ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG XUÂN CƯỜNG
QUAN HỆ NGA – GRUZIA
TỪ NĂM 1991 ĐẾN 2011
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ
Ngành: QUỐC TẾ HỌC
Chuyên ngành: QUAN HỆ QUỐC TẾ
Mã số: 60 31 02 06 LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. ĐINH CÔNG TUẤN
Hà Nội - 2012
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ NGA -
GRUZIA 14
1.1. Nhân tố lịch sử 14
1.1.1. Thời kỳ Nga Sahoàng (trước năm 1917) 14
1.1.2. Thời kỳ Liên Xô (1917 - 1991) 16
3.3. Triển vọng đến 2020 123
3.3.1. Những thuận lợi và thách thức trong quan hệ Nga - Gruzia 123
3.3.2. Triển vọng đến 2020 127
KẾT LUẬN 137
TÀI LIỆU THAM KHẢO 141
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1
ADB
The Asian Deverlopment Bank
Ngân hàng phát triển châu Á
2
ANDES
8
CARICOM
The Caribbean Community
and Common Market
Khu vực buôn bán mậu dịch
tự do vùng Caribê
9
CIS
Commonweath of
Inthependence States
Cộng đồng các quốc gia độc
lập
10
CSTO
Collective Security treaty
Organization
Tổ chức hiệp ước an ninh tập
thể
11
GATT
General Agreement on Tariffs
and Trade
Hiệp định buôn bán mậu dịch
tự do và thuế quan chung
12
G - 7
Group of Seven
Nhóm 7 nước công nghiệp
phát triển nhất thế giới
13
EU
European Union
Liên minh châu Âu
20
EAS
East Asia Summit
Hội nghị cấp cao Đông Á
21
MERCOSUR
Mercado Comu’ndel Sur
Khối thị trường chung Nam
Mỹ
22
NATO
North Atlantic Treaty
Organization
Khối quân sự Bắc Đại Tây
Dương
23
NICs
Newly Industrialized
Countries
Các nước công nghiệp mới
24
NPT
Nuclear Non - Proliferation
Treatyon
Hiệp ước không phổ biến vũ
khí hạt nhân
25
International Monetary Fund
Quĩ tiền tệ quốc tế
31
FDI
Foreign Direct Investment
Tổng vốn đầu tư trực tiếp
32
SAARC
South Asian Association for
Regional Cooperation
Hiệp hội hợp tác khu vực
Nam Á
33
SCO
Shanghai Cooperation
Organization
Tổ chức hợp tác Thượng Hải
34
SNG
Sodruzhestvo Nezavisimykh
Gosudarstv
Cộng đồng các quốc gia độc
lập
35
TNCs
Trans national Cooperations
Công ty xuyên quốc gia
36
UN
United Nations
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1: Nhịp độ phát triển GDP của Nga, Gruzia trong những năm đầu
thập niên 90
55
Bảng 2: Nhịp độ tăng trưởng GDP hàng năm của Nga, Gruzia
73
Bảng 3: Tăng trưởng GDP tính theo giá hiện hành của Nga, Gruzia
77
1
QUAN HỆ NGA - GRUZIA TỪ NĂM 1991 ĐẾN 2011
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nga và Gruzia là hai nước nằm ở khu vực Kavkaz, giữa hai nước có quan hệ
chặt chẽ với nhau về mặt lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa từ lâu đời.
Trong thời kỳ Nga Sahoàng trị vì ở nước Nga, vùng Batumi (Gruzia ngày
nay) là vùng ảnh hưởng, thuộc địa của đế quốc Nga hàng trăm năm.
Sau cách mạng tháng 10/1917, với sự ra đời của Liên bang cộng hòa Xã hội
chủ nghĩa Xôviết (Liên Xô). Cả Nga, Gruzia đều nằm trong thành phần Liên Xô với
tư cách hai nước cộng hòa trực thuộc.
