LỰA CHỌN vấn đề dạy và PHƯƠNG PHÁP ôn tập CHO học SINH GIỎI QUỐC GIA KHI GIẢNG dạy CHUYÊN đề QUAN hệ QUỐC tế từ năm 1919 đến năm 2000 (2) - Pdf 31

Lựa chọn nội dung và phương pháp ôn tập cho học sinh giỏi
quốc gia khi giảng dạy chuyên đề Quan hệ quốc tế từ năm
1919 đến năm 2000.
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thứ nhất, việc lựa chọn chuyên đề Quan hệ quốc tế nói chung và Quan hệ quốc tế
trong thời kì lịch sử thế giới hiện đại từ năm 1919 đến năm 2000, xuất phát từ việc thực
hiện đúng tinh thần, đường lối Đổi mới của Đảng phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, quan
hệ đối ngoại của nước ta ngày càng mở rộng theo phương châm đa phương hóa, đa dạng
hóa trên tinh thần Việt Nam muốn là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong
cộng đồng quốc tế phấn đầu vì hòa bình, hợp tác và phát triển. Do đó, việc hiểu biết về lịch
sử quan hệ quốc tế là điều vô cùng cần thiết, quan trọng.
Thứ hai, xuất phát từ vị trí ảnh hưởng của chuyên đề Quan hệ quốc tế từ năm 1919
đến năm 2000 đối với chương trình dạy học tại các lớp chuyên Sử
Nội dung chuyên đề, nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về
lịch sử quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ quốc tế trong giai đoạn từ năm 1919 đến năm
2000; về mối quan hệ giữa các quốc gia, những biến động lớn trong quan hệ quốc tế hiện
nay.... Nội dung chuyên đề đảm bảo chuẩn kiến chức và chuẩn kiến thức kĩ năng của môn
học, vừa đảm bảo những tri thức về lịch sử, vừa gợi mở những suy nghĩ về hiện tại và
tương lai; vừa mang tính lí thuyết, vừa có ý nghĩa thực tiễn đối với sự hội nhập quốc tế của
đất nước. Hệ thống các câu hỏi liên quan mật thiết với kiến thức cơ bản, mang tính thực tế
cao và được trả lời một cách khoa học, logic...
Mặt khác, chuyên đề này càng có ý nghĩa quan trọng hơn, quyết định đến chất
lượng thi HSGQG môn Lịch sử: hàng năm nội dung liên quan tới Quan hệ quốc tế được
vận dụng nhiều trong các đề thi HSGQG như năm 2005, 2006, 2009, 2010, 2011, 2013.
Tuy nhiên, trong sách giáo khoa Lịch sử lớp 11 (chương trình nâng cao) các nhà
nghiên cứu, biên soạn không đưa phần Quan hệ quốc tế từ năm 1919 – 1945 vào chương
trình dạy thành một bài, một chương hoặc chuyên đề cụ thể mà nội dung Quan hệ quốc tế
nằm xen lẫn trong các mục nhỏ, các bài, ở các chương: chương VIII; IX; X. Còn SGK Lịch
sử lớp 12 được cấu trúc rõ ràng thành hai chương riêng biệt (chương I và chương V).
1

Từ những mục đích trên, nội dung chuyên đề: “Lựa chọn nội dung và phương pháp
ôn tập cho học sinh giỏi quốc gia khi giảng dạy chuyên đề Quan hệ quốc tế từ năm 1919
đến năm 2000” tập trung vào các chủ đề sau:
Phần I. Lựa chọn nội dung ôn tập phần Quan hệ quốc tế từ 1919 – 2000
2


I. Nội dung cơ bản của Quan hệ quốc tế từ 1919 – 2000
II. Một số chủ đề chuyên sâu về Quan hệ quốc tế 1919 – 2000
Phần II. Phương pháp kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển năng lực cho
HSGQG khi ôn tập chuyên đề Quan hệ quốc tế từ 1919 – 2000
B. PHẦN NỘI DUNG
PHẦN I. LỰA CHỌN NỘI DUNG ÔN TẬP PHẦN QUAN HỆ QUỐC TẾ TỪ
NĂM 1919 ĐẾN NĂM 2000.
VẤN ĐỀ I. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUAN HỆ QUỐC TẾ TỪ 1919 – 2000
NỘI DUNG 1: QUAN HỆ QUỐC TẾ GIỮA HAI CUỘC CHIẾN TRANH
THẾ GIỚI (1919 – 1939)
Phần nội dung kiến thức Quan hệ quốc tế (1919 – 1939) nằm trong chương trình
nâng cao của bộ môn Lịch sử lớp 11, nhưng chưa được đưa vào thành một chương, một bài
cụ thể. Do đó, một số kiến thức đã được học ở chương VII, VIII, IX, chúng tôi không đi
sâu vào nội dung chi tiết đầy đủ mà chỉ khái quát, tổng hợp, xây dựng dàn ý để hướng học
sinh làm rõ nét nổi bật trong quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh (1918 – 1939).
I. Sự hình thành trật tự thế giới mới sau Chiến tranh thế giới thứ nhất
(1919 – 1929)
1. Bối cảnh lịch sử.
- Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc đã mở ra thời kì mới trong quan hệ quốc
tế, làm thay đổi cục diện tình hình thế giới, đặc biệt là châu Âu: Hai nước tư bản lâu đời
Anh, Pháp đều thắng trận nhưng nền kinh tế đều bị suy yếu và trở thành con nợ của Mĩ.
Italia – một đồng minh ốm yếu trong chiến tranh bị xâu xé bởi cuộc đấu tranh trong nước
và khủng hoảng trầm trọng. Ba nước đế quốc rộng lớn như Nga, Đức, Áo – Hung lần lượt

