ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM VĂN HƢNG
PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC THÔNG TIN TẠI
THƢ VIỆN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
KỸ THUẬT HƢNG YÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC THÔNG TIN THƢ VIỆN
KỸ THUẬT HƢNG YÊN
Chuyên ngành: Khoa học Thƣ viện
Mã số: 60 32 02 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC THÔNG TIN THƢ VIỆN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Trần Thị Quý
Hà Nội - 2014
1
LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn “Phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện Trường Đại
học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên” xin cảm ơn tập thể và cá nhân sau:
Tác giả luận văn biết ơn sâu sắc tới Nhà giáo ưu tú PGS.TS. Trần Thị Quý -
Trưởng khoa Thông tin – Thư viện - Trường ĐHKHXH & NV ĐHQGHN, người đã
hướng dẫn tận tụy, dìu dắt về chuyên môn, tinh thần trong suốt quá trình thực hiện
2
Danh mục các từ viết tắt
6
Danh mục các bảng biểu
7
Danh mục các biểu đồ, sơ đồ
8
MỞ ĐẦU
9
NỘI DUNG
15
Chƣơng 1. Những vấn đề chung về phát triển nguồn lực thông tin
của Thƣ viện Trƣờng Đại học Sƣ Phạm Kỹ thuật Hƣng Yên
15
1.1 Một số khái niệm cơ bản
15
1.1.1 Khái niệm thông tin
15
1.1.2 Khái niệm về nguồn lực thông tin
16
1.1.3 Khái niệm về phát triển nguồn lực thông tin
17
1.2 Các quy luật phát triển nguồn lực thông tin
18
1.2.1 Quy luật gia tăng số lượng tài liệu
18
1.2.2 Quy luật tập trung và phân tán thông tin
20
1.2.3 Quy luật lỗi thời của thông tin
21
29
1.4.7 Trình độ cán bộ phát triển nguồn lực thông tin
29
1.5 Các tiêu chí đánh giá nguồn lực thông tin
30
1.5.1 Độ chính xác của thông tin
30
1.5.2 Tính kịp thời của thông tin
30
1.5.3 Mức độ đầy đủ, chi tiết của thông tin
31
1.5.4 Tính độc quyền của thông tin
31
1.5.5 Tác động của thông tin
31
1.6 Khái quát chung về Trƣờng Đại học Sƣ Phạm Kỹ thuật
Hƣng Yên
32
1.6.1 Lịch sử hình thành và phát triển
32
1.6.2 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ
33
1.6.3 Chức năng và nhiệm vụ
36
1.6.4 Hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học của nhà trường
36
1.7 Thƣ viện với sự phát triển của Trƣờng Đại học Sƣ Phạm
Kỹ thuật Hƣng Yên
39
1.7.1 Chức năng, nhiệm vụ của Thư viện
2.1.5 Đặc điểm theo nội dung
53
2.1.6 Đặc điểm theo ngôn ngữ của tài liệu
55
2.2 Công tác phát triển nguồn lực thông tin tại Thƣ viện
57
2.2.1 Chính sách phát triển nguồn lực thông tin
57
2.2.2 Hình thức phát triển nguồn lực thông tin
60
2.2.3 Kinh phí phát triển nguồn lực thông tin
65
2.2.4 Công tác thanh lý tài liệu
66
2.2.5 Khai thác và phối hợp bổ sung, chia sẻ nguồn lực thông tin
67
2.2.6 Quy trình phát triển nguồn lực thông tin
71
2.3 Thực trạng các yếu tố tác động đến phát triển nguồn lực
thông tin tại thƣ viện
74
2.3.1 Nhận thức của lãnh đạo các cấp
74
2.3.2 Trình độ đội ngũ cán bộ
75
2.3.3 Nhu cầu tin của người dùng tin
76
2.3.4 Cơ sở vật chất và mức độ ứng dụng công nghệ thông tin
83
2.4 Chất lƣợng nguồn lực thông tin tại thƣ viện trƣờng
101
3.1.4 Tăng cường hợp tác trao đổi nguồn lực thông tin
104
3.1.5 Tổ chức thanh lý tài liệu cũ, không còn giá trị
107
3.2 Trang bị cơ sở vật chất và ứng dụng công nghệ thông tin
108
3.2.1 Đầu tư trang bị cơ sở vật chất
108
3.2.2. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin
