pháp nhằm thúc đẩy phát DNVVN tại
1
tỉnh Đồng Tháp là vấn đề cấp bách và có ý nghĩa thực tiễn nhằm tận dụng
được những cơ hội do hội nhập Kinh Tế Quốc Tế mang lại khi nước ta đã trở
thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại Thế Giới WTO.
Xuất phát từ nhận thức trên, tôi chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm
1.1.1. Khái niệm DNVVN ở các nước trên thế giới:
Khái niệm DNVVN hiện nay ở các nước trên thế giới chỉ mang tính
chất tương đối, nó thay đổi theo từng giai đọan phát triển kinh tế xã hội từng
nước. Tiêu thức phân loại thường được sử dụng là: số lao động thường xuyên
với sản xuất doanh thu, lợi nhuận, giá trị gia tăng, nhưng hai tiêu thức thường
sử dụng nhất là : vốn và lao động. có nước chỉ dùng một tiêu thức, nhưng có
một số nước dùng một vài tiêu thức để xác định DNVVN. Một số nước dùng
tiêu thức chung cho tất cả các ngành nghề, nhưng cũng có một số nước lại
dùng tiêu thức riêng cho từng ngành nghề để xác định DNVVN.
Bảng 1: Tiêu thức xác định DNVVN ở một số nước trên Thế giới
Nước Phân loại
Số lao
động
Số vốn Doanh thu
Nhật Bản
Chế tác
Bán buôn
Bán lẻ
Dịch vụ
1 – 300
1 – 100
1 – 50
1 – 100
300 triệu yên
0 – 100 triệu yên
0 – 50 triệu yên
1 – 100 triệu yên
Thái Lan Công nghiệp nhỏ
Công nghiệp vừa
0 – 50
Công nghiệp
Dịch vụ
< 100
< 50
Australia
Chế tác nhỏ
Chế tác vừa
Dịch vụ nhỏ
Dịch vụ vừa
< 100
100 – 199
< 20
20 – 199
Hàn Quốc
Chế tác, khai thác
nhỏ,vận tải
Xây dựng
Thương mại và dịch vụ
0 – 300
0 – 200
0 – 20
Nguồn : GSTS Nguyễn Đình Hương(2002), giải pháp phát triển DNVVN,
NXB chính trị Quốc Gia.
Căn cứ vào tiêu thức xác định DNVVN nêu trên có thể khái quát thành
những quan niệm sau:
+ Quan niệm thứ nhất: tiêu chuẩn đánh giá xếp loại DNVVN phải gắn
với đặc điểm từng ngành đồng thời phải tính đến số lượng vốn và lao động
được thu hút vào hoạt động SXKD, Nhật Bản là nước theo quan niệm này.
+ Quan niệm thứ hai: tiêu chuẩn đánh giá xếp loại các DNVVN không
phân biệt theo ngành nghề mà chỉ cần căn cứ vào số lao động và vốn thu hút
sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành,
6
có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm
không quá 300 người”. Căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội của ngành, địa
phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể
linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai tiêu chí vốn và lao động hoặc một trong hai
tiêu chí đó.
Với những mục đích khác nhau và vào những thời điểm khác nhau nên
việc đưa ra những tiêu thức để phân loại, xác định DNVVN của các tổ chức,
cơ quan nhà nước và các cá nhân cũng khác nhau và cũng chỉ mang tính ước
lệ. Bản thân các tiêu chí đó chưa đủ để xác định thế nào là DN vừa và nhỏ ở
Việt Nam hiện nay. Như vậy, theo nghị định 90/2001/NĐ-CP khu vực
DNVVN ở Việt Nam bao gồm:
+ Các DNNN có qui mô vừa và nhỏ được thành lập và đăng ký theo
luật DNNN.
+ Các công ty CP, công ty TNHH, DNTN và HTX được thành lập và
hoạt động theo luật DN, luật HTX đáp ứng được hai hoặc một trong hai tiêu
thức mà nghị định 90/2001/NĐ-CP đưa ra.
+ Các DN có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập và hoạt động theo
luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đáp ứng được hai hoặc một trong hai tiêu
thức mà nghị định 90/2001/NĐ-CP đưa ra.
