Quan hệ hợp tác giữa CHDCND Triều Tiên và Hàn Quốc thời kỳ sau chiến tranh lạnh - Pdf 25

QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA CHDCND TRIỀU TIÊN
VÀ HÀN QUỐC THỜI KỲ SAU CHIẾN TRANH LẠNH LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế

HÀ NỘI – 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ NGA

QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA CHDCND TRIỀU TIÊN

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH HAI MIỀN TRIỀU TIÊN SAU
CHIẾN TRANH LẠNH 11
1.1. Tình hình quốc tế và khu vực sau Chiến tranh Lạnh 11
1.2. Chính sách của hai miền Triều Tiên sau Chiến tranh Lạnh 15
1.2.1. Chính sách của Triều Tiên đối với Hàn Quốc 15
1.2.2. Chính sách của Hàn Quốc đối với Triều Tiên 20
Tiểu kết 28
CHƯƠNG 2: QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA TRIỀU TIÊN VÀ HÀN
QUỐC TỪ SAU CHIẾN TRANH LẠNH 29
2.1. Quan hệ chính trị ngoại giao 29
2.1.1. Thời kỳ 1988 – 1998 29
2.1.2. Thời kỳ 1998 – 2003 30
2.1.3. Thời kỳ 2003-2008 35
2.1.4. Thời kỳ 2008 đến nay 37
2.2. Quan hệ hợp tác phát triển kinh tế 43
2.2.1. Quan hệ thương mại 43
2.2.2. Sự phát triển của Tổ hợp công nghiệp Kaeseong 47
2.2.3. Dự án khu du lịch núi Kim Cương 53
2.2.4. Dự án nối lại tuyến đường sắt Nam – Bắc và đường bộ 55
2.3. Quan hệ hợp tác văn hóa, xã hội 57
2.3.1. Hoạt động của Hội chữ thập đỏ 58
2.3.2. Hoạt động thi đấu thể thao 59
2.3.3. Trợ giúp lương thực 60
2.3.4. Đoàn tụ các gia đình ly tán do chiến tranh 64
Tiểu kết 68
CHƯƠNG 3: TRIỂN VỌNG QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA HAI MIỀN
TRIỀU TIÊN 69

2
3.1. Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong quan hệ giữa hai

3
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1
Kế hoạch 3 giai đoạn phát triển KIC của tập đoàn Hyundai
49
Bảng 2.2
Các mặt hàng sản xuất tại KIC
51
Bảng 2.3
Tổng giá trị trợ giúp nhân đạo của Hàn Quốc và cộng đồng quốc
tế cho Triều Tiên giai đoạn 1995-2002
61
Bảng 2.4
Trao đổi giữa các gia đình ly tán
64
Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế
KIC
Kaeseong Industrial Complex
Tổ hợp công nghiệp Kaeseong
Mỹ
United States
Hợp chủng quốc Hoa Kỳ
NIC
Newly Industrialized Country
Nước công nghiệp mới
NLL
Northern Limit Line
Đường giới tuyến phía Bắc
NPT
Nuclear Non-Proliferation Treaty
Hiệp ước cấm phổ biến vũ khí hạt nhân
TMD
Theater Missile Defence
Hệ thống phòng thủ tên lửa chiến trường
Triều Tiên
People Democratic Republic of Korea
Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên

5
UNICEF
United Nations Children's Fund
Quỹ Nhi đồng Liên hợp Quốc
WFP
World Food Program
Chương trình lương thực thế giới

