Công tác thông tin đối ngoại cho người Việt Nam ở nước ngoài - Thực trạng và giải pháp - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ THANH HƯƠNG

CÔNG TÁC THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI
CHO NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI –
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế
Mã số: 60.31.40
Người hướng dẫn khoa học: TS. PHẠM MINH SƠN

Hà Nội - 2011

1
MỤC LỤC Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
3


50
2.1. Đánh giá chung về công tác thông tin đối ngoại thời gian qua
50
2.2. Nội dung, phương châm, lực lượng, phương tiện thực hiện
công tác thông tin đối ngoại cho người Việt Nam ở nước ngoài

55
2.3. Các hoạt động thông tin đối ngoại cơ bản cho người Việt
Nam ở nước ngoài

65
2.4. Đánh giá chung về công tác thông tin đối ngoại cho người Việt
Nam ở nước ngoài trong thời gian qua

86

2
Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM
ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI CHO NGƢỜI VIỆT
NAM Ở NƢỚC NGOÀI TRONG THỜI GIAN TỚI 92
3.1. Bài học kinh nghiệm của một số nước trong công tác thông tin đối
ngoại cho kiều dân

92
3.2. Phương hướng đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại cho
người Việt Nam ở nước ngoài

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1. ASEAN Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
2. AFTA ASEAN Free Trade Area
Khu vực thương mại tự do ASEAN
3. APEC Asia-Pacific Economic Cooperation
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương
4. CAND Công an nhân dân
5. NVNONN Người Việt Nam ở nước ngoài
6. QĐND Quân đội nhân dân
7. TTĐN Thông tin đối ngoại
8. TTXVN Thông tấn xã Việt Nam
9. USD Đôla Mỹ
10. WTO World Trade Organization
Tổ chức Thương mại Thế giới
4
MỞ ĐẦU

cộng đồng đã chuyển mạnh cả về số lượng và chất lượng nhưng nhìn chung
chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra của công tác thông tin đối ngoại. Vẫn còn một bộ
phận không nhỏ kiều bào do thiếu thông tin hoặc bị tác động bởi những luận
điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, chưa có dịp về thăm đất nước để thấy
rõ những thành tựu của công cuộc Đổi mới nên chưa hiểu đúng về tình hình
đất nước và đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước nên đã có những
hoạt động không phù hợp với lợi ích của cộng đồng và đất nước. Bên cạnh đó,
các lực lượng phản động ở bên ngoài không ngừng sử dụng các phương tiện
thông tin tuyên truyền chống ta quyết liệt và khống chế cộng đồng dưới nhiều
hình thức khác nhau. Đây là lý do tôi chọn đề tài “Công tác thông tin đối
ngoại cho người Việt Nam ở nước ngoài – Thực trạng và giải pháp” nhằm
làm sáng tỏ hơn nữa vai trò, tầm quan trọng của hoạt động thông tin đối ngoại
cho người Việt xa xứ, cũng như tổng kết lại những mặt đã đạt được và chưa
đạt được của hoạt động này, qua đó đề xuất một vài giải pháp nhằm khắc
phục hạn chế và nâng cao hơn nữa hiệu quả của hoạt động thông tin đối ngoại
cho người Việt Nam ở nước ngoài.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chỉ thị, nghị
quyết, quyết định về vấn đề người Việt Nam ở nước ngoài cũng như công tác
thông tin đối ngoại nói chung và công tác thông tin đối ngoại cho người Việt
Nam ở nước ngoài nói riêng. Đến nay, đã có nhiều đề tài, đề án, bài nghiên
cứu về người Việt Nam ở nước ngoài, về công tác thông tin đối ngoại. Có thể
phân chia các công trình nghiên cứu này theo các nhóm tài liệu nghiên cứu
sau:
- Nhóm thứ nhất: về Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài: Đã có
những công trình nghiên cứu như: “Người Việt Nam ở nước ngoài”, Nhà
Xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 1997; “Người Việt ở nước ngoài