110
3.3 Tăng cƣờng kinh phí bổ sung và chú trọng nâng cao trình độ
cán bộ
111
3.3.1 Tăng cường kinh phí bổ sung
111
3.3.2 Nâng cao trình độ cán bộ thư viện
113
3.4 Nghiên cứu nhu cầu tin và đào tạo ngƣời dung tin
115
3.4.1 Thường xuyên nắm bắt nhu cầu của người dùng tin
115
3.4.2 Đào tạo người dùng tin
117
KẾT LUẬN
120
TÀI LIỆU THAM KHẢO
122
Phiếu phỏng vấn về nguồn lực thông tin của thư viện Trường Đại học
Sư Phạm Kỹ thuật Hưng Yên
Người dùng tin
NCT
Nhu cầu tin
ĐHSPKT HY
Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên 7
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 01. Kết quả đề tài NCKH của nhà trường tính từ 2007 - 2013
Bảng 02. Cơ cấu loại hình sách phân theo vật liệu mang tin
Bảng 03. Cơ cấu loại hình sách phân theo mục đích sử dụng
Bảng 04. Cơ cấu tài liệu sách theo thời gian xuất bản
Bảng 05. Cơ cấu tài liệu theo nội dung tài liệu
Biểu đồ 09. Nhóm nhu cầu tin của nhà trường
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 01. Cơ cấu tổ chức nhà trường
Sơ đồ 02. Cơ cấu tổ chức Thư viện
Sơ đồ 03. Các nguồn bổ sung tài liệu 9
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vào những năm cuối của thế kỷ XX đến nay, dưới tác động mạnh mẽ của sự
phát triển của công nghệ thông tin (CNTT), đã làm biến đổi sâu sắc mọi hoạt động
của đời sống xã hội. Trong sự biến đổi này, thông tin đã và đang có giá trị lớn hơn
cả mọi tài nguyên thiên nhiên. Quốc gia nào, dân tộc nào, cá nhân nào nắm bắt
được càng nhiều thông tin, càng nắm được thế chiến thắng trong sự cạnh tranh đang
diễn ra trên bình diện toàn cầu. Trong lĩnh vực hoạt động thông tin – thư viện (TT –
TV) nguồn lực thông tin (NLTT) là một yếu tố quan trọng trong bốn yếu tố cấu
thành cơ quan thông tin, thư viện. Hiện nay, đứng trước thách thức lớn trong việc
tiếp thu và sử dụng nguồn tin sao cho có hiệu quả nhất. Các cơ quan thông tin thư
Nên, đặc trưng của tài liệu trong thư viện là “Sư phạm” và “Kỹ thuật”. Hiện tại,
NLTT của Thư viện vẫn còn hạn chế nhiều. Nguồn lực thông tin của Trường so với
nhu cầu của NDT thì vẫn còn ở mức rất hạn chế. Do vậy, nhiệm vụ của thư viện
Nhà trường được đặt ra là hết sức lớn để đáp ứng nhu cầu NDT. Trong khi đó, hiện
tại cấu trúc để thiết lập lên hoạt động thư viện của nhà trường thì còn nhiều mặt hạn
chế, từ cán bộ thư viện, cơ sở vật chất – trang thiết bị và đặc biệt là NLTT. Cả 3 yếu
tố trên đều chưa tương xứng tầm với nhu cầu sử dụng NLTT của NDT là cán bộ
giảng viên, học viên và sinh viên của Nhà trường.
Từ những thực trạng đã nêu trên, cho thấy công tác phát triển NLTT tại Thư
viện Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên là một vấn đề hết sức cần thiết phải được
nghiên cứu và triển khai. Vấn đề cấp bách hiện tại là thư viện cần xây dựng NLTT
chính xác, đầy đủ hơn, cập nhật hơn. Chính vì vậy, tôi đã tâm huyết lựa chọn đề tài
“Phát triển NLTT tại Thư viện Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên”
làm luận văn thạc sỹ khoa học thư viện với mong muốn vận dụng những kiến thức
lý luận và thực tiễn đã và đang nghiên cứu học tập cùng với kinh nghiệm công tác
của mình để đưa ra ý kiến, phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng NLTT và đáp ứng được nhiều hơn nữa nhu cầu của NDT, góp phần nâng cao
chất lượng và hiệu quả hoạt động đào tạo, NCKH của Trường ĐHSPKT HY.