giải quyết những bất đồng về quyền lợi tại Hội nghị Oa-sinh-tơn.
* Hội nghị Oasinhtơn (1921 – 1922)
- Ngày 12 – 11 – 1921, Hội nghị Oa-sinh-tơn khai mạc với sự tham gia của 9
nước, trong đó quyền quyết định thuộc về Mĩ. Hội nghị thông qua các Hiệp ước: Hiệp ước
4 nước Anh – Pháp – Mĩ – Nhật được gọi “HƯ không xâm lược ở Thái Bình Dương”; Hiệp
ước 9 nước công nhận “nguyên tắc hoàn chỉnh về lãnh thổ và tôn trọng chủ quyền của
Trung Quốc”; Hiệp ước 5 nước “hạn chế vũ trang và hải quân”.
- Những thỏa thuận thông qua các Hiệp ước trên Mĩ đã giải quyết được quyền
lợi của mình bằng cách thiết lập một khuôn khổ trật tự mới ở châu Á – Thái Bình Dương
do Mĩ chi phối.
3. Hệ quả
- Những thỏa thuận của các cường quốc thắng trận tại Hội nghị hòa bình ở Vécxai (1919 – 1920) và Hội nghị Oa-sinh-tơn (1921 – 1922), đã tạo ra khuôn khổ trật tự thế
giới mới, thường được gọi là trật tự Hệ thống Vecsxai – Oasinhtơn.
4


- Với hệ thống V – O, trật tự thế giới mới được thiết lập phản ánh so sánh lực
lượng mới giữa các nước tư bản. Các nước thắng trận, trước hết là Anh, Pháp, Mĩ, Italia,
Nhật Bản, giành được nhiều quyền lợi về kinh tế và xác lập sự áp đặt, nô dịch đối với các
nước bại trận, đặc biệt là các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc. Đồng thời, ngay giữa các
nước tư bản thắng lợi cũng nảy sinh sự bất đồng do mâu thuẫn về quyền lợi giữa các nước
đế thỏa mãn với hệ thống V – O với những nước không thỏa mãn. Chính vì vậy, quan hệ
hòa bình giữa các nước tư bản trong thời gian này chỉ là tạm thời và mỏng manh..
- Để duy trì trật tự thế giới mới, một tổ chức quốc tế được thành lập, Hội Quốc
Liên – một tổ chức chính trị mang tính quốc tế đầu tiên với sự tham gia của 44 nước thành
viên, nhưng không đủ sức mạnh nên bị các nước ĐQ chi phối và trở thành công cụ của
chúng, nên TTTG dễ bị tan vỡ
Như vậy, sự phân chia TG theo hệ thống V – O đã chứa đựng mâu thuẫn không
thể dung hòa giữa đế quốc với đế quốc (nhất là quyền lợi thuộc địa), hòa bình được lặp lại
giữa các nước nhưng chỉ là tạm thời và mỏng manh với diễn biến phức tạp, chồng chéo,

của chúng trong quan hệ quốc tế)
* Điểm giống nhau.
- Về kinh tế: các nước đi theo con đường phát xít đều nghèo tài nguyên, ít
thuộc địa hoặc thị trường tiêu thụ hẹp, bị tổn thất nặng nề sau khủng hoảng kinh tế.
- Về bản chất: các nước đều thực hiện nền chuyên chính khủng bố công khai
của các phần tử phản động nhất, sô vanh nhất, đế quốc nhất của tư bản tài chính...
- Mưu đồ và thái độ trong quan hệ quốc tế: giới cầm quyền ở các nước đều bất
mãn với hệ thống V – O, đều có mưa đồ dùng vũ lực và chiến tranh để chia lại thế giới...
* Khác nhau
Nội
CNPX Đức
CNPX Iatalia
CNPX Nhật
dung
- Sau khủng hoảng kinh tế - Năm 1929 các tập đoàn - khác với Đức quá
Quá
trình xác Đảng Quốc xã đã đưa Hitle lên tài chính đã đưa trình phát xít hóa
cầm quyền (1/1933) và ráo riết Mutxônili
lập
lên
nắm diễn ra thông qua sự
thiết lập nền chuyên chính độc quyền và xác lập chế độ chuyển đổi từ chế độ
tài công khai: thay thế nền dân độc tài phát xít. Tháng dân chủ đại nghị
chủ đại nghị bằng chế độ PX
10/1929 chúng tổ chức sang chế độ chuyên
- Tăng cường các hoạt động cuộc tấn công vào thành chế độc tài phát xít,.
chuẩn bị chiến tranh. Tháng Rooma, lật đổ chế độc - Quá trình này diễn
10/1933 rút chân khỏi Hội dân chủ đại nghị.
ra thông qua việc
Quốc Liên. Năm 1935 ban - Thực hiện các chính quân phiệt hóa bộ

