ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VÕ THỊ MỸ DUYÊN
PHÁT TRIỂN VÀ TỔ CHỨC KHAI THÁC
NGUỒN LỰC THÔNG TIN TẠI THƢ VIỆN
TỈNH BÌNH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC THÔNG TIN THƢ VIỆN
Chuyên ngành: Khoa học thông tin thư viện
Mã số: 60 32 02 03
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC THÔNG TIN THƢ VIỆN NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. LÊ VĂN VIẾT
HÀ NỘI - 2013 iii
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ
Luận văn đã chỉnh sửa theo ý kiến đóng góp của Hội đồng chấm luận văn
LỜI CẢM ƠN Để có đƣợc bản luận văn nhƣ hôm nay, tôi đã nhận đƣợc rất nhiều sự giúp đỡ
nhiệt tình của các cơ quan, các cấp lãnh đạo và cá nhân. Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn
và sự kính trọng tới tất cả tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá
trình học tập và nghiên cứu.
Trƣớc hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Lê Văn Viết ngƣời đã
hƣớng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Thông tin - thƣ viện Trƣờng
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, Phòng sau đại học Trƣờng Đạị học
Sài Gòn cùng các đơn vị liên quan của Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn Hà Nội và Đại học Sài Gòn: những ngƣời đã trang bị cho tôi những kiến thức
quý báu để giúp tôi hoàn thành công trình này. Tôi cũng xin trân trọng gửi lời cảm
ơn đến các thầy, cô đã truyền những kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập.
Đồng thời Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các cô, chú, anh, chị
đang công tác tại Thƣ Viện Tỉnh Bình Thuận đã giúp đỡ, cung cấp tƣ liệu và tạo
mọi điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn.
Cuối cùng Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động
viên chia sẻ, giúp đỡ nhiệt tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành
luận văn. Tác giả
Võ Thị Mỹ Duyên
Khái niệm nguồn lực thông tin
7
1.1.2
Vai trò của công tác phát triển và tổ chức khai thác nguồn
lực thông tin
12
1.1.3
Tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác phát triển và tổ chức
khai thác nguồn lực thông tin
14
1.2
Khái quát về thƣ viện tỉnh Bình Thuận
17
1.2.1
Sơ lƣợc lịch sử ra đời và phát triển thƣ viện Tỉnh
17
1.2.2
Chức năng nhiệm vụ
19
1.2.3
Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ
21
1.2.4
Cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin
24
1.3
Đặc điểm nguồn lực thông tin tại thƣ viện Tỉnh Bình Thuận
25
1.3.1
Nguồn lực thông tin truyền thống
Nguồn bổ sung
36
2.1.3
Kinh phí bổ sung
38
2.1.4
Quy trình bổ sung
40
2.1.5
Thanh lọc, thanh lý tài liệu
43
2.1.6
Liên thông và chia sẻ nguồn lực thông tin
44
2.2.