Vào đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, sau những biến động chính trị, xã hội
to lớn ở Liên Xô dẫn tới việc Liên bang Xôviết phải tuyên bố giải thể vào ngày
30/12/1991. Nga và Gruzia đã tuyên bố trở thành những quốc gia độc lập và đều
được cộng đồng quốc tế thừa nhận.
mặt kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa đã góp phần làm cho quan hệ Nga - Gruzia
trở lên mâu thuẫn và phức tạp hơn.
Tất cả những mối quan hệ đan xen trái chiều nhau trong quan hệ của Nga với
Gruzia, từ khi hai nước này trở thành các quốc gia độc lập năm 1991 đến nay. Cùng
với sự tác động của các thế lực nước lớn: Mỹ, Liên minh châu Âu (EU), Trung
Quốc vào tình hình hai nước và khu vực, đã góp phần làm cho quan hệ Nga - Gruzia
luôn trở thành một chủ đề hấp dẫn, nóng bỏng trong quan hệ quốc tế cũng như quan
hệ ở khu vực Kavkaz, châu Âu từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay.
Vì những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Quan hệ Nga - Gruzia từ năm 1991
đến 2011” làm luận văn tốt nghiệp Cao học chuyên ngành Quốc tế học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về nước Nga, Gruzia và mối quan hệ giữa
hai nước trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao; kinh tế; văn hóa, khoa học
- kỹ thuật, không chỉ trong giai đoạn cả hai tách khỏi Liên bang Xôviết trở thành
các quốc gia độc lập từ năm 1991 đến 2011, mà ngay trong thời kỳ Nga và Gruzia
còn đứng chung trong “mái nhà Xô viết” giai đoạn 1917 - 1991.
2.1. Những công trình nghiên cứu về nước Nga, Gruzia và mối quan hệ giữa
hai nước trên lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao
3
Trong cuốn sách “Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG): Những vấn đề
chính trị và kinh tế nổi bật”, Đặng Minh Đức (chủ biên), (Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, 2011). Nhóm tác giả trong cụm công trình trên đã đi sâu phân tích mối quan
hệ chính trị, kinh tế giữa Nga, Gruzia với các nước thành viên SNG, sau gần 20 năm
hình thành tổ chức này (21/12/1991). Công trình nêu bật được những thành tựu nổi
bật của Nga, Gruzia và các quốc gia SNG trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị: hợp
tác phát triển kinh tế; khai thác năng lượng (dầu khí, thủy điện, khoáng sản); chống
chủ nghĩa khủng bố, ly khai, dân tộc cực đoan; buôn lậu ma túy Nhưng đồng thời
cũng nêu ra những thách thức mà Nga, Gruzia và các thành viên SNG đang gặp
phải: mâu thuẫn kinh tế, chính trị giữa các nước; tình trạng phát triển kinh tế chậm
Nghiên cứu châu Âu, số 8 (95), Hà Nội, 2008, tr.25 - 35). Trong bài viết, tác giả đã
đi sâu phân tích cuộc chiến nhìn từ góc độ của hai phía Nga và Gruzia. Đối với Nga,
cuộc chiến này là liều thuốc thử thực sự với họ. Thông qua việc tiến hành cuộc
“chiến tranh 5 ngày” chống lại chính quyền Tbilisi, Moscow muốn khẳng định với
Mỹ, phương Tây và các thế lực khác rằng: nước Nga đang trở lại là một cường quốc
như Liên Xô trước đây đã từng có. Bất kì thế lực nào muốn tranh giành ảnh hưởng
với Nga ở khu vực không gian hậu Xôviết mà bỏ qua quyền lợi của Moscow, thì
Cremli sẽ giánh trả lại các thế lực đó bằng mọi biện pháp có thể, kể cả bằng vũ lực.
Còn với chính quyền Tbilisi, họ cũng muốn tìm kiếm địa vị, ảnh hưởng mới
trong khu vực để phát triển đất nước, nên đẩy mạnh quan hệ với Mỹ, EU và các
quốc gia Nam Kazkav nhằm thoát khỏi ảnh hưởng của Nga. Gruzia còn muốn sử
dụng biện pháp quân sự để giành lại Abkhazia và Nam Ossetia, tách 2 vùng ly khai
này khỏi ảnh hưởng của Moscow. Nhưng những nỗ lực này của Tbilisi đã bị thất bại
do gặp phải phản ứng mạnh mẽ bằng biện pháp quân sự từ phía Nga.