2. Tình hình nghiên cứu
Hiện nay, có nhiều đề tài NCKH đã và đang nghiên cứu về phát triển NLTT
tại các thư viện trường đại học hoặc NLTT tại các cơ quan khác. Tuy nhiên, ở từng
cơ quan hay từng trung tâm thông tin, thư viện lại có những đặc thù và mô hình
khác nhau, gắn liền với sứ mạng, mục tiêu và nhiệm vụ, chức năng riêng của từng
đơn vị.
11
Các luận văn theo hướng đề tài đã được bảo vệ thành công tại Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội như “Phát
triên NLTT tại Thư viện Trường Đại học Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình” của Lê Thị Tuyết
Nhung bảo vệ năm 2011; “Phát triển NLTT phục vụ công tác đào tạo tín chỉ tại
trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học lao động Xã hội” của Nguyễn
với nhiệm vụ chức năng cụ thể của đơn vị mình.
Ở Thư viện Trường ĐHSPKT HY chưa có đề tài nào nghiên cứu về lĩnh vực
phát triển NLTT. Vì vậy, đề tài “Phát triển NLTT tại Thư viện Trường Đại học
Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên” mà tác giả lựa chọn làm luận văn thạc sỹ Khoa học
Thông tin - Thư viện là đề tài nghiên cứu đầu tiên , hoàn toàn mới và không trùng
lặp với đề tài nào trước đó.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Nhằm đạt hiệu quả cao trong công tác phát triển NLTT tại Thư viện Trường
ĐHSPKT HY đáp ứng tốt nhu cầu thông tin của NDT của nhà trường nhằm nâng
cao chất lượng hoạt động đào tạo, NCKH của Trường ĐHSPKT HY.
3.2 Nhiệm vụ
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về NLTT và cơ sở thực tiễn liên quan đến phát
triển NLTT đối với Thư viện Trường ĐHSPKT HY.
- Khảo sát, phân tích thực trạng và đưa ra những ý kiến nhận xét, đánh giá và
các giải pháp về công tác phát triển NLTT tại Thư viện Trường ĐHSPKT HY từ
năm 2010 đến nay.
- Đưa ra một số kiến nghị và giải pháp mang tính khả thi nhằm phát triển
NLTT tại Thư viện Trường ĐHSPKT HY.
4. Giả thuyết nghiên cứu
Hiện tại, NLTT cũng như công tác phát triển NLTT còn nhiều hạn chế chưa
đáp ứng được nhu cầu tin của cán bộ giảng viên và sinh viên của Trường ĐHSPKT
HY . Nguyên nhân không chỉ do công tác bổ sung tài liệu mà còn cả các yếu tố tác
động đến công tác này.
Nếu công tác phát triển NLTT tại Thư viện Trường ĐHSPKT HY được chú
trọng, tăng cường hơn về nhiều mặt như: Cần có chính sách phát triển NLTT khoa
học, nâng cao nhận thức các cấp lãnh đạo, tăng cường đầu tư kinh phí bổ sung; chú
trọng nghiên cứu nhu cầu tin của người dùng tin; Phát triển nguồn tài liệu xám và
tài liệu nội sinh; Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin; Chú trọng nâng cao
13
14
9. Dự kiến kết quả nghiên cứu và bố cục của luận văn
9.1 Dự kiến kết quả nghiên cứu
- Định tính: Luận văn dự kiến khoảng 80 – 100 trang A4
- Đình lượng: Đưa ra các giải pháp phát triển NLTT nhằm PT NLTT hiệu
quả, đồng thời đáp ứng được tốt nhu cầu thông tin/tài liệu của NDT để hướng tới
mục tiêu, sứ mạng chung của nhà trường là đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng
cao cho đất nước trong lĩnh vực Sư phạm Kỹ thuật
9.2 Bố cục của luận văn
- Ngoài phần mở đầu và tài liệu tham khảo, bố cục nội dung luận văn gồm có
3 chương.