Thực trạng công tác tổ chức khai thác nguồn lực thông tin
45
2.2.1
Tổ chức khai thác thông tin truyền thống
46
2.2.2
Tổ chức khai thác thông tin hiện đại
53
2.3
Đánh giá hiệu quả công tác phát triển và tổ chức khai thác
nguồn lực thông tin
57
2.4
Nhận xét chung
64
Thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với ngƣời dùng tin
72 vii
3.2.3
Nâng cao chất lƣợng tổ chức khai thác nguồn lực thông tin
73
3.2.4
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin
74
3.2.5
Truyền thông marketing
77
3.2.6
Đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ thông tin
79
3.3
Phát huy yếu tố con ngƣời
83
CNH-HĐH: Công nghiệp hoá- hiện đại hoá
CNTT : Công nghệ thông tin
CONSORTIUM: Liên hợp thƣ viện
CQTTTV: Cơ quan thông tin thƣ viện
CSDL: Cơ sở dữ liệu
DL: Dữ liệu
ĐKTQ: Đăng ký tổng quát
KHTH: Khoa học tổng hợp
MĐNB&CNTB: Miền Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ
NCC: Nhà cung cấp
NLTT: Nguồn lực thông tin
NXB: Nhà xuất bản
TDTT: Thể dục Thể thao
THPT: Trung học phổ thông
TL: Tài liệu
TT-TV: Thông tin - Thƣ viện
TV: Thƣ vịên
OPAC: Hệ thống các mục lục tra cứu trực tuyến (Online Public Access
Catalog)
QĐ: Quyết định
UB: Ủy ban
UBNN: Ủy ban Nhân dân
UNESCO: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
(United Nations Educational Scientific and Cultural Organization)
VHTT: Văn hóa Thể thao
VHTTDL: Văn hóa thể thao du lịch
58
Bảng 2.9. Khảo sát nhu cầù khai thác thông tin theo ngôn ngữ
58
Bảng 2.10. Khảo sát mức độ đáp ứng nhu cầu tin tại Thƣ viện tỉnh Bình Thuận
59
Bảng 2.11. Khảo sát mức độ cập nhật của nguồn lực thông tin tại Thƣ viện tỉnh
Bình Thuận
60
Bảng 2.12. Khảo sát mức độ tin tƣởng của nguồn lực thông tin tại Thƣ viện tỉnh
Bình Thuận
60
Bảng 2.13. Đánh giá của ngƣời dùng tin về hệ thống tra cứu
Bảng 2.14. Đánh giá của ngƣời dùng tin về hiệu quả của các hình thức phục
Bảng 2.15. Khảo sát về thái độ phục vụ của nhân viên tại Thƣ viện tỉnh Bình Thuận
61
62
63
Hình 1.1. Giao diện webside của Thƣ viện Tỉnh Bình Thuận
17
Hình 1.2. Sơ đồ tổ chức bộ máy hoạt động của thƣ viện Tỉnh Bình Thuận
23
Hình 2.1. Giao diện mục lục tra cứu điện tử 1
48
Hình 2.2. Giao diện mục lục tra cứu điện tử 2
49
Hình 2.3. Giao diện mục lục tra cứu tài liệu số hóa 1
55
Hình 2.4. Giao diện mục lục tra cứu điện tử 2
55
ngày, từng giờ. Muốn tiếp cận có chọn lọc hiệu quả nguồn thông tin khổng lồ hiện
nay là một điều rất khó khăn với mỗi ngƣời dùng tin, nó cần phải có sự định hƣớng
từ các trung tâm thông tin-thƣ viện, chỉ có tại những trung tâm thông tin – thƣ viện
2
chúng ta mới nhận đƣợc những nguồn thông tin đáng tin cậy, có giá trị cao. Xuất
phát từ tình hình thực tế này, Thƣ Viện Tỉnh Bình Thuận đang cố gắng hoàn thiện
hơn, phát triển nguồn thông tin có giá trị và tổ chức khai thác tốt hơn nhằm phục vụ
cho nhu cầu phát triển văn hóa, kinh tế, chính trị của Tỉnh nhà nói riêng và tất cả
ngƣời dùng tin nói chung.
Với nội dung là “Phát triển và tổ chức khai thác nguồn lực thông tin tại
Thƣ Viện Tỉnh Bình Thuận” tôi xin phép đƣợc chọn đây là đề tài nghiên cứu
trong luận văn tốt nghiệp Cao học chuyên ngành khoa học thƣ viện của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Từ trƣớc đến nay đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về nguồn lực thông tin
trong các cơ quan thông tin thƣ viện. Đặc biệt Trong nƣớc có một số luận văn , khóa
luận, sách đề cập đến vấn đề phát triển, tổ chức khai thác nguồn lực thông tin và một
số đề tài nghiên cứu về Thƣ Viện Tỉnh Bình Thuận nhƣ:
- Nguyễn Thị Quỳnh Lê (2009), Xây dựng và khai thác nguồn lực thông tin
tại doanh nghiệp truyền thông Vĩ An, Luận văn thạc sĩ khoa học Thƣ viện, Đại
học KHXH & NV Hà Nội, Hà Nội.