thế giới quan tâm, theo dõi. Đây là điểm hội tụ, đan xen và tranh giành ảnh
hưởng cũng như lợi ích của các nước lớn. Sau chiến tranh thế giới thứ hai,
bán đảo Triều Tiên bị chia cắt làm hai miền, dẫn đến sự hình thành hai nhà
nước có chế độ chính trị khác nhau. Miền Bắc đi theo chế độ cộng sản và
miền Nam đi theo chế độ dân chủ phương Tây, gây nên sự xung đột về hệ tư
tưởng, dẫn đến cuộc chiến tranh năm 1950 và chỉ kết thúc bằng một Hiệp
định ngừng bắn năm 1953. Sau chiến tranh lạnh bán đảo Triều Tiên luôn ở
trong tình trạng căng thẳng, xung đột, có nguy cơ tái diễn chiến tranh.
Thời gian qua, với sự nỗ lực của cả hai bên, quan hệ giữa hai miền đã
được cải thiện nhờ những chính sách được đưa ra trong hai cuộc họp thượng
đỉnh liên Triều năm 2000 và năm 2007. Thông qua hợp tác với nhau trên các
lĩnh vực kinh tế, an ninh chính trị và văn hoá xã hội, hai miền Triều Tiên đã
thúc đẩy hợp tác phát triển. Tuy nhiên những căng thẳng trong mối quan hệ
của hai nước vẫn có những sóng gió và luôn là mối quan tâm của rất nhiều
người.
Là một nước nằm trong khu vực Đông Á, Việt Nam chịu tác động từ
chính quá trình vận động của các mối quan hệ trong khu vực. Để giúp Việt
Nam mở rộng quan hệ với hai nước Hàn Quốc và Triều Tiên, nâng cao vai trò
và vị thế của mình trong khu vực và trên thế giới. Đề tài: “Quan hệ hợp tác
giữa Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên và Hàn Quốc thời kỳ sau
Chiến tranh Lạnh” là hết sức cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu
sắc. Đề tài cố gắng làm rõ bức tranh toàn cảnh về quan hệ hợp tác giữa hai
miền Triều Tiên từ sau Chiến Tranh Lạnh đến nay thông qua các lĩnh vực hợp

7
tác cơ bản, từ đó đánh giá hiệu quả, những thuận lợi, khó khăn, triển vọng và
đưa ra những khuyến nghị để phát triển quan hệ Việt Nam với hai miền Triều
Tiên, nâng cao vai trò và vị thế của mình trong khu vực và trên thế giới, thực
hiện cơ chế hợp tác toàn diện nhằm phát huy cao độ những lợi thế vốn có của
đất nước và đẩy nhanh quá trình hội nhập khu vực và quốc tế.

Đề tài “Quan hệ hợp tác giữa Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên
và Hàn Quốc thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh” đề cập một cách toàn diện quan
hệ giữa hai miền Triều Tiên trên góc độ, quan điểm của người Việt Nam,
phục vụ mục đích, lợi ích của Việt Nam và vì lợi ích hoà bình của cả khu vực.
3. Mục đích nghiên cứu
Xuất phát từ sự cần thiết và tình hình nghiên cứu như trên, mục tiêu của
luận văn chú trọng vào những điểm chính sau:
- Làm rõ sự tác động của bối cảnh quốc tế sau Chiến tranh Lạnh đối với
quan hệ Hàn Quốc – Triều Tiên, phân tích những nhân tố tác động, ảnh hưởng
đến mối quan hệ này. Phân tích và đánh giá chính sách của Triều Tiên đối với
Hàn Quốc và ngược lại.
- Phân tích và tổng hợp tình hình quan hệ hợp tác giữa hai miền Triều
Tiên trên các mặt chính trị - ngoại giao, kinh tế, văn hóa xã hội theo tiến trình
lịch sử cụ thể.
- Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong quan hệ giữa hai miền từ
đó đánh giá triển vọng hợp tác giữa hai miền về các lĩnh vực kinh tế, chính trị,
văn hóa xã hội cũng như đánh giá khả năng thống nhất thành một quốc gia
như trước đây, đồng thời đưa ra một số khuyến nghị để phát triển quan hệ của
Việt Nam với Hàn Quốc và Triều Tiên.