Chương 1: Những vẫn đề chung về phát triển nguồn lực thông tin của Thư
viện Trường ĐHSPKT HY.
Chương 2: Thực trạng công tác phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện
Trường ĐHSPKT HY.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phát triển nguồn lực thông
tin tại Thư viện Trường ĐHSPKT HY.
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
15
PHẦN 2. NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN
NGUỒN LỰC THÔNG TIN CỦA THƢ VIỆN TRƢỜNG ĐẠI HỌC
SƢ PHẠM KỸ THUẬT HƢNG YÊN
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.2 Khái niệm về nguồn lực thông tin
“NLTT” là một thuật ngữ chuyên ngành thông tin thư viện. Đến nay thuật
ngữ này vẫn tồn tại một số quan điểm sau: Thuật ngữ “NLTT” được dịch từ thuật
ngữ tiếng Anh “Information Resource”. Theo Tiến sĩ Lê Văn Viết: Nội hàm của
thuật ngữ này vẫn chưa được thống nhất. Có ý kiến cho rằng “NLTT” tương đương
như vốn tài liệu trong các cơ quan thông tin thư viện. Ý kiến khác cho rằng “NLTT”
không chỉ bao hàm các nguồn lực về tài liệu, mà còn gồm các thành phần khác như
tài liệu thông tin, nhân lực thông tin. Và có ý kiến thì cho rằng “NLTT” là nguồn
tin… [18, tr 163].
Theo từ điển tiếng Việt: “nguồn” được hiểu là nơi bắt đầu, nơi phát sinh ra
hay là nơi có thể cung cấp. Từ đó nhiều quan điểm cho rằng: NLTT bao hàm cả về
tiềm lực thông tin và khả năng “với tới” các nguồn thông tin khác nhau. Hiểu theo
nghĩa này thì tát cả các nguồn thông tin có trong tay hoặc có thể “với tới” được gọi
là NLTT.
Trong thực tế, “nguồn học liệu” là thuật ngữ dùng chỉ NLTT trong các đơn
vị nghiên cứu, đào tạo. Tại các trung tâm học liệu (Learning Resource Center ) của
một số các trường đại học như: Trung tâm học liệu Thái Nguyên, Trung tâm học
liệu Đà nẵng, Trung tâm học liệu Huế … thì nguồn học liệu được hiểu là nguồn
thông tin để sử dụng, đáp ứng nhu cầu quản lý, lãnh đạo, học tập, NCKH cũng
như phục vụ quá trình đạo tạo của nhà trường.
Trong Nghị quyết của Chính phủ về hoạt động thông tin khoa học và công
nghệ, thuật ngữ NLTT khoa học và công nghệ dùng để chỉ các loại sách, báo, tạp
chí, CSDL, tài liệu hội nghị - sở hữu trí tuệ, đo lường chất lượng, luận văn, luận án
và các nguồn tin khác được tổ chức, cá nhân thu thập [11].
Theo Tiến sĩ Lê Văn Viết: NLTT là tổ hợp các tài liệu phản ánh những kết
quả NCKH trong hoạt động nhận thức thực tiễn của con người [18, tr 164].
NLTT nếu được tổ chức một cách khoa học, được bảo quản ở cơ quan thông
tin thư viện hay được gọi là kho tin. Nguồn tin ở đây được xem như là kho tin, cung
cấp cho người dùng các NLTT của mình.
17
tính hiệu quả, duy trì và phát triển trong một cơ quan thông tin, thư viện cụ thể.
18
1.2 Các quy luật phát triển nguồn lực thông tin
Việt Nam đang trên con đường hội nhập và ngày càng phát triển để hoà mình
vào xu thế phát triển của xã hội nói chung của thế giới. Kinh tế đang từng bước phát
triển, gắn theo là kinh tế tri thức đang mở ra cho chúng ta một thời kỳ bùng nổ
thông tin trong xã hội tiên tiến. Sự phát triển mạnh mẽ và không ngừng về cả số
lượng và tốc độ của thông tin đã tạo nên sự bùng nổ thông tin trong kỷ nguyên mới.