1.2. Kinh nghiệm phát triển DNVVN ở một số nước:
+Đài Loan:
- Nền Công Nghiệp của Đài Loan được đặc trưng chủ yếu bởi các xí
nghiệp vừa và nhỏ (chiếm tỷ lệ gần 90% tổng số doanh nghiệp ở vùng lãnh
thổ này). Ở Đài loan, loại xí nghiệp vừa và nhỏ tối thiểu phải có từ 5-10 công
nhân, vốn trung bình là 1,6 triệu USD là rất phổ biến.
7
- Các chính sách của chính quyền chủ yếu đặt mục tiêu là gia tăng khả
năng sản xuất của các DNVVN và cải thiện các hỗ trợ về tài chính, sản xuất,
thể hiện trước mắt là luật cơ bản về DNVVN năm 1993 (basic law on small
enterprises) qui định những vấn đề có tính nguyên tắc để hỗ trợ cho các doanh
nghiệp nhỏ hoạt động như nhà cung cấp các bộ phận cấu kiện cho các doanh
nghiệp lớn hoặc thực hiện hoạt động gia công.
Một trong những biện pháp quan trọng để hỗ trợ phát triển DNVVN là
khuyến khích mở rộng đầu tư, đồng thời cũng phải ghi nhận rằng Chính phủ
và các hiệp hội đã dành những khoảng kinh phí lớn cho chương trình hiện đại
hóa các DNVVN . Năm 1980, Nhật Bản đầu tư 243.375 tỷ yên, đến năm 2000
lên tới 2.129.239 tỷ yên, nhưng nguồn kinh phí của Chính phủ chỉ chiếm
12,6%, còn lại là của các hiệp hội, ngân hàng. Nguồn tài chính trên tập trung
trên bốn lĩnh vực chính:
1) Xúc tiến hiện đại hóa DNVVN; 2) Hiện đại hóa các thể chế quản lý
DNVVN; 3) Các hoạt động tư vấn cho DNVVN; 4) Các giải pháp tài chính
cho DNVVN. Về tổ chức Nhật Bản thiết lập “hội đồng các doanh nghiệp
nhỏ”, đây là tổ chức tư vấn trực thuộc Thủ tướng hoạt động chuyên cho các
DNVVN.
+HÀN QUỐC
Hàn Quốc cũng rất quan tâm đến phát triển DNVVN và coi đó như một
bộ phận của cơ cấu kinh tế. Để tạo cơ sở pháp lý cho sự tồn tại và phát triển
của các DNVVN cũng như sự ưu tiên hỗ trợ thúc đẩy phát triển các doanh
9
nghiệp này, Chính Phủ Hàn Quốc đã ban hành hàng loạt các sắc luật (12 sắc
luật) về DNVVN. Các sắc luật nhằm tập trung vào giải quyết các vấn đề sau:
Thiết lập khái niệm khung về DNVVN theo sắc luật cơ bản của Hàn
Quốc về DNVVN phân loại DNVVN theo 2 nhóm ngành.
+ Trong ngành chế tạo, khai thác, xây dựng, doanh nghiệp có vốn
đầu tư dưới 0,6 triệu USD và số lao động thường xuyên dưới 300. Nếu chỉ số
lao động dưới 20 người là doanh nghiệp nhỏ.
+Trong thương mại: DNVVN là có lao động dưới 5 người được coi
là nhỏ và từ 6-20 người là vừa.
thu của các doanh nghiệp cả nước tỷ trọng doanh thu của khu vực DNVVN
theo qui mô lao động (dưới 300 lao động) năm 2004-2006 là 81,5 % -86,5% .
Điều đó chứng tỏ các DNVVN có đóng góp lớn vào việc gia tăng sản lượng
và tăng trưởng kinh tế
Bảng 2: Tỷ trọng doanh thu DNVVN trong nền kinh tế:
Toàn bộ
doanh thu
Tỷ trọng
doanh thu
Chia ra theo quy mô lao động (%)
Dưới 5
người
Từ 5 –
200
người
Từ 200 –
300 người
2003 364.844 86,5 4,9 74,2 4,4
2004 485.104 82,0 4,2 70,6 7,3
2005 640.087 81,5 4,4 72,5 4,6
Nguồn: Tổng cục Thống kê năm 2006
Về đóng góp vào GDP :từ chổ tỷ lệ GDP của khu vực DNVVN không
đáng kể vào đầu những năm 1990, đến nay tỷ lệ này khoảng từ 24% đến
25,5%. Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực thì đây là mức thấp nhất.
