LỰA CHỌN nội DUNG và PHƯƠNG PHÁP ôn tập CHO học SINH GIỎI QUỐC GIA KHI GIẢNG dạy CHUYÊN đề QUAN hệ QUỐC tế từ năm 1919 đến năm 2000 - Pdf 31

A.MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
- Với khối các trường chuyên trong cả nước, công tác bồi dưỡng đội tuyển
học sinh giỏi quốc gia bao giờ cũng có một vị trí đặc biệt quan trọng với hoạt
động trọng tâm của nhà trường. Thành tích học sinh giỏi quốc gia bao giờ cũng
được nhắc đến đầu tiên như một trong những biểu hiện cho vị thế của từng
trường, chính vì vậy, vấn đề nâng cao hiệu quả dạy và học, hiệu quả của công
tác bồi dưỡng học sinh giỏi luôn được các trường quan tâm đúng mức. Những
năm gần đây, khối các trường chuyên vùng đồng bằng và duyên hải Bắc Bộ đã
nhiều lần tổ chức các buổi hội thảo chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gia,
đây thực sự là những diễn đàn quan trọng để các giáo viên có thể cùng nhau trao
đổi, đúc rút kinh nghiệm, bổ sung các nguồn tư liệu, đồng thời có thể xác định
được những phương pháp dạy học hiệu quả nhất cho từng vấn đề. Vì vậy, những
cuộc hội thảo này ngày càng có sức hút với phần lớn giáo viên các trường
chuyên.
- Đến với cuộc hội thảo năm nay, trường THPT chuyên Vĩnh Phúc chủ
động đưa ra chuyên đề: LỰA CHỌN NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ÔN
TẬP CHO HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA KHI GIẢNG DẠY CHUYÊN ĐỀ
QUAN HỆ QUỐC TẾ TỪ NĂM 1919 ĐẾN NĂM 2000, Theo tôi, đây là một
chuyên đề rất rộng, rất hay, rất quan trọng và rất thiết thực trong quá trình dạy
đội tuyển học sinh giỏi quốc gia. Đề tài này cũng mở ra rất nhiều vấn đề mà mỗi
giáo viên đều cần có những kiến thức sâu sắc, chắc chắn mới có thể giải quyết
thấu đáo, đáp ứng được yêu cầu của học sinh khi tham dự các kỳ tập huấn đội
tuyển học sinh giỏi quốc gia.
- Nội dung của chuyên đề không nằm trọn vẹn trong chương trình của riêng
một khối lớp mà nó trải dài ở cả 2 chương trình Lịch sử Thế giới lớp 11 và lớp
12, nó được coi như một nội dung bổ dọc với rất nhiều vấn đề lớn và quan trọng
của mối quan hệ quốc tế, nó liên quan đến kiến thức tổng hợp của nhiều sự kiện
lớn, có nhiều hiện tượng mới xảy ra, thậm chí còn đang tiếp diễn ( Đặc biệt là
phần quan hệ quốc tế từ năm 1945 đến năm 2000). Nó phản ánh mối quan hệ
1

từ 1919 đến năm 2000, một giai đoạn quan trọng nhất, trọng tâm nhất khi ôn thi
học sinh giỏi quốc gia và ôn thi đại học
2


2- Mục đích của đề tài:
- Đây là một chuyên đề được sử dụng để giảng dạy cho đội tuyển học sinh
giỏi quốc gia, nên mục đích của chuyên đề cũng gắn với mục tiêu của việc nâng
cao tầm hiểu biết của học sinh về những nội dung cơ bản, trọng tâm về sự ra đời,
tồn tại, suy vong cùng những đặc điểm cơ bản của hai trật tự thế giới được hình
thành trong thế kỷ XX.
- Qua chuyên đề, học sinh không chỉ nắm vững được kiến thức cơ bản về 2
trật tự thế giới , mà còn được rèn luyện nhiều kỹ năng như so sánh, phân tích,
đánh giá các vấn đề lịch sử, từ đó rút ra những đặc điểm và có thể dự đoán được
tương lai của trật tự thế giới
- Chuyên đề cũng xác định những biện pháp, cách thức cụ thể giúp học
sinh tiếp cận, nắm bắt, tiến tới hiểu sâu sắc những kiến thức cơ bản và có khả
năng vận dụng kiến thức để xử lý các dạng đề thi có kiến thức liên quan đến
chuyên đề
- Chuyên đề gồm 3 phần:
I. Một số phương pháp cơ bản hướng dẫn học sinh ôn tập chuyên đề
II. Nội dung kiến thức chính
1- Hiểu biết chung về trật tự thế giới
2- Sự hình thành, tồn tại và tan rã của trật tự theo hệ thống Véc xaiOasinhtơn
3- Sự hình thành, tồn tại và tan rã của trật tự 2 cực Ianta
III. Hệ thống câu hỏi và bài tập