- Phạm Thanh Bình (2010), Nghiên cứu phát triển và khai thác nguồn lực
thông tin tại trung tâm thông tin thư viện trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội, Luận
văn thạc sĩ khoa học Thƣ viện, Đại học Văn Hóa Hà Nội, Hà Nội.
- Nguyễn Đức Hào (2004), Tổ chức quản lý và khai thác nguồn lực thông tin
ở Học viện Chính trị quân sự, Luận văn thạc sĩ khoa học Thƣ viện, Trƣờng Đại
học Văn hoá Hà Nội, Hà Nội.
- Hà Thị Huệ (2005), Tăng cường nguồn lực thông tin tại Thư viện Trường
- Nguyễn Hữu Hùng (2005), “Phát triển thông tin khoa học và công nghệ trở
thành nguồn lực”, Tạp chí Thông tin & Tư liệu, (1), tr. 2-7.
- Tạ Bá Hƣng (1998), “Tổ chức quản lý hoạt động thông tin khoa học công
nghệ ở các tỉnh/thành phố trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá”, Tạp chí
Thông tin & Tư liệu, (1), tr. 1-4.
4
Tuy nhiên, cho đến nay, chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện
về công tác phát triển và tổ chức khai thác nguồn lực thông tin tại thƣ viện Tỉnh Bình
Thuận.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận liên quan đến phát triển và tổ chức khai thác
nguồn lực thông tin, khảo sát phân tích thực trạng nguồn lực thông tin và khả năng
đáp ứng nhu cầu ngƣời dùng tin tại Thƣ Viện Tỉnh Bình Thuận trong tình hình đổi
mới đất nƣớc, đề xuất những giải pháp nâng cao chất lƣợng công tác phát triển và
khai thác nguồn tin tại Thƣ Viện Tỉnh Bình Thuận, phục vụ hiệu quả cho hoạt động
phát triển văn hóa kinh tế xã hội.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lý luận chung về nguồn lực thông tin, các yếu tố ảnh hƣởng
tới công tác phát triển và tổ chức khai thác nguồn lực thông tin tại Thƣ Viện Tỉnh
Bình Thuận.
- Nghiên cứu thực trạng công tác phát triển và tổ chức khai thác nguồn lực
thông tin tại Thƣ Viện Tỉnh Bình Thuận, đánh giá kết quả của quá trình xây dựng và
khai thác nguồn lực thông tin.
- Đề xuất các giải pháp phát triển và tổ chức khai thác nguồn lực thông tin tại
Thƣ Viện Tỉnh Bình Thuận.
- Điều tra, phỏng vấn, trao đổi trực tiếp.
7. Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài
Về mặt khoa học
- Góp phần làm rõ hơn khái niệm và những vấn đề chung về phát triển và tổ
chức khai thác nguồn lực thông tin.
- Góp phần làm định hƣớng cho các công trình nghiên cứu về phát triển và tổ
chức khai thác nguồn lực thông tin.
Về mặt ứng dụng
- Góp phần nhận dạng đƣợc công tác phát triển và tổ chức khai thác nguồn lực
thông tin tại thƣ viện để đƣa ra giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động tại thƣ viện.
6
- Giúp cho Thƣ Viện Tỉnh Bình Thuận nâng cao chất lƣợng công tác phát triển
và tổ chức khai thác nguồn lực thông tin, thúc đẩy hoạt động công nghiệp hóa hiên
đại hóa của Tỉnh
- Là tài liệu tham khảo đối với các cơ quan thông tin thƣ viện trong quá trình
hoạt động.
8. Dự kiến kết quả nghiên cứu
- Dự kiến kết quả nghiên cứu của đề tài gồm ba chƣơng, với số trang khoảng
100, bàn về hai vấn đề: phát triển và tổ chức khai thác nguồn lực thông tin tại Thƣ
Viện Tỉnh Bình Thuận.