bản phát triển gay gắt, phong trào đấu tranh của quần chúng lên cao
- Để cứu vãn tình thế và giải quyết hậu quả của khủng hoảng, trong thế giới tư
bản hình thành hai xu hướng tìm kiếm con đường phát triển khác nhau:
+ Các nước có ít thuộc địa ngày càng thiếu vốn, thiếu nguyện liệu và thị
trường đã đi theo con đường phát xít hóa chế độ chính trị (điển hình là Đức, Ý, Nhật).
Chúng thực hiện chế độ độc tài phát xít, hình thành khối liên minh phát xít Đức – Ý –
Nhật (gọi phe Trục) Giai cấp tư sản phản động ở các quốc gia này chủ trương dùng vũ lực
phát động chiến tranh phân chia lại thị trường thuộc địa.
+ Các nước Anh, Pháp, Mĩ có nhiều thuộc địa, có thị trường rộng lớn chủ
trương tiếp tục duy trì chế độ đại nghị, duy trì nguyên hệ thống V – O.
Điều này, dẫn tới sự hình thành hai khối đế quốc đối lập: khối phát xít ( Đ –
Y – N) và khối dân chủ (A – P – M). Cuộc chạy đua vũ trang giữa hai khối đã phá vỡ trật
tự Hệ thống V – O. Quan hệ quốc tế trở lên căng thẳng, phức tạp, chồng chéo, dẫn tới sự
hình thành các lò lửa chiến tranh, đó là dấu hiệu của cuộc chiến tranh thế giới mới khó có
thể tránh khỏi.
2. Quan hệ quốc tế và con đường dẫn tới chiến tranh
- Vào cuối những năm 30 của thế kỉ XX, quan hệ quốc tế trở nên vô cùng phức
tạp và căng thẳng. Sự ra đời của CNPX càng khoét sâu mâu thuẫn trong khối đế quốc về
thuộc địa và thị trường, ba nước Đức, Italia, Nhật Bản đi theo đường lối gây chiến tranh
chia lại thế giới. Đức và Nhật rút chân khỏi Hội Quốc Liên (1933) cùng với Italia liên kết
thành khối liên minh phát xít (1937) được mệnh danh là “Trục Béclin – Rôma – Tôkiô”
thường gọi tắt là phe trục. Khối liên minh này vừa chống Quốc tế cộng sản (Liên Xô), vừa
muốn gây chiến tranh chia lại thế giới.
- Từ năm 1931 – 1937, khối phát xít vừa chống Cộng sản, vừa mở rộng bành
trướng xâm lược thị trường TG: Nhật xâm lược Trung Quốc, khiêu khích biên giới Trung –
7


Xô. Phát xít Italia xâm lược Ê-ti-ô-pia (1935), cùng với Đức giúp đảng phát xít của Phrancô gây nội chiến ở Tây Ban Nha, lật đổ chính quyền cộng hòa. Phát xít Đức với tham vọng
thành lập nước “Đại Đức” mở rộng lãnh thổ ở Châu Âu ...