11
+ Làm tăng hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế:
Sự ra đời của các DNVVN đã làm tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế.
Với sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh
vực sẽ làm giảm tính độc quyền và buộc các doanh nghiệp phải chấp nhận
cạnh tranh, phải liên tục đổi mới để tồn tại và phát triển. Với tính linh hoạt
Dựa vào ưu thế của mình, các DNVVN khởi sự thành lập với số vốn
nhỏ nhưng có khả năng thu hồi vốn nhanh, có khả năng hy vọng vốn tự có
hay vay mượn của bạn bè, thân nhân trong gia đình, sử dụng và tận dụng các
tiềm năng về nguồn vốn, lao động và nguyên vật liệu sẵn có tại chổ, theo ước
tính vốn đầu tư của DNVVN chiếm tới 70% vốn đầu tư toàn xã hội. Các
DNVVN do ít vốn, quản lý đơn giản, linh hoạt và dễ thích nghi với điều kiện
biến đổi của thị trường nên thường được thành lập và hoạt động tại địa
phương có nguồn nguyên liệu tại chổ hay vùng phụ cận để dễ dàng sử dụng,
dễ được cung cấp với giá rẽ và đỡ tốn chi phí vận chuyển. Do vậy, các
DNVVN có khả năng sản xuất một khối sản phẩm, dịch vụ tương đối lớn đáp
ứng cho nhu cầu của xã hội với giá rẽ hơn và thuận lợi hơn.
+DNVVN là nhân tố quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ
cấu từ nông ngiệp và sản xuất nhỏ lên nền sản xuất CNH-HĐH.
Việc nhiều doanh nghiệp, chủ yếu là các DNVVN được thành lập tại
các vùng nông thôn, vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, sẽ làm giảm tỷ trọng
ngành nông nghiệp và tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ. Mặc khác,
sau một thời gian thành lập và hoạt động, các doanh nghiệp làm ăn thuận lợi
đều có xu hướng phát triển bằng cách nâng cao năng lực sản xuất nhằm đáp
13
ứng nhu cầu thị trường và trong những điều kiện thuận lợi nhất định các
DNVVN có thể từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn và từ tận dụng máy móc thiết
bị cũ, sữa chữa lại tiến tới đổi mới trang thiết bị, cải tiến hệ thống dây chuyền
sản xuất, đào tạo lại người lao động nhằm nâng cao tay nghề, nâng cao năng
lực trình độ quản lý. Sự đổi mới tới mức độ nào đó nhất định sẽ dẫn đến đổi
mới công nghệ, điều đó góp phần vào quá trình CNH-HĐH đất nước trên cả
chiều rộng lẫn chiều sâu.Việc phát triển các DNVVN cũng đưa đến việc tổ
chức lại sản xuất, hợp lí hoá sự phân công hợp tác xã hội.
+DNVVN là tiền đề tạo ra một môi trường văn hoá kinh doanh
mang tính kinh tế thị trường, tạo ra những nhà kinh doanh giỏi.
Đây là điều rất cần thiết đối với Việt Nam hiện nay. Chúng ta đã ở
phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh chính của các DNVVN. Bên cạnh
đó các DNVVN cũng tạo ra một số lượng công việc thời vụ rất lớn, mà có thể
sử dụng nguồn lao động nhàn rỗi ở mỗi gia đình góp phần tạo ra thu nhập cho
các hộ gia đình, nhất là các ngành nghề truyền thống như: thủ công mỹ nghệ,
mây tre đan lát, dệt chiếu, đồ gốm …Đặc biệt tỉnh Đồng Tháp là vùng có
nguồn nguyên liệu rất dồi dào, rõ ràng sự phát triển của các DNVVN có vai
trò rất lớn trong việc tạo ra nhiều công ăn việc làm và giải quyết nạn thất
nghiệp cho người dân tại tỉnh Đồng Tháp.