“Xung đột tại Nam Ossetia: một hình mẫu xung đột trong thời đại toàn cầu
hóa”, (Bùi Hiền, Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, số 10(97), Hà Nội, 2008, tr.24 - 29).
Trong bài viết, tác giả đã phân tích rõ đặc điểm của cuộc xung đột tại Nam Ossetia,
đồng thời cũng đã nêu ra được một mô hình xung đột của quan hệ quốc tế đương
đại cùng những tham vọng, tính toán của các bên khi tham gia cuộc xung này.
“Từ Kosovo và Montenegro đến Nam Ossetia và Abkhazia cùng những khu
vực ly khai khác”, (Đức Minh - Hoài Phương, Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, số 9
(96), Hà Nội, 2008, tr.16 - 24). Trong bài viết, các tác giả đã đi sâu phân tích những
tác động của sự kiện Montenegro và Kosovo được độc lập đối với các khu vực ly
5
khai khác ở không gian hậu Xôviết, đặc biệt là đối với hai vùng lãnh thổ ly khai ở
Gruzia là Abkhazia và Nam Ossetia. Thái độ của các nước Mỹ, EU, phương Tây,
Nga và các tổ chức quốc tế đối với sự kiện độc lập của Kosovo và Montenegro. Hệ
quả tiêu cực của các sự kiện trên đối với các vùng ly khai ở trên thế giới, khu vực
SNG và Gruzia cũng như quan hệ quốc tế trong những năm tới đây.
Xôviết. Cuộc chính biến 19/8/1991 thất bại, đã dẫn đến một sự thực là: chủ nghĩa xã
hội không còn tồn tại ở Liên Xô nữa. Đây là tổn thất vô cùng to lớn đối với phong
trào cộng sản và công nhân quốc tế, cũng như phong trào cách mạng trên thế giới.
“South of Kavkaz, one year and half after “five days of war””, (Gaids
Minassian, Strategy Studying Group Magazine, France, March 2010). Tác giả đi sâu
phân tích tình hình Nam Kavkaz 18 tháng sau cuộc “chiến tranh 5 ngày” Nga -
Gruzia tháng 8/2008. Nga đã giành lại ảnh hưởng và lợi thế nhất định ở khu vực
này. Buộc các cường quốc thế giới: Mỹ, EU. Cường quốc khu vực: Thổ Nhĩ Kỹ.
Các nước trong vùng: Armenia, Azerbaijan và Gruzia phải chuyển hướng chính
sách, tái tổ chức lại vị thế của mình đề có thể đối phó với những sáng kiến hành
động của chính quyền Nga.
“The way the Russian Empire out of the crisis”, (Jeffrey Mankoff, Russie.
Nei.Visions Magazine, No 48, United States, March 2010). Nói về tác động của
cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ thế giới (2007 - 2010) tới nền kinh tế Nga. Ảnh
hưởng của cuộc khủng hoảng này tới chính sách đối ngoại của Moscow ở không
gian hậu Xôviết; khu vực Trung Á và Kavkaz; Mỹ; Trung Quốc; EU
2.2. Công trình nghiên cứu về nước Nga, Gruzia và mối quan hệ hai nước
trên lĩnh vực kinh tế
“Liên bang Nga trong nền kinh tế thế giới trước thềm thế kỷ XXI”, (Nguyễn
An Hà, Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, số 4, Hà Nội, 2000, tr.43 - 48). Tác giả đã nêu
ra những khó khăn kinh tế to lớn mà nước Nga gặp phải sau khi tách khỏi Liên Xô
trở thành một quốc gia độc lập năm 1991. Tiềm lực kinh tế suy giảm, sản xuất giảm
sút, lại chịu ảnh hưởng của những bất ổn chính trị trong nước và khủng hoảng kinh
tế kéo dài trong thập niên 1990 đã làm cho nền kinh tế Liên bang Nga đứng bên bờ
vực của sự sụp đổ. Những khó khăn, thách thức trên sẽ là những chướng ngại rất
lớn cho nền kinh tế của Liên bang Nga khi quốc gia này bước vào thế kỷ XXI.