8


- Trật tự thế giới được hình thành sau chiến tranh thế giới thứ nhất (TT Vécxai –
Oasinhtơn) chứa đựng nhiều mâu thuẫn, bất ổn không thể dung hòa về quyền lợi kinh tế,
lãnh thổ, về thuộc địa giữa các nước ĐQ.
- Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933) gây hậu quả nặng nề cho các
nước TB, quyền lợi về kinh tế, thuộc địa không được giải quyết đã hình thành ở châu Âu
hai khối đế quốc đối địch nhau giữa khối dân chủ (A – P – M) và khối phát xít (Đ – Y –
N). Điều này càng làm mâu thuẫn giữa các nước thêm sâu sắc.
- Quan hệ quốc tế ngày càng căng thẳng, phức tạp, chồng chéo giữa hai khối đế
quốc đối địch nhau : khối ĐQ Anh- Pháp – Mĩ và khối phát xít (Đức – Ý – Nhật). Nhưng
cả hai đều mâu thuẫn với Liên Xô (khối XHCN). Trong đó, phe phát xít vừa mở rộng bành
trướng xâm lược đòi chia lại thị trường, vừa chống Cộng sản (Liên Xô). Còn Anh – Pháp –
Mĩ đều có mục tiêu chung là muốn giữ nguyên trật tự thế giới V – O và hệ thống thuộc địa
của mình. Họ lo sợ sự bành trướng của CNPX nhưng vẫn thù ghét CNCS. Vì thế, giới cầm
quyền A – P - M đã từ chối liên minh với LX để chống phát xít. Ngược lại, Anh, Pháp chủ
trương thực hiện chính sách nhượng bộ với phát xít đổi lấy hòa bình và tiêu diệt Liên Xô.
Đỉnh cao của chính sách dung dưỡng thỏa hiệp là HN Muy – ních (9/1938) giữa Anh –
Pháp với Đức.....
Như vậy, thủ phạm gây ra cuộc chiến tranh là phe phát xít (đại diện Đức – Ý –
Nhật) với bản chất hiếu chiến chúng thể hiện rõ tham vọng điên cuồng của mình trong việc
bành trướng thế lực. Ngược lại, thái độ của Anh – Pháp – Mĩ trong việc từ chối liên minh
với Liên Xô, thực hiện chính sách dung dưỡng, thỏa hiệp đã tạo điều kiện cho phe phát xít
gây ra chiến tranh thế giới.
NỘI DUNG 2 : QUAN HỆ QUỐC TẾ TRONG CHIẾN TRANH THẾ GIỚI
THỨ HAI (1939 – 1945)
Phần này được đề cập trong chương X: Chiến tranh thế giới thứ hai 1939 –
1945, nhưng không thành mục riêng, vì vậy chúng tôi thường khái quát làm nổi bật nét đặc
trưng cơ bản trong mối quan hệ quốc tế giữa các nước tham gia Chiến tranh.

- Sự liên kết của các nước Đồng minh đã tạo nên nhiều thắng lợi lớn có tính chất
quyết định, làm xoay chuyển cuộc diện chiến tranh: từ chiến tranh phi nghĩa sang chiến
tranh chính nghĩa, chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt, chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc.
- Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đã kết thúc một thời kì đấu tranh căng
thẳng, phức tạp trong quan hệ quốc tế giữa các cường quốc tư bản phương Tây xoay quan
vấn đề thuộc địa. Tạo nên sự chuyển biến căn bản của tình hình thế giới : Liên Xô và các
nước XHCN ở Đông Âu ngày càng lớn mạnh ; các nước phát xít bị tiêu diệt ; Anh, Pháp
đều bị suy kiệt và lệ thuộc vào Mĩ. Riêng nước Mĩ ngày càng phát triển về mọi mặt và trở
thành cường quốc số 1 thế giới. Một thời kì mới trong quan hệ quốc tế mới hình thành

10


NỘI DUNG 3: QUAN HỆ QUỐC TẾ TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI
THỨ HAI ĐẾN NAY (1945 – 2000)
Phần nội dung này được đề cập chi tiết trong chương I (bài 1) và chương V (bài
10) – SGK lớp 12 – ban Nâng cao. Vì vậy, nội dung kiến thức cơ bản chúng tôi không đi
vào chi tiết mà chỉ định hướng, các vấn đề dạy và ôn tập, bồi dưỡng cho HSG.
I. Sự hình thành trật tự thế giới mới sau Chiến tranh thế giới thứ hai
(1945 – 1949).
1. Hội nghị Ianta (2 – 1945) và những thỏa thuận của ba cường quốc.
* Hoàn cảnh
* Những quyết định quan trọng
* Hệ quả
2. Sự thành lập Liên Hợp Quốc
* Hoàn cảnh và sự thành lập
* Mục đích của LHQ
* Nguyên tắc hoạt động
* Các cơ quan chính của Liên Hợp Quốc
* Hoạt động và vai trò của Liên Hợp Quốc

2. Những điểm khác nhau cơ bản
- Giữa hai trật tự thế giới có sự khác biệt, đối lập về hệ tư tưởng và vai trò đối
với sự nghiệp cách mạng thế giới.
+ TT thế giới V- O không có sự hiện diện của Liên Xô, không có sự khác biệt
hay đối lập về hệ tư tưởng, về mục tiêu và chiến lược, không có vai trò tích cực đối với
phong trào cách mạng thế giới, trật tự V – O chỉ vì quyền lợi của các nước tư bản lớn.
+ TT thế giới hai cực Ianta có sự đối lập giữa hai hệ tư tưởng, giữa mục tiêu
và chiến lược của hai cường quốc Mĩ và Liên Xô, giữa hai hệ thống xã hội: TBCN và
XHCN. Trong đó, Liên Xô (đứng đầu hệ thống XHCN) chủ trương duy trì hòa bình, an
ninh thế giới, bảo vệ thành quả của chủ nghĩa xã hội và đẩy mạnh phong trào cách mạng
thế giới. Ngược lại, Mĩ (đứng đầu hệ thống TBCN) ra sức chống phá Liên Xô và các nước
XHCN, đẩy lùi phong trào cách mạng nhằm thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới.. Do đó, TT
hai cực Ianta có tác động tích cực đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, là
nhân tố hàng đầu chi phối nền chính trị thế giới và các quan hệ quốc tế trong phần lớn nửa
sau thế kỉ XX.
- Về cơ cấu tổ chức và duy trì hòa bình cũng như việc kí kết các hòa
ước với các nước bại trận hoàn toàn khác nhau. Trật tự hai cực Ianta
thể hiện sự tiến bộ và tích cực hơn hẳn.
+ Trật tự theo hệ thống Vecxai – Oasinhtơn trừng trị các nước chiến bại quá
nặng nề. Còn trật tự hai cực Ianta trừng trị các nước chiến bại thoả đáng và không quá
nặng nề.
+ Liên Hợp Quốc với vai trò là tổ chức đa phương toàn cầu mang
tính toàn diện và tiến bộ hơn hẳn so với Hội Quốc Liên (Hội Quốc
12