- Với kết quả nghiên cứu của đề tài này sẽ là tài liệu tham khảo, giúp Thƣ Viện
Tỉnh Bình Thuận sẽ xây dựng đƣợc nguồn lực thông tin đảm bảo về số lƣợng và
chất lƣợng, để phục vụ cho toàn thể nhân dân trong tỉnh nói riêng và tất cả ngƣời
dùng tin nói chung. Từ nguồn lực thông tin này thƣ viện sẽ tạo ra nhiều sản phẫm,
dịch vụ thông tin tốt hơn, nhanh hơn, tiết kiệm đƣợc nhiều kinh phí trong việc thu
thập thông tin
- Đồng thời với kết quả nghiên cứu này Thƣ Viện Tỉnh Bình sẽ phát huy tốt
phải xây dựng, bổ sung, phát triển NLTT của cơ quan mình nhƣ thế nào để từ đó có
thể tổ chức khai thác thông tin một cách nhanh chóng, chính xác, đầy đủ là một câu
hỏi mà tất cả các thƣ viện và cơ quan thông tin cần phải nghiên cứu và trả lời. Nhƣ
đã nói một cơ quan thông tin - thƣ viện muốn hoạt động có hiệu quả, trƣớc tiên cần
phải phụ thuộc vào chất lƣợng, sự đầy đủ, phong phú và đa dạng của nguồn lực
thông tin. Vậy nguồn lực thông tin là gì?
Hiện nay NLTT là một định nghĩa rất phổ biến trong mọi ngành nghề của xã
hội, thuật ngữ này dịch từ thuật ngữ tiếng Anh "Information Resource". Đây cũng là
thuật ngữ mà nội hàm của nó chƣa đƣợc xác định một cách rõ ràng [25], có rất
nhiều khái niệm về nguồn lực thông tin trong các tài liệu khác nhau, nhƣng nhìn
chung hầu nhƣ khái niệm về nguồn lực thông tin đƣợc hiểu với hai nghĩa nhƣ sau:
Một số ngƣời cho rằng nguồn lực thông tin đƣợc hiểu là bao gồm cả bốn yếu
tố nhân lực, tin lực, tài lực, vật lực, tức là tổng hợp các yếu tố cơ sở vật chất kĩ thuật
hạ tầng; nguồn kinh phí; đội ngũ cán bộ phục vụ và ngƣời dùng tin có trình độ;
nguồn tin đầy đủ về số lƣợng, phong phú đa dạng về hình thức nhằm hoàn thành
chức năng, nhiệm vụ và nâng cao hiệu quả phục vụ ngƣời dùng tin. Bên cạnh đó
8
cũng có cách hiểu khác cho rằng nguồn lực thông tin (information resources) là tập
hợp có tổ chức các loại hình tài liệu dƣới mọi định dạng khác nhau của một cơ quan
thông tin, thƣ viện nhằm đáp ứng nhu cầu của ngƣời dùng tin [15].
Trong phạm vi luận văn này, NLTT đƣợc tác giả hiểu theo cách thứ hai,
nguồn lực thông tin đƣợc hiểu nhƣ là tổ hợp các tin nhận đƣợc và tích luỹ đƣợc
trong quá trình phát triển khoa học và hoạt động thực tiễn của con ngƣời, để sử
dụng nhiều lần trong sản xuất và quản lý xã hội. Nguồn lực thông tin phản ánh các
quá trình và hiện tƣợng tự nhiên đƣợc ghi nhận trong kết quả của các công trình
nghiên cứu khoa học và trong các dạng tài liệu khác của hoạt động nhận thức và
thực tiễn [25]. Nguồn lực thông tin bao gồm các dữ liệu thể hiện dƣới dạng văn bản,
dữ liệu số, hình ảnh hoặc âm thanh đƣợc ghi lại trên các phƣơng tiện theo quy ƣớc
tốt nhất.