“Hoạt động ngoại thương của các nước SNG trong những năm đầu thế kỉ
XXI”, (Đinh Mạnh Tuấn, Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, số 2 (50), Hà Nội, 2003, tr.
48 - 55). Tác giả đã đề cập đến mối quan hệ kinh tế, ngoại thương giữa giữa Nga
dân. Tuy nhiên việc xây dựng một xã hội và nhà nước phúc lợi với các thiết chế của
nó đòi hỏi một quá trình lâu dài.
8
Bên cạnh đó, các tác giả nước ngoài cũng có các công trình nghiên cứu về
nước Nga, Gruzia và mối quan hệ giữa hai nước trên lĩnh vực kinh tế.
“Why Russia don’t join WTO?”, (Anders Aslund, “The Washington
Quarterly” Magazine, No 4, United States, March 2010). Tác giả đã làm rõ những
nguyên nhân chính mà Nga không gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO)
bao gồm cách tiếp cận của giới lãnh đạo chính trị Nga, vấn đề thể chế, thái độ nước
lớn và những mâu thuẫn trong nội bộ giới chính trị Nga. Một nguyên nhân quan
trọng nữa mà Nga chưa thể gia nhập tổ chức WTO sớm được là do những cản trở từ
Mỹ, EU và Gruzia. Những căng thẳng chính trị với Gruzia (đặc biệt là sau cuộc
chiến tranh 5 ngày Nga - Gruzia tháng 8/2008) đã ảnh hưởng tiêu cực đến vòng đàm
phán WTO của Moscow với nước này. Đây là những lý do chính khiến Nga không
gia nhập WTO.
“Russia, accession prospect increasingly fragile”, (Sergey Minaev, business
report, Russia, August 2008). Trong bài viết, tác giả đã phân tích những khó khăn
của Nga khi gia nhập WTO bởi giữa Moscow và EU, Mỹ vẫn bất đồng với nhau
trong nhiều vấn đề: Nga chưa hủy bỏ biện pháp thu phí hai lần với máy bay nước
ngoài bay trên lãnh thổ Nga, trợ giá cho nông nghiệp…Nga vẫn tiếp tục tuyên bố
chỉ gia nhập WTO theo điều kiện của mình, còn phương Tây thì tiếp tục nghi ngờ
thành tâm của Nga thực hiện những thỏa thuận đã đạt được. Những trở ngại này sẽ
làm cho triển vọng gia nhập WTO của Nga ngày càng mong manh.
“Russia: Resulf of 4 working years of President Medvedev”, (Pavel Danillin,
Independent Newspaper, Russia, 15 October 2011). Tác giả đã nêu bật được những
thành tựu mà ông Medevedev đạt được sau 4 năm làm tổng thống Liên bang Nga.
Đó là: giành thắng lợi trong “cuộc chiến 5 ngày” với Gruzia tháng 8/2008, giành
quyền đăng cai Olimpic mùa đông Sochi năm 2014, giải vô địch khúc côn cầu thế
giới năm 2016, vòng chung kết World Cup 2018. Cùng với hàng loạt các thành tựu
Người Hồi giáo ở Nga có quan hệ gắn bó với người Hồi giáo ở Gruzia, Azerbaijan
…Đồng thời cũng chỉ ra những mâu thuẫn, xung đột về văn hóa, dân tộc, tôn giáo
giữa các nước ở trong khu vực: người Hồi giáo ở Nga có mâu thuẫn với người theo
đạo Chính thống giáo. Người Ossetia nói tiếng Batư mâu thuẫn gay gắt với người
Gruzia nói tiếng Kavkaz, người Armenia theo đạo Chính thống có mâu thuẫn với
người Azerbaijan theo Hồi giáo…Điều này đã tạo nên bức tranh văn hóa rất đa dạng
và phức tạp ở khu vực Kavkaz và SNG.