Liên là tổ chức của các nước lớn, Liên Hợp Quốc là tổ chức mà tất
cả các nước đều có quyền tham gia, dù lớn hay nhỏ, mạnh hay yếu
+ Trong trật tự hai cực Ianta diễn ra cuộc đối đầu gay gắt và kéo dài
hơn 40 năm giữa Liên Xô và Mỹ làm cho tình hình thế giới luôn

13


của từng nước. Theo đó, Anh nắm quyền kiểm soát các vùng Capscado, Ác-mê-nia, Grudia
và vùng Sông Đông; Pháp chiếm Bet-xa-ra-bia, Crum và Ucraina; Mĩ và Nhật nắm khu
vực Xibia, vùng Viễn Đông...
- Từ khi chiến tranh thế giới kết thúc, các nước đế quốc tăng cường can thiệp
và giúp đỡ các thế lực phản cách mạng ở Nga, tình hình nước Nga cực kì khó khăn: quân
đội 14 nước đế quốc cấu kết với bọn phản cách mạng trong nước mở cuộc tấn công vũ
trang kéo dài trong 3 năm – từ năm 1918 đến cuối năm 1920. Trải qua cuộc chiến đấu gian
khổ, tháng 11 – 1920 Hồng quân đánh tan đội quan phản cách mạng, chấm dứt chiến sự,
nhà nước Xô viết được bảo vệ và giữ vững.
- Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Lê-nin, Đại hội lần thứ nhất của các xô viết
toàn Liên bang (20 – 12 – 1922) đã tuyên bố thành lập Liên bang Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Xô viết (gọi tắt là Liên Xô). Trong quan hệ quốc tế, Liên Xô trung thành với nguyên
tắc ngoại giao cùng tồn tại hòa bình.
+ Chính phủ Xô viết phản đối gay gắt tính chất nô dịch của các hòa ước, nhất
là Hòa ước Véc-xai. Lê-nin cho rằng “Đấy không phải là hòa ước, đấy là những điều kiện
mà bọn ăn cướp tay cầm dao, buộc nạn nhân không có gì tự vệ phải chấp nhận”. Năm 1922
lần đầu tiên được mời tới tham dự chính thức Hội nghị quốc tế Giê-nô-va, đoàn đại biểu
của Liên Xô đã đề nghị về việc thiết lập các quan hệ ngoại giao và kinh tế, thực hiện chung
sống hòa bình và tiến hành giải trừ quân bị, nước Nga sẵn sàng bình thường hóa quan hệ
với tất cả các nước trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của
nhau.
+ Chính quyền Xô viết từng bước thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước
láng giềng ở Châu Á như I-ran, Thổ Nhĩ Kì, Mông Cổ, Trung Quốc ...và các nước châu Âu
như Ê-xtô-nia, Lít-va, Phần Lan, Ba Lan....
+ Mặc dù tồn tại trong vòng vây của chủ nghĩa tư bản, Liên Xô đã kiên trì và
bền bỉ đấu tranh trong quan hệ quốc tế nhằm phá vỡ chính sách bao vây, cô lập về kinh tế
và ngoại giao của các nước đế quốc.

2. Giai đoạn 1939 – 1945
- Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ năm 1939, phe phát xít chiếm ưu thế.
Năm 1941, phát xít Đức tấn công Liên Xô và chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ, hầu
hết các nước trên thế giới bị lôi cuốn vào chiên tranh. Việc thành lập một liên minh quốc tế
chống phát xít đã trở thành đòi hỏi bức thiết của lực lượng dân chủ và yêu chuộng hòa bình
trên thế giới. Cuộc chiến tranh của nhân dân Liên Xô đã làm thay đổi cục diện chính trị và
quân sự của chiến tranh. Đó là cuộc chiến tranh chính nghĩa không chỉ nhằm bảo vệ Liên
Xô mà còn chống lại cuộc chiến tranh tàn khốc của phát xít ở châu Âu. Điều đó thúc đẩy
nhân dân Mĩ, Anh phải thay đổi thái độ với Liên Xô.
- Quan hệ giữa các cường quốc tư bản với Liên Xô thay đổi từ bất hợp tác
sang hợp tác, là đồng minh của nhau trong sự nghiệp đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít
bảo vệ nền hòa bình và an ninh thế giới.
15