Nhân lực: Có thể nói rằng chủ thể con ngƣời có quyết định chủ yếu tới thành
bại của mọi công việc, công tác phát triển và tổ chức khai thác nguồn thông tin cũng
không nằm ngoài thực tế trên. Yếu tố nhân lực ở đây theo tác giả là bao gồm cả
nhân viên và ngƣời dùng tin tại Thƣ Viện Tỉnh Bình Thuận. Mỗi cán bộ thƣ viện
phải có hiểu biết về chuyên môn nghiệp vụ, có tƣ duy để nhìn nhận quá trình hoạt
động của thƣ viện nhằm phục vụ ngƣời dùng tin tốt nhất. Đổi mới và nâng cao chất
lƣợng phục vụ luôn luôn đƣợc lãnh đạo cùng cán bộ, nhân viên tại Thƣ viện quan
tâm và xem đó là kim chỉ nam để đƣa thƣ viện phát triển hơn. Nếu một thƣ viện có
nguồn nhân lực đƣợc đảm bảo đầy đủ về số lƣợng và chất lƣợng thì đó là tiền đề tốt,
để có thể tạo ra các phòng phục vụ mới phù hợp với tình hình thực tế của cơ quan,
đáp ứng đầy đủ nhu cầu của ngƣời dùng tin. Đồng thời một nguồn nhân lực tốt có
thể tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ thông tin thƣ viện hơn, làm phong phú nguồn lực
thông tin phục vụ nhu cầu tin tốt nhất. Chính nhờ có nguồn nhân lực mà Thƣ viện
có thể thực hiện đƣợc nhiều công tác, để duy trì hoạt động sống của cả Thƣ viện nói
chung và hoạt động của từng phòng ban nói riêng, trong đó có phát triển và tổ chức
khai thác nguồn lực thông tin. Để minh chứng cho vai trò của yếu tố này, ngƣời
dùng tin có thể thấy toàn thể các cán bộ, công nhân viên làm việc tại Thƣ Viện Tỉnh
Bình Thuận đã không ngừng lao động, học tâp nhằm phát triển cơ quan mình. Thƣ
viện thƣờng xuyên tổ chức các cuộc khảo sát, phỏng vấn trực tiếp, lấy ý kiến thăm
dò từ tất cả các thành phần bạn đọc tại Thƣ viện. Để từ đó biết đƣợc nhu cầu tất
10
yếu của họ, kịp thời bổ sung sách và các tài liệu mới, hạn chế bổ sung số sách trùng
bản, tăng cƣờng chất lƣợng kho sách, xây dựng thêm nhiều sản phẩm, dịch vụ mới.
Và cũng chính nhờ có nguồn nhân lực mà các phòng ban đƣợc bố trí phù hợp hơn,
phục vụ tốt hơn. [4]
Vật lực: Để nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến công tác phát triển và tổ
chức khai thác nguồn lực thông tin, thì yếu tố vật lực tức là cơ sở vật chất, hạ tầng
vụ ngƣời dùng tin, để phát triển và tổ chức nguồn thông tin tại thƣ viện mình phù
hợp nhất. Nếu một thƣ viện có cơ cấu các bộ phận phục vụ ngừoi dùng đa dạng,
đƣợc tổ chức nhiều loại hình thì cần phải có nguồn lực thông tin đủ mạnh để phục
vụ nhu cầu đa dạng của ngƣời dùng tin.
Chính sách phát triển nguồn lực thông tin: Chính sách bổ sung cũng là yếu
tố quan trọng quyết định chất lƣợng phát triển nguồn lực thông tin.Với vai trò mới
của một cơ quan thông tin thƣ viện ngày nay trong kỷ nguyên thông tin, thƣ viện
không chỉ là một cơ quan cung cấp thông tin mà nơi hƣớng dẫn, định hƣớng thông
tin tốt nhất cho mọi ngƣời. Vì vậy mỗi một cơ quan thông tin thƣ viện cần phải có
nguồn lực thông tin đủ mạnh để đảm bảo phục vụ tốt nhất. Để làm đƣợc điều này
chúng ta cần phải chú ý đến công tác xây dựng chính sách phát triển nguồn lực
thông tin, điều mà các thƣ viện trên thế giới đã và đang làm rất tốt, trong khi các thƣ
viện tại Việt Nam thì hầu nhƣ chƣa thực hiện đƣợc. Xây dựng chính sách phát triển
nguồn lực thông tin chính là xác định những nhu cầu trƣớc mắt và lâu dài của ngƣời
dùng tin, đặt ra những ƣu tiên trong sự phân bố kinh phí sao cho phù hợp nhất.