9
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Quan hệ hợp tác giữa Triều Tiên và Hàn Quốc
thông qua các lĩnh vực: chính trị ngoại giao qua các thời kỳ: 1988-1998,
2000-2003, 2003-2008, 2008-đến nay; lĩnh vực kinh tế: Quan hệ thương mại,
sự phát triển của Tổ hợp kinh tế Kaeseong, Dự án khu du lịch núi Kim
Cương, Dự án nối lại tuyến đường sắt Nam – Bắc và đường bộ; lĩnh vực văn
hóa - xã hội: Hoạt động của Hội chữ thập đỏ, hoạt động thi đấu thể thao, trợ
giúp lương thực và đoàn tụ các gia đình ly tán.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung vào phân tích khái quát tình

vực và chính sách của hai nước đối với nhau.
Chương 2: Quan hệ hợp tác giữa Hàn Quốc – Triều Tiên từ sau Chiến
tranh Lạnh. Tổng hợp và phân tích tình hình quan hệ hợp tác Hàn Quốc –
Triều Tiên từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay thông qua các lĩnh vực hợp tác
chính trị ngoại giao, kinh tế và văn hóa xã hôi.
Chương 3: Triển vọng quan hệ hợp tác giữa hai miền Triều Tiên. Đánh
giá những thuận lợi và khó khăn trong hợp tác, qua đó dự báo triển vọng hợp
tác trên một số lĩnh vực và đưa ra những kiến nghị nhằm phát triển quan hệ
của Việt Nam với Hàn Quốc và Triều Tiên trong thời gian tới. 11
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH HAI MIỀN
TRIỀU TIÊN SAU CHIẾN TRANH LẠNH
1.1. Tình hình quốc tế và khu vực sau Chiến tranh Lạnh
Chiến tranh Lạnh kết thúc kéo theo những biến chuyển sâu sắc của tình
hình thế giới và khu vực kể từ đầu thập niên những năm 90 đến nay và đã có
ảnh hưởng lớn đến mối quan hệ giữa Hàn Quốc và Triều Tiên.
Thứ nhất, thế giới đang trong thời kỳ quá độ từ Trật tự cũ để tiến tới
một Trật tự mới với sự phát triển nhanh chóng theo hướng đa cực với sự trỗi
dậy của một loạt các trung tâm quyền lực mới có ảnh hưởng lớn đến đời sống
chính trị quốc tế. Sau khi Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu
sụp đổ, Mỹ đã trở thành siêu cường duy nhất với sức mạnh vượt trội, nhưng
không còn giữ địa vị chi phối về mọi mặt như trước đây. Trong khi đó, các
trung tâm kinh tế quốc tế và các cường quốc khu vực như Nhật Bản, Tây Âu
(EU), Trung Quốc, Nga đều đang cố gắng vươn lên tạo cho mình một vị thế
có lợi hơn để chia sẻ quyền lực chi phối đời sống chính trị quốc tế. Có thể nói,

Thứ ba, xu thế toàn cầu hóa kinh tế, lấy kinh tế làm trọng cũng có tác
động thúc đẩy quan hệ giữa Hàn Quốc và Triều Tiên. Bài học của thời kỳ
chiến tranh lạnh đã chứng tỏ phương pháp quan hệ quốc tế lấy đối đầu chính
trị - quân sự là chủ yếu không còn phù hợp, phải chịu nhiều tổn thất hoặc thất
bại như hai nước Mỹ - Xô. Trong khi đó, phương thức lấy hợp tác và cạnh
tranh về kinh tế - chính trị là chính lại thu được nhiều tiến bộ, kết quả như các
nước Đức, Nhật và NIC. Sự hưng thịnh hay suy vong của một quốc gia được
quyết định bởi sức mạnh tổng hợp của quốc gia đó, mà chủ yếu là thực lực
kinh tế và khoa học - kỹ thuật.