6
không chỉ có Việt kiều” Trần Trọng Đăng Đàn, Nhà xuất bản Chính trị Quốc

ngoại cho người Việt Nam ở nước ngoài, nhưng còn rất hạn chế. Bên cạnh đó,
cũng có nhiều bản đánh giá, tổng kết về công tác thông tin đối ngoại cho
người Việt Nam ở nước ngoài. Nội dung của các bản đánh giá, tổng kết này là
chỉ ra những mặt thành công cũng như hạn chế, những mặt đã làm được cũng
như chưa làm được của hoạt động thông tin đối ngoại, qua đó rút ra những bài
học kinh nghiệm. Đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào có tính chất
chuyên sâu, chính thức, đầy đủ về tình hình hoạt động và cách thức sử dụng
thông tin đối ngoại như một kênh truyền thông hữu hiệu trong công tác thông
tin cho người Việt Nam ở nước ngoài.
Chính vì vậy, luận văn “Công tác thông tin đối ngoại cho người Việt
Nam ở nước ngoài – Thực trạng và giải pháp”, sẽ góp phần giải quyết những
khó khăn, bất cập trong công tác thông tin đối ngoại cho người Việt Nam ở
nước ngoài.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và thực trạng công tác thông
tin đối ngoại cho người Việt Nam ở nước ngoài hiện nay, luận văn đề xuất
những giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác này trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ các khái niệm: Thông tin đối ngoại; Người Việt Nam ở nước
ngoài.
- Làm rõ quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với người
Việt Nam ở nước ngoài.
- Phân tích thực trạng công tác thông tin đối ngoại cho người Việt Nam
ở nước ngoài hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại
cho người Việt Nam ở nước ngoài trong thời gian tới.

8
3.3. Phạm vi nghiên cứu của luận văn:

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương, 10 tiết với
các nội dung chính như sau:
Chƣơng 1:
Nêu một số khái niệm về “Thông tin đối ngoại”, “Người Việt Nam ở
nước ngoài”, “Việt kiều”, “Kiều bào”. Tiếp đó, Luận văn nêu khái quát về
cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, từ lịch sử hình thành đến tình hình
hiện nay của Cộng đồng; Luận văn khẳng định tầm quan trọng của công tác
thông tin đối ngoại cho người Việt Nam ở nước ngoài và nêu những chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với công tác thông tin tuyên
truyền, vận động kiều bào.
Chƣơng 2:
Luận văn đánh giá chung về tình hình công tác thông tin đối ngoại.
Trình bày thực trạng công tác thông tin đối ngoại cho NVNONN trong thời
gian qua, phân tích và đánh giá đưa ra những thành công và hạn chế của công
tác này, tìm hiểu nguyên nhân của những thành công và hạn chế đó.
Chƣơng 3:
Luận văn đã đưa ra phương hướng và trình bày một số nhóm giải pháp
để đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại cho NVNONN trong thời gian tới.