Đồng thời đƣa ra các tiêu chuẩn để thanh lọc thanh lý tài liệu và các tiêu chí để bổ
sung tài liệu cũng nhƣ xây dựng các sản phẫm và dịch vụ thông tin tại cơ quan
mình, trên cơ sở đó làm giảm tính chủ quan của nhân viên thƣ viện khi lựa chọn tài
liệu nhằm đảm bảo sự hài hòa cân đối giữa các loại hình tài liệu và tính nhất quán,
liên tục trong các giai đoạn phát triển nguồn lực thông tin.
Công tác xuất bản – phát hành: Công tác xuất bản - phát hành có vai trò
quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là với các cơ quan thông
tin thƣ viện. Thƣ viện là khách hàng của công tác xuất bản - phát hành và là nguời
mang sản phẩm, hàng hoá của xuất bản dến với nguời dùng. Ngày nay, sách đuợc in
ra với nhiều loại hình khác nhau, nội dung khá phong phú, song chất lƣợng vẫn
12
chƣa đƣợc kiểm định và giá sách ngày nay vẫn còn khá cao. Ðiều này làm ảnh
huởng tới việc bổ sung sách cho thƣ viện. Vì vậy mỗi thƣ viện cần phải sáng suốt
nguồn nhân lực của Tỉnh, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực bồi dƣỡng nhân tài cho
đất nƣớc.
- Là công cụ hiệu quả giúp công chúng phát triển thông tin phục vụ cho sự
nghiệp phát triển văn hóa, kinh tế của mỗi ngƣời nói riêng và Tỉnh nhà nói chung.
Nằm ở trung tâm thành phố nên Thƣ Viện Tỉnh Bình Thuận thu hút khá đông bạn
đọc, phục vụ nhiều lƣợt ngƣời đọc, giúp mọi ngƣời rất nhiều trong việc tiếp thu và
vận dụng tri thức trong sách, báo… vào công tác học tập và đời sống hàng ngày. Vì
vậy nguồn lực thông tin đóng vai trò rất quan trọng trong công tác phát triển văn
hóa, giáo dục, kinh tế, chính trị của Tỉnh. Đồng thời đây còn là nguồn nguyên liệu
quý giúp cho toàn thể nhân dân trong tỉnh lao động, học tập, giải trí hữu ích nhất.
- Là cơ sở để đáp ứng nhu cầu của bạn đọc tìm hiểu về văn hoá, kinh tế, xã
hội, chính trị… của Tỉnh. Thƣ Viện Tỉnh Bình Thuận là một thƣ viện lớn nhất trong
Tỉnh, có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin, cung cấp tài liệu phục vụ
cán bộ, học sinh, sinh viên và mọi tầng lớp nhân dân khi có nhu cầu tin. Chính nhờ
có nguồn lực thông tin đầy đủ và cập nhật tại thƣ viện mà bạn đọc hiểu thêm về lịch
sử ra đời, sự hình thành và phát triển của Tỉnh nhà.
Đối với công tác thư viện
- Là công cụ đắc lực phục vụ cho mọi hoạt động của cơ quan thông tin - thƣ
viện. Mọi hoạt động của một Thƣ viện không thể không có nguồn lực thông tin,
nhiệm vụ của một thƣ viện là cung cấp thông tin cho ngƣời dùng tin nhanh chóng
và chính xác. Vì vây một cơ quan thông tin - thƣ viện có nguồn lực thông tin đủ
mạnh về số lƣợng, chất lƣợng và biết cách tổ chức khai thác nó sẽ là công cụ đắc
lực phục vụ cho mọi hoạt động của cơ quan đó tốt nhất
- Là bộ phận hỗ trợ hiệu quả cho các công tác khác trong cơ quan thông tin
thƣ viện. Phát triển và tổ chức khai thác nguồn lực thông tin là khâu công tác quan
trọng nhằm quyết định tất cả các hoạt động còn lại của thƣ viện có thành công hay
không. Chẳng han, nếu nguồn lực thông tin còn thiếu, việc tổ chức khai thác còn
yếu thì dù công tác xử lý kỹ thuật hay công tác sắp xắp sếp bảo quản kho có làm
nhƣ thế nào thì hiệu quả của nó cũng không thể thành công đƣợc.