13
Vì vậy, sau chiến tranh lạnh, tất cả các quốc gia đều đang ra sức điều
chỉnh chiến lược phát triển và tập trung mọi sức lực vào ưu tiên phát triển
kinh tế. Trong thời điểm hiện nay, kinh tế trở thành trọng điểm trong quan hệ
quốc tế. Cạnh tranh sức mạnh tổng hợp quốc gia thay thế cho chạy đua vũ
trang đã trở thành hình thức chủ yếu trong đọ sức giữa các cường quốc. Các
nước ngày càng nhận thức sâu sắc rằng, sức mạnh của mỗi quốc gia là một
nền sản xuất phồn vinh, một nền tài chính lành mạnh và một nền công nghệ
có trình độ cao và đó mới là cơ sở để xây dựng sức mạnh thật sự của mỗi
quốc gia. Bước sang thập kỷ 90, thế giới đã chứng kiến một tốc độ đổi mới
nhanh chóng công nghệ cùng với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách
mạng về công nghệ thông tin làm “đảo lộn cả thế giới”. Thế giới dần trở thành
một thị trường chung bất kể sự khác biệt về thể chế chính trị và trình độ phát
triển của mỗi quốc gia. Sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, các khu vực
theo đó ngày một tăng lên. Trong bối cảnh như vậy, các quốc gia buộc phải
tham gia hội nhập để tồn tại và phát triển. Hàn Quốc và Triều Tiên cũng
không ngoại lệ, đặc biệt là Triều Tiên. Sau một thời gian dài đóng cửa, những
năm gần đây, Triều Tiên đã bắt đầu tham gia và hội nhập với cộng đồng quốc
tế. Ở trong nước, chính phủ đã đề ra những tư tưởng, chính sách mới, đồng
thời thực hiện cải cách kinh tế, nâng cao mức sống người dân.v.v, còn về mặt

triển kinh tế, bước sang thập niên 90, khu vực Đông Bắc Á nổi lên thành một
trong những khu vực tập trung những nền kinh tế phát triển năng động trên
thế giới. Ngoài Nhật Bản là nền kinh tế đứng thứ hai thế giới, Trung Quốc và
Hàn Quốc cũng đang nổi lên là những “con rồng”, “con hổ” kinh tế trong khu
vực, trong đó đặc biệt là Trung Quốc, khi đó đang được coi là nền kinh tế lớn
thứ tư trên thế giới với tốc độ tăng trưởng trong nhiều năm liền đạt mức cao
nhất thế giới. Mặc dù vào cuối thập niên 90, khu vực Đông Bắc Á lâm vào

15
cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ nghiêm trọng khiến cho tốc độ phát triển
kinh tế bị ảnh hưởng đáng kể. Tuy nhiên, tiềm năng còn rất mạnh của mình,
khu vực Đông Bắc Á vẫn hiện đang là một trong những trung tâm kinh tế
năng động, có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của nền kinh tế thế giới.
Trào lưu phát triển kinh tế của khu vực đã có ảnh hưởng ít nhiều đến sự mở
cửa hội nhập của Triều Tiên nhưng cũng tạo ra khoảng cách kinh tế ngày càng
lớn giữa hai miền. Trong khi Hàn Quốc trở thành một trong bốn “con rồng
Châu Á” thì Triều Tiên vẫn đang trong tình trạng thiếu thốn và kém phát
triển. Điều này vô hình chung đã khiến quan hệ Hàn – Triều bị hạn chế phần
nào trong lĩnh vực hợp tác kinh tế cũng như giao lưu văn hóa, xã hội.
1.2. Chính sách của hai miền Triều Tiên sau Chiến tranh Lạnh
1.2.1. Chính sách của Triều Tiên đối với Hàn Quốc
Có thể thấy rằng kể từ sau khi hai nhà nước Triều Tiên và Hàn Quốc ra
đời cho đến khi Chiến tranh lạnh kết thúc Triều Tiên thi hành một chính sách
đối đầu, thù địch với Hàn Quốc. Chưa bao giờ Bình Nhưỡng chấp nhận sự tồn
tại của Seoul như một thể chế chính trị trên Bán đảo, cho dù trong những thập
niên 1970-1980, phía Hàn Quốc đã có nhiều dấu hiệu tích cực đối với việc
phát triển quan hệ với Triều Tiên.
Chiến tranh lạnh kết thúc cũng là lúc hầu hết các nước trên thế giới đều
có sự điều chỉnh chính sách đối ngoại cho phù hợp với tình hình mới, nhưng
Bình Nhưỡng hầu như không có thay đổi nào đáng kể. Tuy nhiên,khi hai nước