10
Chƣơng 1

của một chính phủ lên quan điểm của nhân dân các nước khác; Sự tương tác
giữa các nhóm cá nhân và các nhóm lợi ích trong một quốc gia với quốc gia
khác; Tình hình quốc tế và những tác động của nó lên các chính sách; Sự
thông tin giữa những người làm về thông tin như các nhà ngoại giao và phóng
viên nước ngoài, quá trình truyền thông xuyên văn hoá.”
Theo Từ điển Thuật ngữ Quan hệ quốc tế của Uỷ ban Quốc gia Mỹ,
“public diplomacy” chỉ những chương trình thuộc bảo trợ của chính phủ
nhằm thông tin hoặc tác động lên quan điểm của nhân dân của nước khác, mà
công cụ chính là thông qua các ấn phẩm, phim ảnh, giao lưu văn hoá, phát
thanh, truyền hình” [78, tr.85].
Có nhiều quan điểm khác nhau nhưng nhìn chung qua đó đều thấy rằng
ngoại giao công chúng hay “public diplomacy” ở bất cứ quốc gia nào cũng
chính là việc tuyên truyền, quảng bá các chính sách chính trị, các giá trị văn
hoá của nước mình ra bên ngoài lãnh thổ quốc gia nhằm mục tiêu tranh thủ sự
đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới và từ đó tăng cường lợi ích của đất
nước mình.
Từ cách hiểu thông tin đối ngoại nêu trên, khái niệm “hoạt động thông
tin đối ngoại” được hiểu là hoạt động giao lưu, trao đổi, thiết lập và duy trì
mối quan hệ giữa một quốc gia với các chủ thể khác bên ngoài biên giới quốc
gia đó. Hoạt động thông tin đối ngoại là một trong những hoạt động căn bản
của bất kỳ quốc gia dân tộc nào nhằm tăng cường lợi ích cũng như đẩy mạnh
vai trò, vị thế của mình trên trường quốc tế. Với mục đích xây dựng, củng cố
và duy trì hình ảnh tốt đẹp cũng như mối quan hệ bền vững của quốc gia
mình đối với các quốc gia khác, hoạt động thông tin đối ngoại chính là hoạt
động trao đổi thông tin về các đường lối chính sách của nhà nước cũng như
hoạt động đưa tin quảng bá giới thiệu về tình hình kinh tế văn hoá – xã hội
của quốc gia đó với bạn bè thế giới.

12
Ngoài ra, “Thông tin đối ngoại” còn được hiểu theo những cách khác:

ngoại của Đảng, Nhà nước ta nhằm làm cho các nước, người nước ngoài
(bao gồm cả người nước ngoài đang sinh sống, công tác tại Việt Nam), người
Việt Nam đang sinh sống, và làm việc ở nước ngoài hiểu về đất nước, con
người Việt Nam, đường lối, chủ trương, chính sách và thành tựu đổi mới của
ta, trên cơ sở đó tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới, sự đóng góp của
cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cho sự nghiệp xây dựng vào bảo vệ
Tổ quốc”.
1.1.2. Khái niệm “Ngƣời Việt Nam ở nƣớc ngoài”, “Việt kiều” và
“kiều bào”
- Khái niệm “người Việt Nam ở nước ngoài” hiện nay dùng để chỉ tất
cả những người có nguồn gốc Việt Nam cư trú ở nước ngoài, không phân biệt
hệ thống chính trị, mang quốc tịch Việt Nam hay quốc tịch của nước đang cư
trú.
Khái niệm “người Việt Nam ở nước ngoài” lần đầu tiên được giải thích
một cách chính thức trong Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998, tại Điều 2,
Khoản 3 định nghĩa “người Việt Nam ở nước ngoài là công dân Việt Nam và
người gốc Việt Nam đang thường trú hoặc tạm trú ở nước ngoài”. Trong Luật
quốc tịch Việt Nam, Quốc hội thông qua năm 2008, Điều 3 quy định “Người
Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam
cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài; Người gốc Việt Nam định cư ở nước
ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc
tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ
đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”.
Năm 1993, Ban Việt kiều Trung ương cũng được đổi tên thành Ủy ban
về người Việt Nam ở nước ngoài. Có thể nói đây là khái niệm rộng nhất, bao
hàm tất cả các đối tượng người Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài không
phụ thuộc vào yếu tố quốc tịch hay cư trú.