10
Bên cạnh đó, tác giả cũng đã nêu bật sự hợp tác giáo dục, khoa học - kỹ thuật
giữa Nga với Gruzia và các nước SNG khi các nước đã tiến hành xây dựng được
một không gian thông tin chung nhằm mở rộng khả năng trao đổi thông tin giữa các
nước. Bản kế hoạch tổng thể về dự án này đã Hội đồng Nguyên thủ các quốc gia
SNG phê duyệt vào năm 1998.
Trong cuốn sách “Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG): những vấn đề
kinh tế - chính trị nổi bật” của tác giả Đặng Minh Đức (chủ biên), (Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội, 2011, tr.60 - 72) đã phân tích sâu sắc những sự đa dạng về xung đột
văn hóa, dân tộc, tôn giáo và ly khai tại Nga, Gruzia và các nước SNG trong những
năm vừa qua với những nguyên nhân sau: 1)Tranh chấp lãnh thổ liên quan trực tiếp
đến các cuộc xung đột sắc tộc, văn hóa. Vấn đề này thường có quan hệ mật thiết với
Nga. 2)Nguyên nhân và trách nhiệm của phía Nga. Bản thân nước Nga cũng muốn
tạo “vùng đệm” an toàn cho mình và răn đe những quốc gia SNG muốn thân Mỹ và
phương Tây và tách khỏi quĩ đạo ảnh hưởng của Nga. 3)Nguyên nhân về kinh tế, xã
hội. 4)Nguyên nhân đã ngôn ngữ, đa văn hóa. 5)Nguyên nhân đa dân tộc, sắc tộc và
đa tôn giáo cùng với những biến động phức tạp về nhân khẩu học. 6)Nhân tố ô
nhiễm, suy thoái môi trường và sự không công bằng trong việc phân chia tài nguyên
thiên nhiên. 7)Nguyên nhân lịch sử về phân bố, di cư dân tộc, lãnh thổ. 8)Nguyên
nhân lịch sử - mối quan hệ quá khứ của các dân tộc, sắc tộc với bộ máy cai trị. 9)
Nguyên nhân đức tin. 10)Sự yếu kém của hệ thống bộ máy chính trị của các cấp
chính quyền, đặc biệt là chính quyền cấp cơ sở. 11)Nguyên nhân hối lộ, tham nhũng
sự du nhập của tiếng Anh (và mức độ nhỏ hơn nhiều của các ngôn ngữ khác) nhưng
tiếng Nga vẫn có vị trí rất quan trọng tại Gruzia và các nước thuộc Liên Xô cũ.
Riga, thủ đô của Latvia, phần lớn vẫn nói tiếng Nga. Ở Ucraina cũng vậy. Minks
gần như hoàn toàn nói tiếng Nga. Trong giới tinh hoa chính trị ở Trung Á, Gruzia
và các nước Nam Kavkaz, tiếng Nga vẫn là ngôn ngữ thứ hai. Như vậy, ảnh hưởng
của tiếng Nga và văn hóa Nga ở không gian hậu Xôviết vẫn rất sâu rộng, mối quan
hệ văn hóa giữa nước Nga với Gruzia và các nước SNG vẫn rất gắn bó, khăng khít.
“Almanach 5000 years, world civilization” của hai tác giả Chu Hữu Chí,
Khương Thiếu Bá (đồng chủ biên) (Publisher Beijing, China, 2004) đã giới thiệu
một cách sâu sắc nền văn hóa của các dân tộc Nga, Gruzia, Azerbaijan, Armenia
cùng các tôn giáo như: Chính thống giáo, Hồi giáo, Thiên chúa giáo…ở khu vực
Kavkaz. Đồng thời cũng nêu ra những mâu thuẫn về dân tộc, tôn giáo, văn hóa giữa
người Nga với Gruzia và các dân tộc ở khu vực này.