Vào cuối thập niên 1990, sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở
Đông Á, Bình Nhưỡng bắt đầu có những dấu hiệu thay đổi về đường lối đối
ngoại nói chung cũng như chính sách đối với Seoul nói riêng. Cuối năm 1998,
sau hơn 17 năm với 17 kì hội nghị Trung ương, cuối cùng, quá trình chuyển
giao quyền lực cho Kim Jong-il đã hoàn thành. Kim Jong-il được bầu làm
Chủ tịch Hội đồng quốc phòng, cơ quan lãnh đạo quân sự cao cấp nhất và

1
North Korea Policy trên Website:

17
chính thức nắm giữ toàn bộ quyền lãnh đạo cả về Đảng, Nhà nước và quân
đội. Lần đầu tiên, chính quyền Bình Nhưỡng thực hiện sửa đổi Hiến pháp, ghi
nhận một số khái niệm kinh tế thị trường, cho mở rộng quyền sở hữu và nới
rộng phạm vi sở hữu cá nhân; coi trọng tính kinh tế của hoạt động kinh
doanh; mở rộng phạm vi hoạt động thương mại, khuyến khích thành lập nhiều
loại hình xí nghiệp trong các đặc khu kinh tế.v.v.
Trong đường lối đối ngoại với Hàn Quốc, Kim Jong-il nêu ra chính
sách 5 điểm trong tác phẩm “Chúng ta hãy thống nhất nhà nước một cách độc
lập và hòa bình thông qua đại đoàn kết toàn thể dân tộc” bao gồm: (1) Đại
đoàn kết dân tộc phải triệt để dựa trên nguyên tắc độc lập dân tộc; (2) Toàn
thể dân tộc phải đoàn kết dưới ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước, ngọn cờ tái
thống nhất dân tộc; (3) Miền Bắc và miền Nam phải cải thiện quan hệ với
nhau; (4) Chúng ta phải bác bỏ sự thống trị và can thiệp của các lực lượng bên
ngoài; (5) Tất cả người Triều Tiên ở miền Bắc, miền Nam và ở bên ngoài cần
thăm viếng lẫn nhau, tổ chức tiếp xúc, xúc tiến đối thoại và tăng cường đoàn
kết. Điều gì đã khiến chính quyền Bình Nhưỡng vốn rất bảo thủ và thù địch,
không muốn tiếp xúc với bên ngoài lại có những thay đổi đáng kể như vậy.
Có thể thấy, lý do hàng đầu ở đây chính là vấn đề kinh tế. Ở Triều Tiên,
trong khi khoảng cách về sức mạnh quân sự thu hẹp lại với Hàn Quốc, thì

ngày càng xấu đi cho dù phía Hàn Quốc dưới chính quyền của tổng thống
Roh Moo Huyn vẫn kiên trì chính sách cam kết với Bình Nhưỡng.
Sự chỉ trích gay gắt của dư luận quốc tế cùng những biện pháp trừng
phạt của các nước dường như không thể làm Bình Nhưỡng suy chuyển. Seoul
sau khi chính quyền Lee Myung-Bak lên nắm quyền cũng bắt đầu có phản
ứng gay gắt và thực hiện đường lối cứng rắn đối với Bình Nhưỡng. Nhiều câu