Thông tin đã được phát triển một cách vũ bão thông qua các kênh chính thức và
không chính thức. Sự phát triển này đã hình thành một thách thức không chỉ đối với
cơ quan cung cấp thông tin mà cả đối với NDT. Những quy luật chủ yếu phát triển
của tài liệu tác động đến việc xây dựng, quản lý NLTT của các Thư viện Việt Nam
là: Quy luật gia tăng số lượng tài liệu theo hàm số mũ; Quy luật tập trung và phân
tán thông tin; Quy luật lỗi thời của thông tin; Quy luật giá cả tăng lên liên tục
Sự tác động sâu rộng của các quy luật phát triển của của tài liệu này đã làm
ảnh hưởng nhiều đến cơ quan quản lý thông tin cũng như sự nghiệp Thư viện cả về
mặt tích cực và mặt tiêu cực. Đồng thời, những quy luật phát triển của tài liệu này
còn đưa đến cho cơ quan Thông tin Thư viện những mặt khó khăn nhất định về
nguồn tài liệu trong Thư viện. Những khó khăn về thăm dò, lựa chọn phục vụ công
tác bổ sung tài liệu, khó khăn về tài chính, khó khăn về chất lượng của tài liệu…
Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, việc duy trì, phát triển và
đáp ứng tối đa đối với nhu cầu người sử dụng thư viện là một bài toán được đặt ra
hết sức khó khăn đối với các cơ quan thông tin thư viện. Vì vậy, các cơ quan thông
tin thư viện luôn luôn gồng mình tìm tòi những giải pháp thiết yếu, để từng bước
đưa hoạt động cơ quan thông tin thư viện của mình đạt được những mục tiêu chiến
lược đặt ra và đạt được hiệu quả nhất trong điều kiện cụ thể của mình.
Cùng với quy luật phát triển của tài liệu, các Thư viện đã và đang có những
biện pháp khắc phục nguồn tài liệu của quy luật phát triển tài liệu trong đơn vị
mình. Để từ đó, các Thư viện có những đường lối, và chính sách phù hợp, tối ưu để
phát triển đơn vị mình được tốt nhất.
rất phức tạp. (Theo nguyên tắc tài chính công: Tài sản muốn được mua thì phải làm
dự toán báo giá: Giá, nguồn gốc, xuất sứ, nhãn hiệu …)
Bây giờ thì việc làm dự toán kinh phí bổ sung sách có nhiều phương án do
quy luật gia tăng tài liệu. (Tức là số lượng sách gia tăng nhiều thì cơ hội để lập các
phương án bổ sung cũng tăng theo).
20
+ Về mặt khó khăn đối với quy luật gia tăng số lượng tài liệu là:
Cơ quan thông tin - thư viện sẽ khó hơn cho việc thăm dò và xác định tài liệu
cần được bổ sung. (Nguồn tài liệu tăng lên nhanh thì việc thăm dò và xác định tài
liệu sẽ khó khăn theo).
Minh chứng: Việc tài liệu gia tăng với tốc độ nhanh chóng, làm cho việc xác
định, lựa chọn mất nhiều thêm thời gian.
Thông thường các cơ quan thông tin, thư viện bổ sung được ít tài liệu sẽ
gặp phải trường hợp : Sự áp lực về phục vụ độc giả. Hiện nay, số lượng tài liệu gia
tăng nhanh chóng, mà bản thân trong cơ quan thông tin thư viện nội tại, nguồn tài
liệu lại tăng lên không đáng kể. Thì việc đáp ứng nhu cầu của độc giả sẽ gặp rất
nhiều khó khăn.
1.2.2 Quy luật tập trung và phân tán thông tin
Khi thống kê số lượng các bài viết được đăng trên các tạp chí, người ta nhận
thấy rằng có một số khối lượng không lớn tên tạp chí nhưng lại đăng một số lượng
đáng kể các bài viết thuộc về một chuyên ngành nào đó, số bài viết còn lại thuộc
chuyên ngành ấy được đăng rải rác trên nhiều tạp chí khác nhau, thậm chí có tạp chí
không liên quan đến chuyên ngành ấy. Hiện tượng này được gọi là hiện tượng tập
trung và phân tán thông tin.