14
- Về ngữ nghĩa, từ “kiều” gốc Hán Việt, mang hàm ý xa xôi, sống phiêu

số người Việt Nam đi du học, làm công chức tại Pháp, hoặc bị động viên đi
lính, đi phu tại một số thuộc địa của Pháp. Trong thời kỳ chiến tranh, có thêm
một số người ra đi lánh nạn, kiếm sống, theo chồng hồi hương, hoặc đi tu
nghiệp, du học nước ngoài. Tuy nhiên, trước năm 1975, số lượng NVNONN
không lớn, chỉ có khoảng 16-20 vạn người ở 10 nước, nhưng phần đông có tư
tưởng sống tạm thời, chờ khi có điều kiện thuận lợi thì trở về nước.
Sau năm 1975, đã có sự thay đổi sâu sắc về số lượng, thành phần, tính
chất cũng như địa bàn sinh sống của cộng đồng NVNONN. Số người ra đi (di
tản trước tháng 4-1975, vượt biên trong các năm 1978-1980, theo chương
trình ra đi có trật tự và các chương trình nhân đạo năm 1980-1996) đã lên tới
khoảng 2 triệu người, chủ yếu tới Mỹ, Úc, Canađa, Nhật Bản, các nước Tây
và Tây - Bắc Âu Thêm vào đó, sau năm 1990, có một số khá đông sinh
viên, thực tập sinh và lao động Việt Nam ở Liên Xô cũ và Đông Âu đã ở lại
các nước này sinh sống, làm ăn.
Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài phát triển nhanh về số lượng
và ngày càng đa dạng về thành phần. Bên cạnh những người đã xa Tổ quốc
lâu năm, hàng năm lại có thêm hàng chục ngàn người Việt Nam đi đoàn tụ gia
đình, được nhận làm con nuôi, học tập, lao động, làm ăn, kinh doanh ở nước
ngoài; “số lượng người Việt Nam kết hôn với người nước ngoài hiện nay lên
tới hơn 100.000 người” [77]. Bên cạnh những người từ trong nước ra đi, đã có
thế hệ thứ hai, thứ ba các thanh thiếu niên gốc Việt sinh ra ở nước ngoài.
Đến nay, hiện có “hơn 4 triệu người Việt Nam ở nước ngoài tại 103
nước và vùng lãnh thổ, trong đó hơn 80% ở các nước công nghiệp phát
triển”[77]. Phần đông, đồng bào ta ở nước ngoài ngày càng ổn định cuộc sống
và hoà nhập xã hội nơi cư trú, có vị trí nhất định trong đời sống kinh tế chính
trị - xã hội ở nước sở tại, có tác động ở mức độ khác nhau tới mối quan hệ
giữa các nước đó với Việt Nam. Bên cạnh đó, trong những năm qua, hàng

16
trăm nghìn người Việt Nam đã ra nước ngoài lao động, học tập, tu nghiệp,

mang tính nhân đạo trợ giúp đồng bào trong nước.
Dù sống xa đất nước, đa số đồng bào có tinh thần yêu nước, tự tôn dân
tộc, có ý thức giữ gìn truyền thống, bản sắc văn hoá và luôn luôn hướng về Tổ
quốc. Phấn khởi và tin tưởng vào thành công của công cuộc đổi mới của đất
nước, các thế hệ kiều bào ta ngày càng mong muốn được gắn bó, đóng góp
nhiều hơn với quê hương, đất nước.
Tuy nhiên, cộng đồng NVNONN cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn
đề, đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Ở một số nước, địa vị pháp lý của
người Việt Nam chưa vững vàng nên cộng đồng rất dễ bị tổn thương trước
những hành động bài xích, phân biệt đối xử, kỳ thị chủng tộc. Sự khác biệt về
văn hoá, ngôn ngữ ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc sống của bà con. Ảnh
hưởng của văn hoá bản địa và những yêu cầu của cuộc sống hàng ngày là
những thách thức không nhỏ đối với việc giữ gìn bản sắc văn hoá truyền
thống và tiếng Việt. Ở một số nước, kiều bào còn phải đối mặt với nguy cơ
khủng hoảng, chiến tranh, xung đột. Ngoài ra, một số nhỏ lực lượng cực đoan,
phản động vẫn đi ngược lại lợi ích của bà con, cộng đồng và đất nước.
1.2.2. Đặc điểm và tình hình cộng đồng ngƣời Việt Nam ở một số
khu vực chủ yếu
1.2.2.1. Cộng đồng người Việt Nam tại Liên bang Nga và các nước
Đông Âu
Cộng đồng người Việt Nam tại Liên bang Nga và các nước Đông Âu
hình thành trong bối cảnh đặc biệt. Thành phần ban đầu của cộng đồng chủ
yếu là trí thức, cán bộ, công nhân lao động được Nhà nước ta cử sang các
nước này nghiên cứu, học tập, thực tập, lao động. Về sau, một bộ phận đáng
kể sang làm ăn, kinh doanh và nhiều người sang thăm thân, du lịch rồi ở lại.
Gần đây, cộng đồng được bổ sung bằng dòng di cư lao động sang làm ăn và

18
cư trú bất hợp pháp. Chính vì vậy, tình hình cộng đồng trở nên phức tạp hơn
trước.

Quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa nước ta với các nước láng giềng tiếp
tục phát triển đã tạo điều kiện thuận lợi cho bà con ổn định cuộc sống, củng
cố và phát triển cộng đồng vững mạnh. Cộng đồng người Việt Nam tại Thái
Lan, Lào, Campuchia từ lâu là những cộng đồng người Việt có truyền thống
yêu nước, có nhiều đóng góp quan trọng cho hai cuộc kháng chiến chống
Pháp và chống Mỹ đi tới thắng lợi, được Đảng và Nhà nước ta đánh giá cao.
Từ khi Việt Nam gia nhập ASEAN (7/1995), quan hệ Việt Nam - Thái
Lan được cải thiện, tạo điều kiện rất thuận lợi cho kiều bào trong việc hợp
pháp hoá giấy tờ và gia nhập quốc tịch Thái Lan để ổn định và phát triển.
Chính quyền ở các địa phương đã có thái độ thiện chí hơn đối với bà con, đã
thúc đẩy việc giải quyết cho con em kiều bào thế hệ thứ hai, thứ ba nhập quốc
tịch Thái Lan và cấp giấy tờ định cư cho kiều bào thế hệ thứ nhất.
Hiện nay, ở nhiều hội người Việt Nam tại Thái Lan, thế hệ trẻ đã tiếp
nhận vai trò lãnh đạo cộng đồng và đang kế thừa truyền thống cách mạng của
thế hệ đi trước, tiếp tục có những hoạt động tích cực hướng về quê hương, đất
nước thông qua các phong trào quyên góp ủng hộ hoạt động từ thiện, nhân
đạo ở trong nước (hỗ trợ tinh thần và vật chất cho đồng bào bị bão lụt với
tổng trị giá hàng tỷ đồng, tài trợ dự án xây dựng trường hướng nghiệp ở
Quảng Trị…). Vừa qua, Nhà nước ta đã quan tâm giải quyết nguyện vọng
thiết tha của kiều bào là được cấp hộ chiếu Việt Nam thông qua phỏng vấn
trực tiếp (do tính đặc thù của kiều bào tại Thái Lan) và xem xét giải quyết
từng bước các chế độ đãi ngộ, khen thưởng cho kiều bào có công, được đông
đảo bà con hoan nghênh.
Tại Campuchia, trong những năm gần đây, cuộc sống của kiều bào
cũng có những cải thiện nhất định. Chính quyền Campuchia đã ra quyết định

20
công nhận tính hợp pháp của các hội người Việt Nam ở Trung ương và các
địa phương (đã thành lập được các hội ở 19 tỉnh, thành phố). Hiện nay, Hội
toàn quốc người Việt Nam tại Campuchia đang vận động để tiến tới thành lập