19
hỏi đặt ra là tại sao lãnh đạo Triều Tiên lại có sự thay đổi đột ngột như vậy về
đường lối đối ngoại trong khi kinh tế Triều Tiên vẫn chưa có bước phát triển
đột phá nào, thậm chí vẫn còn đang trong tình trạng khủng hoảng lương thực
trầm trọng. Thực chất không phải chính thể Kim Jong-il không còn quan tâm
đến phát triển kinh tế mà hoàn toàn chạy theo việc phát triển vũ khí hạt nhân
để chống khủng bố thế giới. Việc làm thế nào để phát triển kinh tế đất nước
vẫn luôn là tham vọng của lãnh đạo Triều Tiên nhưng chính quyền Bình
Nhưỡng nhận ra rằng nếu chỉ trông chờ vào những khoản trợ giúp hảo tâm
của Hàn Quốc và các nước láng giềng thì kinh tế Triều Tiên sẽ khó có được
bước đột phá đáng kể, nhất là khi chính quyền hiện tại của Lee Myung-Bak
đang ngày càng chú trọng quan hệ với Mỹ hơn là quan tâm phát triển quan hệ
với Bình Nhưỡng. Đồng thời, Hàn Quốc đã đưa nhiều điều kiện với những trợ
giúp kinh tế của Seoul. Như vậy, “lá bài hạt nhân” là phương sách cuối cùng
của Bình Nhưỡng để kéo lại sự chú ý của Hàn Quốc cũng như quốc tế, giúp
Triều Tiên có được nhiều hơn qua các cuộc mặc cả.
Mặc dù việc thực hiện chính sách hạt nhân này có phần nguy hiểm, bởi
một mặt Triều Tiên sẽ bị sức ép, phản đối từ bên ngoài, thậm chí là khả năng
bị Mỹ tấn công như Iraq, còn mặt khác, sự suy kiệt trong nước do việc phát
triển hạt nhân có thể dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền. Tuy nhiên, Bình
Nhưỡng vẫn quyết định thực hiện. Đó là vì Triều Tiên hiểu rõ, trong tình hình
khu vực hiện nay, các nước láng giềng như Trung Quốc, Nhật Bản, Nga với
những lợi ích riêng chắc chắn sẽ không chấp nhận để Mỹ tấn công Triều Tiên

quyền sau đó.
Những diễn biến mới của tình hình thế giới và khu vực Đông Bắc Á
trong những thập niên cuối của thời kỳ Chiến tranh Lạnh khiến cho khả năng
thống nhất hai miền bằng bạo lực ngày càng trở nên khó thực hiện. Hơn nữa,

21
sự đối lập về ý thức hệ, về chế độ, về con đường phát triển.v.v. khó có thể
thúc đẩy hai miền Nam - Bắc đi nhanh đến thống nhất về mặt chính trị. Vì
vậy, trước hết, cùng giao lưu, thống nhất về kinh tế, xã hội, văn hóa sau đó
thống nhất về chính trị đã trở thành cách tiếp cận thực tế nhất của chính phủ
Hàn Quốc. Năm 1982, Tổng thống Chun Đô Hoan công bố “Công thức thống
nhất hòa bình mới” hay còn gọi là “Công thức hòa giải dân tộc và thống nhất
dân chủ”. Đối với Triều Tiên, Tổng thống Chun cho rằng “quan hệ không
bình thường” giữa hai miền Nam – Bắc sẽ chấm dứt và được thay thế bằng
“các cuộc tiếp xúc bình thường nhằm thúc đẩy sự thịnh vượng quốc gia”. Các
cuộc tiếp xúc này dựa trên các quan hệ bình thường hóa một cách đầy đủ và
nên mở rộng phạm vi trao đổi và hợp tác Nam – Bắc bao gồm các lĩnh vực
thương mại, giao thông, viễn thông và các lĩnh vực khác. Và trên thực tế,
chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra một loạt đề nghị với Triều Tiên về việc tiến
hành trao đổi các phái đoàn cấp cao chuẩn bị cho cuộc gặp thượng đỉnh giữa
các nhà lãnh đạo hai nước. Mặc dù kết quả đạt được trong giai đoạn này còn
hạn chế nhưng bước đầu đã có được sự đồng ý và hợp tác của phía Triều
Tiên.
Cuối thập niên 1980, cơ cấu Chiến tranh Lạnh bắt đầu rạn nứt và xu
hướng hòa giải, hợp tác ngày càng nổi trội. Điều này đã tạo ra môi trường
thuận lợi cho quá trình thống nhất Triều Tiên và Hàn Quốc cũng nhận thấy
rằng sự đối đầu căng thẳng giữa hai miền cần phải chấm dứt hoàn toàn. Tiếp
tục mở rộng chính sách của Tổng thống Chun Đô Hoan, người kế nhiệm là Rô
Tê U đã đưa ra chính sách “ngoại giao phương Bắc” với nội dung chủ yếu
nhằm cải thiện quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy hòa giải,