Khi nghiên cứu thư mục về địa, vật lý, Bradford cho thấy trong số 326 tạp chí
có chứa 1332 bài về lĩnh vực này thì 9 tạp chí chứa tới 429 bài, 59 tạp chí khác chứa
499 bài và 258 tạp chí còn lại chỉ chứa 404 bài.
Trong các tài liệu về thông tin học, khi bàn về mức độ tập trung thông tin, người
ta cũng hay nói tới quy luật 80/20. Qua thống kê, người ta thấy rằng khoảng 80%
yêu cầu thông tin của độc giả thường tập trung vào 20% số tài liệu có trong thư viện
gồm có nhiều cơ sở hoặc phân hiệu thành viên. Sẽ gây nên tình trạng thừa hoặc
thiếu tài liệu ở từng điểm hay khu vực cụ thể.
1.2.3 Quy luật lỗi thời của thông tin
Khi nghiên cứu tần suất sử dụng của tài liệu, ngay sau khi xuất bản, tài liệu được
tìm đọc khá nhiều nhưng theo thời gian, số người tìm đọc tài liệu ngày càng giảm
đi, điều này phản ánh một hiện tượng mà người ta gọi là lỗi thời của thông tin:
thông tin không còn mới, không còn hấp dẫn người đọc, khoảng thời gian kể từ sau
22
khi tài liệu được xuất bản càng tăng thì người đọc càng ít quan tâm đến tài liệu đó,
số người đọc tài liệu càng giảm. Tuy nhiên, Sự lão hóa thông tin trong các ngành
khác nhau thì không giống nhau, những ngành có tốc độ phát triển càng nhanh thì
tốc độ lỗi thời của thông tin càng nhanh và mức độ lão hóa càng lớn.
Để biểu thị mức độ lão hóa của tài liệu và lượng hóa mức độ lão hóa, các nhà
khoa học R.Barton và R.Kebler đã đưa ra khái niệm “nửa chu kỳ sống” của tài liệu.
Nửa chu kỳ sống là khoảng thời gian trong đó đã công bố một nửa toàn bộ tài liệu
đang được sử dụng trong một lĩnh vực nào đó. Nếu nửa chu kỳ sống của ngành toán
học là 10,5 năm thì có nghĩa là 50% số bài báo về toán học hiện đang được sử dụng
được xuất bản trong khoảng 10,5 năm gần đây. Vật lý: 4,6 năm; Hóa học: 8,1 năm;
Thực vật học: 10 năm; Toán học: 10,5 năm; Địa chất: 11,8 năm [6].
Những tài liệu mang đặc tính khoa học công nghệ cao đặc biệt là tài liệu
khoa học công nghệ mũi nhọn, thì tốc độ già hóa thông tin rất nhanh.
+ Về mặt thuận lợi đối với quy luật lỗi thời của thông tin là:
Giúp cho thư viện nhanh chóng xác định những tài liệu không còn phù hợp
đối với NDT và đưa ra nhanh chóng những tài liệu lạc hậu để phục vụ cho công tác
thanh lý tài liệu.
+ Về mặt khó khăn đối với quy luật lỗi thời của thông tin là:
Tài liệu cũ trong thư viện ít được sử dụng. Đồng thời, xuất hiện một số tài
liệu ở dạng “chết”.
Kho tàng trong thư viện trở lên chật hẹp và thiếu diện tích.
1.2.4 Quy luật gia tăng của giá thành thông tin
đầu ngành chịu trách nhiệm kiến nghị với nhà nước về việc tăng cường đầu tư hơn
nữa cho thư viện.
- Đảng và Nhà nước cần có chỉ đạo sát sao và cụ thể tới việc in ấn và phát
hành tài liệu cụ thể. Giám sát chặt chẽ hơn nữa việc in sao lậu tài liệu.
- Đảng và Nhà nước cần có đường lối và chính sách để kìm chế lạm phát hơn
nữa để cùng với đó là việc kìm chế giá tài liệu ngày một cao của thì trường.