các đóng góp của người Việt Nam ở nước ngoài trong các lĩnh vực khoa học,
công nghệ, giáo dục, đào tạo, đầu tư, kinh doanh… về trong nước đa phần là
của người Việt tại khu vực này. Sau hơn ba thập niên định cư tại các nước
phương Tây, kiều bào đã vượt qua thời kỳ đầu khó khăn nhất và đang từng
bước khẳng định vị trí trong đời sống chính trị và xã hội nước sở tại. Một số
người Việt ở Mỹ, Úc, Canađa… đã và đang giữ một số chức vụ trong các cơ
quan lập pháp và hành pháp địa phương như: Trợ lý Bộ trưởng, Nghị sĩ Tiểu
bang, Ủy viên Hội đồng thành phố, giám đốc các sở chuyên môn ở cấp thành
phố, quận, hạt…
Xu hướng chung của kiều bào tại các nước phương Tây là ngày càng
hướng về Tổ quốc. Số người giữ thái độ trung dung ngày càng tăng lên. Thế
hệ trẻ lớn lên ở phương Tây có xu hướng tập trung vào học tập, làm ăn, kinh
doanh và không quan tâm nhiều đến các vấn đề mà thế lực thù địch, cực đoan
sử dụng để chống phá đất nước. Đa số kiều bào vẫn giữ thái độ phải chăng,
chú tâm làm ăn kiếm sống, ít quan tâm tới chính trị và tránh dính líu đến các
phần tử cực đoan phản động, vẫn giữ quan hệ với người thân ở trong nước,
đồng thời tranh thủ điều kiện và cơ hội về nước du lịch, tìm cơ hội làm ăn,
giúp đỡ người thân.
Một chuyển biến đáng chú ý trong những năm qua là ngay cả một số
nhân vật trước đây từng phục vụ chế độ cũ, chống ta cũng có chuyển biến
theo hướng tích cực, điển hình là Nguyễn Cao Kỳ, cựu Phó Tổng thống chính
quyền ngụy Sài Gòn, cũng như một số nhân vật khác như Đỗ Mậu, Lê Phước
Sang, đã được Nhà nước ta cho phép về thăm quê hương. Nguyễn Sang,
nguyên là Thượng nghị sỹ bang Victoria, Úc, từng có quan hệ với Nguyễn

22
Hữu Chánh, cũng đã có thái độ tích cực hơn, đã về nước xin gặp một số bộ,
ngành tìm hiểu khả năng đưa các công ty nước ngoài vào hợp tác đầu tư tại
Việt Nam.
Một số người có những vị trí cao ở các nước hoặc tổ chức quốc tế, sau

Đan Mạch, Italia, Hà Lan, Nhật Bản, Úc… tiếp tục được củng cố và ngày
càng có những liên hệ chặt chẽ và thường xuyên hơn với quê hương, đồng
thời có những đóng góp thiết thực cho các hoạt động nhân đạo, từ thiện, xóa
đói giảm nghèo và xây dựng đất nước.
1.3. Tầm quan trọng của công tác thông tin đối ngoại cho ngƣời
Việt Nam ở nƣớc ngoài
Thông tin đối ngoại cho người Việt Nam ở nước ngoài là một trong
những nhiệm vụ quan trọng của công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta
nhằm làm cho người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài hiểu
về đất nước, con người Việt Nam, đường lối, chủ trương, chính sách và thành
tựu đổi mới của Việt Nam, trên cơ sở đó tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế
giới, đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cho sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong những năm qua, nhất là sau khi ban hành Nghị quyết số 36/NQ-
TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở
nước ngoài, công tác thông tin đối ngoại đã có nhiều cố gắng chuyển tải một
lượng thông tin lớn đến cộng đồng những người Việt Nam đang sinh sống,
học tập và làm việc ở nước ngoài qua báo in, báo mạng, đài phát thanh, truyền
hình và các hình thức thông tin khác. Công tác thông tin đối ngoại cho người
Việt Nam ở nước ngoài đã đóng vai trò quan trọng góp phần vào việc Tăng
cường sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc; Góp phần ổn định chính trị, bảo
vệ an ninh đất nước; Tăng cường quan hệ hữu nghị với các nước, củng cố vị
thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế; Tham gia các hoạt động kinh

Trích đoạn Là cầu nối đẩy mạnh giao lƣu văn hoá Giai đoạn 1954-1975: Thông tin tuyên truyền, vận động kiều bào ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và đấu tranh thống nhất Giai đoạn 1975-198 5: Thông tin tuyên truyền, vận động kiều bào cùng chung sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thời kỳ Đổi mớ Giai đoạn 1996 đến nay
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status