- Ngày 1/1/1942, đại diện 26 nước đứng đầu là Liên Xô, Mĩ, Anh đã kí kết
vào bản Tuyên bố Liên Hợp Quốc, cam kết dốc toàn bộ sức mạnh quân sự và kinh tế đất
nước vào cuộc chiến tranh chống phát xít và tay sai của chúng, đồng thời hợp tác chặt chẽ
với nhau, không kí kết hiệp định đình chiến hay hoà ước riêng rẽ với các nước thù địch.
Mặt trận đồng minh chống phát xít được thành lập trong đó có sự tham gia của Liên Xô và
Mĩ là một nhân tố quan trọng đảm bảo thắng lợi cho cuộc chiến tranh chống phát xít và tạo
cơ sở cho việc thành lập tổ chức Liên Hợp quốc sau này.
3. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1991
* Từ năm 1945 – nửa đầu năm 1970
- Khi Chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc, Hội nghị Thượng đỉnh Tam
cường Xô – Mĩ – Anh họp tại Ianta (2/1945) đã thông qua những quyết định quan
trọng nhằm tiêu diệt tận gốc CNPX ở châu Âu và châu Á... Về cơ bản Mĩ và LX đã đạt
được mục tiêu mà mình theo đuổi và dựa trên những đóng góp thực sự của các nước thắng
trận trong CTTG.
- Tuy nhiên, những rạn nứt chính trị trong quan hệ Xô – Mĩ ngày càng lớn,

tình trạng Chiến tranh lạnh.
Cả hai siêu cường M – L đều chi những khoản ngân sách khổng lồ cho chạy đua
vũ trang, thành lập nhiều căn cứ quân sự, liên minh quân sự...làm cho tình hình thế giới
càng thêm căng thẳng, có lúc như sắp có chiến tranh.
Chiến tranh lạnh là sự đối đầu căng thẳng giữa hai phe TBCN – XHCN do Mĩ và
LX làm trụ cột. Cuộc chiến tranh lạnh diễn ra trên hầu hết các lĩnh vực từ chính trị đến
kinh tế, văn hóa, tư tưởng...gây lên tình trạng chiến tranh cục bộ ở nhiều khu vực như
ĐNA, ĐBA và Trung Đông...ngoại trừ xung đột trực tiếp bằng quân sự giữa Mĩ – Liên Xô.
* Từ những năm 70 đến đầu năm 90 của thế kỉ XX
Mặc dù cục diện Chiến tranh lạnh vẫn tiếp diễn nhưng bớt căng thẳng hơn.
Các vấn đề giữa Mĩ và Liên Xô từng bước được giải quyết, xu thế hòa hoãn Đông – Tây
được thiết lập, trật tự hai cực giữa Mĩ và Liên Xô tan rã.
- Trong năm 1972, M – L đã thỏa thuận về việc hạn chế vũ khí chiến lược :
+ Ngày 26 – 5 – 1972 kí HƯ về hạn chế hệ thống phòng chống tên lửa (ABM).
Tạo thế cân bằng về chiến lược và lực lượng quân sự, vũ khí hạt nhân giữa Mĩ – L
+ Kí HĐ hạn chế vũ khí tiến công chiến lược (SALT – 1) (1972) sau đó là
SALT – 2 (1979)
+ Kí HƯ thủ tiêu tên lửa tầm trung ở Châu Âu (INF) (1987), HƯ cắt giảm vũ
khí chiến lược START (1991)....
- Cũng trong năm 1972, Mĩ bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc
(2/1972), với Liên Xô (5/1972), tạo cơ sở hòa hoãn giữa hai hệ thống TBCN và XHCN.
- Nhiều cuộc gặp gỡ cấp cao giữa đại diện hai nhà nước Mĩ – LX vào những
năm 70, 80 XX đi đến việc hợp tác về kinh tế, khoa học – kĩ thuật, quân sự....Đặc biệt,
tháng 12 – 1989 trong cuộc gặp không chính thức tại đảo Manta (Địa Trung Hải) Tổng
17


thống Mĩ (Bu-sơ) và Tổng bí thư Đảng Liên Xô (Goocbachop) đã chính thức tuyên bố
chấm dứt Chiến tranh lạnh.
Đây là cuộc bắt tay lịch sử làm thay đổi cục diện chính trị và quan hệ quốc