Hai là: DNVVN có vai trò quan trọng trong quá trình CNH-HĐH
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương.
Quá trình phát triển DNVVN cũng là quá trình cải tiến máy móc thiết
bị, nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu thị
trường dẫn đến nhu cầu đổi mới công nghệ, mở rộng các mối quan hệ giữa
cung ứng và tiêu thụ, từ đó phát triển thêm nhiều ngành nghề mới làm cho
quá trình CNH-HĐH đất nước không chỉ ở chiều sâu mà ở cả chiều rộng.
Trong những năm gần đây được sự hỗ trợ của Sở khoa học công nghệ trong
15
việc đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp, có nhiều doanh nghiệp trên địa bàn được trang bị và xây dựng
hệ thống quản lý chất lượng như ISO 9001:2000, HACCP, GMP …Tương tự
các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực gạch ngói được trang bị công nghệ lò nung
Hoffman công nghệ Đức, giải quyết ô nhiễm môi trường.
Ba là: phát triển DNVVN tạo điều kiện tận dụng triệt để các nguồn
lực xã hội.
DNVVN thường được bắt đầu từ một nguồn vốn rất hạn hẹp và chủ yếu
từ người dân, ít có sự trợ giúp từ bên ngoài. Vốn đầu tư cho các DNVVN
thường vài ba trăm triệu, thậm chí chưa đến một trăm triệu, vì vậy nó có khả
năng thu hút vốn từ một số ngành nghề trong dân cư rất lớn. Hơn nữa, có một
số ngành nghề mà chỉ có khu vực DNVVN hoạt động thì mới có hiệu quả cao
như các ngành nghề truyền thống, sử dụng tay nghề độ tinh xảo như: nghề
động của thị trường
Sự hình thành, tồn tại và phát triển của DNVVN rất nhạy cảm với bối
cảnh quốc tế. Nó phản ứng nhanh trước sự chuyển biến mạnh về sản phẩm,
dịch vụ, quy trình sản xuất và thị trường. Những năm gần đây do sự phát
triển nhanh của sản phẩm thủy sản đông lạnh, thức ăn thủy sản, số lượng
doanh nghiệp thuộc lĩnh vực này tăng rất nhanh, nếu như năm 2006 có 179
đơn vị với sản lượng 133.622 tấn, trong đó có 47.568 tấn cho xuất khẩu thì
đến năm 2007 đã có 239 đơn vị với sản lượng 241.707 tấn, trong đó xuất khẩu
đạt 119.129 tấn.
17
DNVVN có khả năng khai thác những khoảng trống của thị trường
như: có thể nhận thầu, ủy thác lại các doanh nghiệp lớn và có thể hoạt động ở
nhiều lĩnh vực : công nghiệp, dịch vụ, thương mại, bán lẽ, vận tải …
Bảy là: DNVVN đã và đang góp phần đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện
được một đội ngũ những nhà doanh nghiệp làm ăn thành đạt ngày càng
gia tăng.
Thông qua thực tiễn kinh doanh, thông qua thực tế của thương trường
mà các doanh nghiệp sẽ được đào tạo, tôi luyện và sàn lọc để ngày càng tạo ra
được nhiều nhà doanh nghiệp, nhiều cán bộ quản lý có chất lượng cho tỉnh và
cho cả nước. Có những doanh nghiệp giữ quy mô hoạt động vừa và nhỏ của
mình bởi vì nó phù hợp với khả năng kinh doanh và ngành nghề đang theo
đuổi, nhưng cũng có doanh nghiệp phát triển lên thành doanh nghiệp lớn. Dù
ở quy mô nào, DNVVN cũng là vườn ươm nhân tài cho công cuộc phát triển
kinh tế của đất nước. Phải xóa bỏ mọi sự kỳ thị, phân biệt hoặc đối xử với
doanh nhân nhất là doanh nhân trong khu vực dân doanh. Đây là những người
rất đáng tôn vinh vì họ dũng cảm bỏ vốn đầu tư kinh doanh trong điều kiện
nhiều khó khăn bất trắc hiện nay.