tin cần phải phản ánh đúng thực tế bản thân của sự việc, thông tin không bị bóp
méo, làm cho sai lệch. Ngoài ra thông tin có giá trị khi nó đã hoàn chỉnh, không quá
15
phức tạp làm ngƣời đọc hiểu nhầm, đƣợc lấy từ nguồn có thể tin cậy. Vì vậy đây
đƣợc xem là một tiêu chí rất quan trọng, ảnh hƣởng trực tiếp đến uy tín của một thƣ
viện. Do đó khi phát triển nguồn lực thông tin nhằm làm thỏa mãn nhu cầu ngày
càng đa dạng của ngƣời dùng tin, Thƣ viện cần chú trọng lựa chọn bổ sung các
nguồn thông tin có giá trị nhất.
Độ chính xác của thông tin (mức độ tin tƣởng, tính hiệu lực). Với sự phát
triển nhƣ vũ bão của khoa học và công nghệ, số lƣợng tài liệu gia tăng theo cấp số
nhân dẫn đến thông tin nhanh chóng bị lỗi thời, do vậy khi phát triển nguồn lực
thông tin thì tiêu chí lựa chọn một nguồn thông tin chính xác, có giá trị có tính định
hƣớng và hiệu lực là một tiêu chí rất quan trọng cần phải xem xét kỹ . Nhƣ chúng ta
đã biết, với sự gia tăng quá nhanh khối lƣợng thông tin trong một thời gian ngắn sẽ
dẫn đến một hậu quả rất nghiêm trọng, nó làm cho nguồn tin bị nhiễu, bị lão hóa
nhanh và đặc biệt tính hiệu lực của thông tin sẽ bị mất đi. Từ những nguyên nhân đó
cho chúng ta thấy rằng, nếu một cán bộ làm công tác phát triển nguồn lực thông tin
mà không có sự định hƣớng cho tƣơng lai, không sáng suốt, thì đó là nguyên nhân
dẫn đến kho thông tin của chúng ta chết nhanh chóng. Vì vậy mỗi thƣ viện cần phải
nhận biết, phân biệt tính tích cực và tiêu cực của thông tin cũng nhƣ tính hợp thức
của nguồn thông tin đó. Để làm đƣợc điều này khi lựa chọn tài liệu ta phải xác định
đƣợc: mức độ đúng đắn của thông tin này nhƣ thế nào, nguồn có đáng tin cậy
không, tài liệu của nhà xuất bản nào, tác giả có uy tín không, có đƣợc sử dụng nhiều
hay không? Độ quan trọng của thông tin trong tài liệu đó có nhiều không ? Thông
tin đó mang tính khách quan hay chủ quan, tác giả đã thể hiện những quan điểm gì,
tiêu cục hay tích cực? Nếu mỗi cán bộ làm công tác phát triển nguồn lực thông tin
làm đƣợc những điều này chính là xây dựng đƣợc một kho thông tin có gía trị cao,
và góp phần định hƣớng tốt cho ngƣời dùng tin.
thêm nhiều sản phẫm và dịch vụ nhằm tạo mọi điều kiện phục vụ mọi thành phần
ngƣời dùng tin. Hình thức phục vụ phải đa dạng ngoài hình thức truyền thống nhƣ
đọc tại chỗ, mƣợn về nhà cần phải tổ chức thêm các hình thức hiện đại phù hợp với
tình hình công nghệ phát triển hiện nay nhƣ: truy cập trực tuyến thông qua mạng
máy tính; phối hợp với các thƣ viện khác để phục vụ mƣợn liên thƣ viện. Ngoài ra
hình thức phục vụ phải đƣợc Thƣ viện triển khai sao cho phù hợp với nhu cầu từng
nhóm ngƣời dùng tin, chú ý phát triển nguồn tài liệu điện tử phù hợp với nhu cầu
công nghệ trong thời đại kinh tế tri thức.