12
Tóm lại: Tất cả các công trình trên đã phân tích khá toàn diện về tình hình
nước Nga, Gruzia và mối quan hệ hai nước trên các lĩnh vực chính trị, quân sự,
ngoại giao, kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật. Đồng thời nêu ra được những
thuận lợi cũng như mâu thuẫn, xung đột mà cả hai đang gặp phải trong suốt hai thập
kỷ trở thành hai quốc gia độc lập (1991 - 2011).
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Làm rõ thực trạng quan hệ Nga - Gruzia trên các lĩnh vực: chính trị, an ninh,
ngoại giao, kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật từ năm 1991 đến năm 2011. Từ đó
phân tích ảnh hưởng của mối quan hệ này đến quan hệ quốc tế và khu vực. Đồng
thời đánh giá triển vọng quan hệ Nga - Gruzia đến năm 2020.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện mục tiêu trên nhiệm vụ của luận văn là:
Phân tích làm rõ những nhân tố cơ bản tác động đến quan hệ Nga - Gruzia.
Phân tích quan hệ Nga - Gruzia trên các lĩnh vực chính trị, an ninh, đối ngoại
14
CHƯƠNG 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ NGA -
GRUZIA
1.1. Nhân tố lịch sử
1.1.1. Thời kỳ Nga Sahoàng (trước năm 1917)
Nga và Gruzia là hai quốc gia nằm ở khu vực Kavkaz, đây là khu vực có lịch
sử, văn hóa, tôn giáo, dân tộc rất đa dạng và phức tạp.
Về dân tộc - tôn giáo: Kavkaz là vùng đất có sự đa dạng về sắc tộc với các
tộc người chính: người Nga, Armenia, Gruzia, Azerbaijan, Abkhazia Người Nga,
Armenia, Gruzia chủ yếu theo đạo Chính thống giáo; người Azerbaijan, Abkhazia
Pskov và Ryzan; cháu trai ông Ivan IV (1533 - 1584) người đã thông qua các cuộc
chinh phục Kazan và Astrakhan, đã biến nhà nước sắc tộc Nga với giáo hội Cơ đốc
giáo chính thống thành một đế chế đa sắc tộc với yếu tố Hồi giáo đáng kể - và tuy
thế, ngày càng Nga hóa. Năm 1703, Pie Đạiđế lên nắm quyền ở nước Nga và trong
suốt 70 năm sau khi ông lên nắm quyền, người Nga đã thực dân hóa Siberi và vươn
tới bờ biển Thái Bình Dương. Trong thế kỷ XIX, Nga đã cạnh tranh gay gắt với các
nước về quyền kiểm soát các vùng lãnh thổ nằm giữa họ. Phần Lan và các nhà nước
Baltic; Ba Lan và các nước Balkan; khu vực Kavkaz và Trung Á; Mông Cổ và Mãn
Châu Lý [37, tr.16-17].
Do có vị trí xung yếu và đặc biệt quan trọng ở châu Âu nên trong suốt thế kỷ
XIX, Kavkaz đã trở thành địa bàn tranh giành ảnh hưởng giữa các cường quốc:
Anh, Nga, Ốttôman, Pháp quyết liệt là giữa đế quốc Nga và Ốttôman.
Năm 1807 - 1812, cuộc chiến tranh kéo dài 5 năm giữa Nga - Ốttôman đã
diễn ra và nước Nga giành thắng lợi trong cuộc chiến này. Tại Hội nghị Viên (Áo)
năm 1815, 3 cường quốc thắng trận trong cuộc chiến với đế chế Napênêông I là:
Anh, Áo, Phổ đã yêu cầu Ốttôman phải trao cho đế quốc Nga vùng Batumi…nước
Nga đã giành được từ Ốttôman những vùng đất này. Năm 1853 - 1856, Nga và
Ốttôman diễn ra cuộc chiến tranh lần I, với sự hậu thuẫn của Anh, Phổ, Pháp, Áo -
Hung Ốttôman đã giành thắng lợi trong cuộc chiến này và giành lại vùng Batumi
từ tay Nga Sahoàng. Nước Nga vẫn không có lối ra Biển Đen và Địa Trung Hải.