18


- Thực hiện nghị quyết của Hội nghị Ianta, từ ngày 25 – 4 đến 26 – 6 – 1945,
đại biểu của 50 nước họp tại Xanphranxicô (Mĩ) thống nhất thông qua hiến chương Liên
hợp quốc và tuyên bố thành lập tổ chức Liên hợp quốc (UNO).
- Mục đích : Mục đích cao cả nhất của Liên hợp quốc là duy trì hòa bình, an
ninh TG, thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa các nước trên cơ sở tôn trọng
nguyên tác bình đẳng và quyền tự quyết của các quốc qia, thực hiện hợp tác quốc tế về
kinh té, văn hóa, xã hội và nhân đạo.
- Nguyên tắc hoạt động
+ Bình đẳng chủ quyền giữa các quốc qia và quyền tự quyết của các dân tộc.
+ Tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của tất cả các nước.
+ Không can thiệp vào công việc nội bộ của bất kì nước nào.
+ Giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình.
+ Chung sống hòa bình và sự nhất trí giữa 5 nước lớn ( Liên Xô, Mĩ, Anh,
Pháp, Trung Quốc).
- Hoạt động và vai trò của LHQ
+ Từ khi thành lập đến nay, LHQ không ngừng mở rộng số lượng thành
viên (2012: 193 nước).
+ LHQ thúc đẩy các mối quan hệ hữu nghị hợp tác giúp đỡ giữa các dân tộc
về kinh tế, văn hóa, xã hội, nhân đạo…, góp phần duy trì hòa bình an ninh TG, cố gắng
giải quyết các tranh chấp bằng phương pháp hòa bình.
Vì vậy, LHQ là tổ chức liên kết lơn nhất trên TG vừa là diễn đàn quốc tế vừa
hợp tác đấu tranh.
+ LHQ đã có nhiều cố gắng trong việc giải quyết các vấn đề tranh chấp,
xung đột ở nhiều quốc gia bằng phương pháp hòa bình ; thực hiện nhiều chương trình hỗ
trợ, giúp đỡ các dân tộc bị thiên tai, kém phát triển.....
- Tuy nhiên, LHQ vẫn còn một số tồn tại chưa giải quyết triệt để như : vấn
đề ô nhiễm môi trường, bệnh dịch, nạn khủng bố, tham nhũng.....đặc biệt các vấn đề tranh

quyền khi thời cơ chín muồi.
- Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, phát xít Nhật lợi dụng mâu thuẫn
giữa các dân tộc châu Á, ngụy trang bằng chính sách « khu vực thình vượng Đại Đông Á »
lập kế hoạch xâm lược. Ngày 23 – 9 – 1940, phát xít Nhật thôn tính Việt Nam cấu kết với
Pháp cùng ra sức vơ vét bóc lột nhân dân Đông Dương....
Trước tình hình mới, Đảng Cộng sản Đông Dương đã kịp thời chuyển hướng
chỉ đạo chiến lược cách mạng, xác định rõ vị trí của cách mạng Việt Nam trong chiến tranh
là bộ phận của quân Đồng minh chống phát xít trên thế giới.
- Đầu năm 1945, phát xít Đức bị Hồng quân Liên Xô tiêu diệt, phát xít Nhật
bị cô lập. Ngày 15 – 8 – 1945 Nhật đầu hàng Đồng minh không điều kiện, các nước Đồng
minh chuẩn bị vào nước ta để giải giáp quân đội Nhật, Chính phủ bù nhìn của Nhật ở Đông
Dương hoang mang lo sợ đến cực điểm... Thơi cơ cách mạng chín muồi « thời cơ ngàn
năm có một », dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Tổng bộ Việt Minh và Hồ Chí
Minh cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền diễn ra nhanh chóng trong cả nước. Ngày 2
– 9 – 1945 nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ra đời.
20


Như vậy, thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam không
chỉ đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc, lật đổ ách thống trị của đế quốc,
phong kiến, lập ra nước VNDCCH – một nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam
Á... Thắng lợi này đã góp phần đánh bại chủ nghĩa phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ
hai, đưa nước ta đứng trong hàng ngũ các nước dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa trên
thế giới...Góp phần chọc thủng khâu yếu nhất trong hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế
quốc làm chúng suy yếu.
2. Việt Nam trong bối cảnh quan hệ quốc tế từ 1945 – 1975
- Cách mạng Việt Nam trong bối cảnh quan hệ quốc tế đầy biến động : đó
là sự phân chia khu vực chiếm đóng và khu vực ảnh hưởng sau Chiến tranh thế giới thứ
hai ; Sự hình thành trật tự thế giới mới ; Những thành tựu trong cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở Liên Xô....; Tình trạng mâu thuẫn Đông – Tây và cục diện chiến tranh lạnh. Sự có

sách đối ngoại : Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp
tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập
quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì
lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh. Việt Nam
có quan hệ ngoại giao với hơn 180 nước thuộc tất cả các châu lục và có quan hệ bình
thường với tất cả các nước lớn. Điều này đặt ra thời cơ và những thách thức lớn đối với
Việt Nam trên con đường hội nhập.
Cơ hội : tham gia hợp tác với nhiều tổ chức hợp tác trong khu vực và thế
giới : trở thành thành viên 149 của Liên Hợp Quốc (20 – 9 – 1977) ; là thành viên thứ 7
của ASEAN (28 – 7 – 1995) ; có điều kiện hội nhập khu vực và thế giới, tăng cường hợp
tác kinh tế, thương mại..... Góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trong quan hệ quốc tế,
học hỏi được kinh nghiệm của nhiều nước, tranh thủ sự ủng hộ của bè bạn quốc tế giúp
Việt Nam tiến nhanh hơn trên con đường phát triển, đổi mới đất nước....
Thách thức : khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế giữa Việt Nam với
các nước trong khu vực và trên thế giới ; Sự chênh lệch về trình độ kĩ thuật, công nghệ
...dẫn tới sự cạnh tranh lớn ; Sự khác biệt về chế độ chính trị, hệ tư tưởng dẫn tới cách nhìn
nhận khác nhau về an ninh, chính trị, cách tiếp cận trong giải quyết các vấn đề tranh
chấp....