Nói tóm lại, DNVVN hiện có vai trò rất quan trọng trong việc góp phần
thúc đẩy sự tăng trưởng, phát triển kinh tế xã hội của mỗi Quốc gia trên Thế
Giới, cũng như tại Việt Nam nói chung hay tỉnh Đồng Tháp nói riêng. Sự phát
được chia thành : một Thành Phố Cao Lãnh, một Thị Xã
Sađéc và 9 huyện. Đồng Tháp có đường biên giới quốc gia dài 52 km với 4
19
cửa khẩu, có cảng Đồng Tháp nối tỉnh với Campuchia và biển Đông, vị trí
trên đã tạo cho tỉnh cơ hội để phát triển nền kinh tế mở, hướng tới xuất khẩu.
Đồng Tháp nằm gần địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam (TP.HCM-
Bình Dương-Đồng Nai-Bà Rịa Vũng Tàu), một vùng kinh tế rất quan trọng ở
phía Nam và cả nước, là vùng cung cấp các sản phẩm công nghiệp, đồng thời
là vùng tiêu thụ sản phẩm nông thủy sản lớn của vùng ĐBSCL. Nếu phương
án phát triển giao thông vùng ĐBSCL và Đồng Tháp Mười của Chính phủ
sớm triển khai như: xây dựng quốc lộ N1, đường Hồ Chí Minh, cầu Cao
Lãnh, cầu Vàm Cống, mở rộng quốc lộ 54, thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho
Đồng Tháp Mười gắn chặt chẽ với các tỉnh ĐBSCL, TP.HCM và địa bàn
trọng điểm phía Nam.
2.1.1.2. Dân số và lao động
Dân số của tỉnh Đồng Tháp năm 2007 có khoảng 1.667.804 người,
chiếm khoảng 9,54% so với dân số ĐBSCL và khoảng 2,07% so với cả nước,
là một trong những tỉnh có dân số khá đông của ĐBSCL, với tỷ lệ tăng dân số
tự nhiên bình quân mỗi năm trên 50.000 người. Khu vực thành thị 287.871
người (chiếm 17,2%), nông thôn là 1.379.933 người (chiếm 82,8%), giới tính
nam là 813.404 (chiếm 48,7%), nữ là 850.340 (chiếm 51,3%).
Bảng 4: Dân số trung bình phân theo huyện thị, Thành phố năm 2007
ĐVT: Người
Phân giới tính Phân theo vùng
Nam Nữ Thành
thị
Nông
thôn
Thành phố Cao Lãnh 151.027 73.498 77.529 86.374 64.653
Thị Xã Sađéc 103.211 50.211 53.000 68.118 35.093
Ngành khác 97.324 112.723 139.395 147.299
Tổng 778.352 812.189 857.832 895.812
Nguồn: niên giám thống kê tỉnh Đồng Tháp năm 2007
2.1.1.3. Thuận lợi và khó khăn
21
+ Thuận lợi:
Đồng Tháp có một phần đường biên giới Quốc Gia Việt Nam-
Campuchia, là một con đường vận chuyển hàng hóa đi vào Campuchia ngắn
nhất trong khu vực ĐBSCL, với cửa khẩu Dinh Bà đã trở thành cửa khẩu cấp
quốc tế và thành lập khu kinh tế cửa khẩu, nên cơ hội trao đổi thương mại
trực tiếp với các địa phương của bạn rất thuận lợi.
Hàng năm tỉnh có một lượng lớn phù sa bồi đắp nên đất đai phần lớn
màu mỡ phì nhiêu, thuận lợi cho việc đa dạng hóa cây trồng và nuôi trồng
thủy sản, được xem là một vựa lớn về lúa, nông sản, thủy sản của cả nước,
cung cấp tiêu thụ nội tỉnh, trong nước và quốc tế. Do vậy tỉnh có nhiều cơ hội
phát triển công nghiệp chế biến nông sản, thủy sản cho hiện tại và tương lai.