Năm 1877 - 1878, Nga và Ốttôman diễn ra cuộc chiến tranh lần II và đế quốc
Nga đã giành thắng lợi. Tại Hội nghị 7 cường quốc (Anh, Pháp, Nga, Đức, Ý, Áo -
Hung, Ốttôman) ở Berlin (Đức) năm 1878, Ốttôman đã phải trả lại cho nước Nga
vùng Batumi (Gruzia ngày nay). Từ sau cuộc chiến này, đến khi Cách mạng tháng
16
Mười Nga thành công (7/11/1917), vùng Batumi và Kavkaz thuộc chủ quyền của
nước Nga Sahoàng.
1.1.2. Thời kỳ Liên Xô (1917 - 1991)
1.1.2.1. Những đóng góp của Nga, Gruzia đối với sự phát triển Liên Xô
kế thừa duy nhất kho vũ khí hạt nhân khổng lồ mà Liên Xô đã để lại.
Về lĩnh vực kinh tế - khoa học kỹ thuật: Gruzia có nhiều điểm du lịch, nghỉ
dưỡng rất có giá trị ở Gori, Batumi, Sokhumi đồng thời cung cấp cho Liên Xô các
sản phẩm nông nghiệp nổi tiếng: nho, ôliu, thuốc lá Còn với Nga, đóng góp của họ
với nền kinh tế Liên Xô rất to lớn: chiếm 60% sản lượng nông nghiệp, 70% công
nghiệp, 70% nguồn tài nguyên của toàn liên bang. Những thành tựu vĩ đại của nền
khoa học Xôviết: vệ tinh SPUTNIK 1; tàu vũ trụ Phương Đông 1 là niềm tự hào
của nhân dân Liên Xô và của cả nhân loại. Tên tuổi của các nhà khoa học: Sukhoi,
Tubonev, Gagarin…sẽ mãi được lịch sử nhân loại ghi danh.
1.1.2.2. Liên Xô tan rã và sự ra đời của nhà nước Liên bang Nga, Gruzia
Đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, trên thế giới đã diễn ra cuộc khủng hoảng
năng lượng do ảnh hưởng của cuộc chiến tranh Trung Đông lần 4 (năm 1973), các
nước Arập thuộc OPEC đã tiến hành cấm vận dầu lửa các đồng minh phương Tây
của Israel và đẩy giá dầu tăng cao chưa từng có trong lịch sử từ 2 USD/thùng lên 32
USD/thùng vào cuối năm 1973. Tháng 2/1979, cuộc Cách mạng Hồi giáo Iran do
Đại giáo chủ Khomeni lãnh đạo đã lật đổ nhà độc tài Palevi thân Mỹ, sự kiện này đã
đẩy thế giới vào một cuộc khủng hoảng năng lượng lần thứ 2 trong vòng chưa đầy 1
thập kỷ. Để đối phó với tình trạng khủng hoảng năng lượng các nước tư bản đã đi
sâu vào cải cách kinh tế, đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất
nhờ vậy họ đã từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, xã hội. Trong khi đó các
nhà lãnh đạo các nước Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô lại cho rằng, cuộc
khủng hoảng năng lượng này không ảnh hưởng đến mình nên chậm đổi mới về kinh
tế, khoa học công nghệ Đến cuối thập niên 70, đầu thập niên 80, hầu hết các nước
Đông Âu và Liên Xô đều lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội.
Tại Liên Xô, sau khi Brezhnev mất năm 1982, Liên Xô liên tục có sự thay
đổi lãnh đạo, trong khi kinh tế cũng lâm vào tình trạng khủng hoảng trì trệ. Tại Đại
hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ XXVIII vào tháng 3/1985, Gorbachev được bầu
làm Tổng bí thư. Ngay sau khi nắm quyền, Gorbachev đã thi hành hàng loạt các
chính sách cải cách đối nội và đối ngoại.