PHẦN II. PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ THEO HƯỚNG PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA KHI ÔN TẬP CHUYÊN
ĐỀ QUAN HỆ QUỐC TẾ TỪ 1919 – 2000.
Thực hiện tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại ; phát
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học....trong
22


chuyên đề này, chúng tôi đề cập tới phương pháp kiểm tra, đánh giá theo định hướng
phát triển năng lực.
I. Một số điểm khác biệt giữa đánh giá tiếp cận nội dung và đánh giá


của sản phẩm để nhận xét
Tập trung vào năng lực thực tế và sáng tạo
Tập trung vào kiến thức hàn lâm
Đánh giá do các cấp quản lí và do giáo Giáo viên và học sinh chủ động trong đánh
viên tự đánh giá học sinh không hoặc ít giá, khuyến khích tự đánh giá và đánh giá

7

được công nhận
chéo học sinh
Đánh giá đạo đức học sinh chú trọng Đánh giá đạo đức học sinh toàn diện, chú
đến việc chấp hành nội quy nhà trường, trọng đến năng lực cá nhân, khuyến khích

8
9

học sinh thể hiện cá tính và năng lực bản thân
tham gia phong trào thi đua
Đánh giá chú trọng đến kiến thức
Đánh giá kĩ năng và năng lực
Đánh giá dực theo chuẩn tuyệt đối, Đánh giá theo chuẩn tương đối, mềm dẻo

cứng nhắc
II. Giới thiệu một số câu hỏi/bài tập kiểm tra, đánh giá theo hướng
năng lực khi ôn tập cho học sinh giỏi Quốc gia môn Lịch sử.
Cần nhận thức một cách khách quan rằng trong những năm qua việc kiểm
tra theo cách tiếp cận nội dung (chủ yếu kiểm tra kiến thức, kĩ năng) thực chất chúng ta
mới đánh giá được năng lực học tập của học sinh. Bởi lẽ, năng lực là tổng hợp kiến thức,
kĩ năng, thái độ cùng những phẩm chất, năng lực khác. Nếu quan niệm năng lực là một

Cõu 5. S phõn chia khu vc nh hng v xung t ụng Tõy din ra
nh th no chõu u t sau chin tranh th gii th hai n nhng nm 70 ca XX. Nờu
nhn xột v tỡnh trng ú.
Cõu 6. S phõn chia khu vc nh hng v xung t ụng Tõy din ra
nh th no chõu t sau chin tranh th gii th hai n nhng nm 70 ca XX. Nờu
nhn xột v tỡnh trng ú.

24


Câu 7. Vì sao, quan hệ giữa Mĩ và Liên Xô chuyển từ quan hệ đồng minh
chống phát xít sang tình trạng đối đầu căng thẳng sau Chiến tranh thế giới thứ hai?
Câu 8. Vì sao Mĩ và Liên xô chấm dứt chiến tranh lạnh? Những biểu hiện xu
thế phát triển của thế giới sau thời kì chiến tranh lạnh. Hãy phát biểu suy nghĩ của em về
xu thế trật tự thế giới mới hiện nay.
Câu 9. Vì sao trong thời kì 1954 – 1975, Việt Nam trở thành nơi diễn ra
cuộc đụng đầu lịch sử mang tính chất thời đại và có tầm vóc quốc tế to lớn ?
Câu 10. Trước những vấn đề nóng bỏng trong quan hệ quốc tế ở Biển Đông,
theo em, tổ chức Liên Hợp Quốc, « Hiệp Hội các quốc gia Đông Nam Á » (ASEAN) và
Việt Nam đã thực hiện nhiệm vụ gì trong việc giải quyết vấn đề trên.
III. Giới thiệu một số câu hỏi có hướng dẫn chấm, đáp án
Câu 1 (3,0 điểm)
Nêu nét đặc trưng nổi bật của Quan hệ quốc tế trong các giai đoạn : 1919 –
1939 ; 1939 – 1945 ; 1945 – 2000. Hãy lí giải nguyên nhân dẫn tới tình trạng quan hệ quốc
tế diễn biến phức tạp, mở rộng và đa dạng trong nửa sau thế kỉ XX.
Câu

Đáp án
a. Nét đặc trưng nổi bật của Quan hệ quốc tế....
* Giai đoạn từ 1919 – 1939 : hòa bình được lặp lại giữa các nước nhưng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status