các phong trào chung của thế giới. Trong diễn văn kỉ niệm ngày giải phóng
15/08/1994, Tổng thống Kim đã đề nghị Triều Tiên từ bỏ chiến lược cộng sản

23
hóa miền Nam và đề nghị Triều Tiên tiến hành cải cách, kể cả việc cải thiện
nhân quyền. Hàn Quốc cũng hứa sẽ ra sức giúp đỡ và hợp tác với miền Bắc
thực hiện cải cách. Đây có thể nói là một sự điều chỉnh khá tích cực của chính
quyền dân sự mới lên cầm quyền ở Hàn Quốc. Điều đó chỉ ra rằng, con đường
để đi đến thống nhất hai miền phải bằng con đường hòa bình và hợp tác. Điều
này hoàn toàn phù hợp với xu thế chung trên thế giới đang chuyển từ hình
thức đối đầu sang đối thoại và hợp tác, đã có tác động không nhỏ đến quan hệ
hai miền Nam – Bắc.
Tuy nhiên, sau đó, trước những thách thức do Triều Tiên gây ra (khủng
hoảng hạt nhân, đụng độ trên biển…) chính quyền Kim Young Sam chuyển
hướng cho rằng Triều Tiên là kẻ thù nguy hiểm, chính vì thế đã điều chỉnh
chính sách của mình với nhiệm vụ hàng đầu là phải đảm bảo an ninh tối đa,
giảm căng thẳng, ngăn chặn một cuộc chiến tranh có thể bùng nổ trên bán
đảo. Mặt khác, Hàn Quốc cũng thực hiện chính sách can dự với Triều Tiên để
thực hiện thống nhất, tức là khuyến khích sự thay đổi trong chế độ Triều Tiên.
Chính quyền Seoul cho rằng, nếu sự thay đổi đó diễn ra nhanh chóng và hòa
bình thì có thể mọi việc sẽ tốt đẹp. Nhưng ngược lại, mọi cố gắng muốn cô
lập Triều Tiên và chờ đợi sự sụp đổ bất ngờ sẽ là vô cùng nguy hiểm. Sự rối
loạn ở miền Bắc có thể đem đến nguy cơ một cuộc xung đột vũ trang. Vì vậy,
Seoul vừa trực tiếp, vừa gián tiếp lôi kéo Triều Tiên tham gia đối thoại để giải
quyết các vấn đề của cả hai bên. Sáng kiến thiết lập cơ chế đàm phán bốn bên
(Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Triều Tiên) được đánh giá có ý nghĩa tích cực
nhằm cải thiện tình hình quan hệ hai miền đang căng thằng, bế tắc.
Có thể nói, sự cải thiện quan trọng nhất trong quan hệ giữa hai miền đó
là cuộc gặp thượng đỉnh năm 2000. Đây là kết quả của chính sách Triều Tiên
tích cực dưới chính quyền Kim Dea Jung. Rõ ràng việc Hàn Quốc nhấn mạnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status