Nguồn lao động dồi dào với tiền lương thấp, gắn bó với địa phương,
nếu được đào tạo và đào tạo lại một cách quy củ từ khâu học văn hóa đến
khâu học nghề thì nguồn lao động của tỉnh có thể đối mặt với những thách
thức của quá trình đổi mới, phát triển đi lên vững chắc.
Chính sách thu hút vốn đầu tư của tỉnh thông thoáng và năng động, tỉnh
đã ban hành một số cơ chế, chính sách khuyến khích để tạo mọi điều kiện để
các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế có thể phát triển sự nghiệp của
mình trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp.
+ Khó khăn:
Điểm xuất phát của nền kinh tế tỉnh thấp, cơ cấu kinh tế còn mang nặng
thuần nông, khả năng thu hút vốn kể cả trong và ngoài nước khó khăn, mặc
dù tỉnh có những chính sách, cơ chế rất linh hoạt, nhưng do hạ tầng cơ sở còn
trong tình trạng yếu kém, thiếu đồng bộ, chưa đủ đáp ứng cho nền kinh tế sản
xuất hàng hóa và phát triển dịch vụ trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của thị
kế hoạch. Như vậy, khu vực công nghiệp xây dựng và thương mại dịch vụ có
tốc độ tăng trưởng vượt cao, có ảnh hưởng quyết định đến tốc độ tăng trưởng
GDP năm 2007. Tuy nhiên, khu vực nông lâm thủy sản mặc dù có tốc độ tăng
trưởng thấp hơn hai khu vực còn lại nhưng do chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu
GDP nên vẫn giữ vai trò quan trọng.
Để GDP năm 2007 có được tốc độ tăng trưởng cao, trước hết là ngành
công nghiệp có thêm một số dự án mới đi vào hoạt động trong năm. Bên cạnh
đó, các dự án đi vào hoạt động năm 2006 tiếp tục tăng cường khai thác công
suất tạo tốc độ vượt bậc của ngành công nghiệp nói riêng và GDP của tỉnh nói
chung. Thứ hai, là sự phát triển mạnh mẽ của ngành thủy sản với sản lượng
226 ngàn tấn, tăng 42,73% so với năm 2006, vừa cung cấp nguyên liệu cho
ngành chế biến, vừa duy trì mũi nhọn tăng trưởng cho khu vực nông lâm thủy
sản. Thứ ba, là sự phát triển của các ngành sản xuất đã tạo nhu cầu và cơ hội
cho sự phát triển của các hoạt động thương nghiệp, dịch vụ, đặc biệt là các
dịch vụ vận tải, tài chính, tín dụng … đã tạo ra tốc độ tăng trưởng cao cho
toàn khu vực thương maị dịch vụ.
Với tốc độ tăng trưởng trên cơ cấu kinh tế của tỉnh có sự chuyển dịch
theo hướng tăng mạnh ngành công nghiệp xây dựng và thương mại dịch vụ,
giảm tương đối ngành nông lâm thủy sản. Nhưng sự chuyển dịch còn chậm,
nông nghiệp vẫn còn ở mức cao. Nếu theo giá cố định 1994 thì khu vực nông
lâm thủy sản chiếm tỷ trọng 51,48% giảm 3,26% so với năm 2006, khu vực
công nghiệp xây dựng chiếm tỷ trọng 19,17%, tăng 2,31% và khu vực thương
mại dịch vụ chiếm tỷ trọng 29,35%, tăng 1,15% so với năm 2006.
2.2. Thực trạng hoạt động DNVVN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp trong
thời gian qua
24
2.2.1. Về số lượng doanh nghiệp
Hiện nay ở tỉnh Đồng Tháp có 1.005 doanh nghiệp vừa và nhỏ đang
hoạt động, chia theo ngành nghề có 12 đơn vị sản xuất nông lâm thủy sản,
510 đơn vị sản xuất công nghiệp xây dựng, 483 đơn vị thương mại dịch vụ.
5
12
496
11
131
11
343
2
11
472
9
48
29
386
23
980
22
184
40
734
2
2,3
97,5
2,2
18,3
4,0
73,0
0,2
Tổng 12 510 483 1.005 100,0
Nguồn: Số liệu điều tra DNVVN của cục Thống kê tỉnh Đồng Tháp năm 2007