3





- Qua nhiều năm giảng dạy đội tuyển học sinh giỏi quốc gia về chuyên đề
này, tôi thường sử dụng những biện pháp cụ thể như sau để giúp học sinh nắm
bắt kiến thức một cách chủ động nhất, có khả năng vận dụng tốt nhất để làm bài
thi đạt kết quả cao.
1. Khai thác triệt để những nội dung cơ bản trong sách giáo khoa theo
hướng phát huy tính tích cực, chủ động trong quá trình lĩnh hội kiến thức
của học sinh
- Kiến thức SGK về trật tự thế giới theo hệ thống Véc xai- Oasinhtơn trong
SGK lớp 11 không được đề cập bằng một bài học cụ thể, nhưng giáo viên có thể
khai thác kiến thức về nội dung này ở bài 25( SGK 11 nâng cao), mục những nét
chung về các nước tư bản chủ nghĩa trong những năm 1919-1929, dù rất sơ lược
nhưng cũng đủ để các em có những khái niệm cơ bản nhất về trật tự thế giới
được xác lập ngay sau chiến tranh Thế giới thứ nhât
- Về trật tự thế giới 2 cực Ian ta, ở SGK lớp 12 nâng cao, nội dung kiến
thức được đề cập rất chi tiết, cụ thể, không chỉ ở Bài 1: Sự hình thành Trật tự
Thế giới sau Chiến tranh Thế giới thứ hai ( 1945-1949) mà còn nằm rải rác ở
nhiều bài khác như Bài 10: Quan hệ quốc tế trong và sau thời kỳ chiến tranh
lạnh; Bài 12: Tổng kết lịch sử thế giới hiện đại từ năm 1945 đến năm 2000. Vì
thế, khi hướng dẫn học sinh làm việc với SGK, giáo viên cần định hướng cho
các em những nội dung kiến thức cơ bản cần nắm chắc để các em có thể lựa
chọn và ghi nhớ.
2. Sử dụng các phương tiện trực quan hợp lý để giúp học sinh lĩnh hội
kiến thức:
- Phương tiện trực quan luôn đóng vai trò quan trọng trong quá trình dạy
học lịch sử, với riêng nội dung về 2 trật tự thế giới trong thế kỷ XX, nhiều bản
đồ, tranh ảnh được khai thác hợp lý sẽ giúp cho học sinh khắc sâu kiến thức mà
không bị nhàm chán, ở chuyên đề này, khi tập trung làm rõ kiến thức về trật tự
Vec- Oa,tôi thường sử dụng bản đồ nước Đức, trước và sau hòa ước Vec xai để

- Với phương pháp này, giúp học sinh có thể phát huy được tính tích cực,
chủ động, sáng tạo tỏng học tập, đồng thời giúp các em tăng cường khả năng
6


diễn đạt, tăng kỹ năng hoạt động nhóm… để thực hiện công việc trao đổi và
đàm thoại được hiệu quả, tôi thường chủ động đề xuất hệ thống các câu hỏi, các
vấn đề để các em dựa vào đó thảo luận, phát hiện kiến thức mới hoặc tranh luận
để hướng đến những đánh giá, nhận thức vấn đề hoàn chỉnh nhất.
5. Hướng dẫn học sinh so sánh, đối chiếu các sự kiện trong mối quan hệ
quốc tế ở 2 thời kỳ trước và sau chiến tranh thế giới thứ hai.
- Những bài tập so sánh, đánh giá đã được học sinh của tôi làm khá hoàn
chỉnh ( Tôi sẽ trình bày cụ thể ở mục hệ thống câu hỏi và bài tập sau đây )
6. Trên cơ sở nhận thức sâu sắc kiến thức về 2 trật tự thế giới, giáo viên
hướng dẫn cho học sinh kỹ năng vận dụng kiến thức đã học để đánh giá về
thực tiễn cuộc sống hiện nay, tìm mối liên hệ giữa lịch sử thế giới và lịch sử
dân tộc Việt Nam, từ đó, hướng tới việc các em có thể dự đoán tương lai phát
triển của thế giới. Qua đó, giáo dục cho các em ý thức trách nhiệm đối với quê
hương, đất nước và cộng đồng.
7. Hướng dẫn HS củng cố kiến thức thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập
- Như trên đã nói, đây là một chuyên đề rất quan trọng, kiến thức của
chuyên đề rất hay được sử dụng để làm các bài thi học sinh giỏi các cấp, trong
đó có cả thi học sinh giỏi quốc gia nên việc củng cố kiến thức sẽ giúp học sinh
nắm vững, nắm sâu kiến thức, từ đó có các em hoàn toàn có thể chủ động ứng
phó với bất cứ một dạng câu hỏi nào trong quá trình thi cử.
- Với những phương pháp vừa nêu trên, tôi đã vận dụng để cùng với học
sinh các đội tuyển của tôi hoàn chỉnh được những nhận thức cơ bản nhất về 2
trật tự thế giới được thành lập trong TKXX, đồng thời còn được bổ sung thêm
những kiến thức rất phong phú, sinh động. Trên cơ sở đó, qua nhiều năm giảng
dạy đội tuyển, chúng tôi đã hình thành được một hệ thống câu hỏi và bài tập mà

đoạn đế quốc chủ nghĩa, những cuộc chiến tranh cục bộ đầu tiên đã bùng
nổ....Thế giới mất trật tự cục bộ.
- Cuối XIX, đầu XX, sự hình thành và chạy đua vũ trang giữa 2 khối đế
quốc Anh, Pháp, Nga và Đức, Áo- Hung dẫn đến chiến tranh thế giới I. Thế giới
rơi vào tình trạng mất trật tự.
- Sau chiến tranh, các cường quốc ở châu Âu đều bị suy yếu, 2 nước tư bản
lâu đời là Anh và Pháp tuy chiến thắng nhưng nền kinh tế kiệt quệ bởi chiến
8


tranh và trở thành con nợ của Mỹ. Italia bị khủng hoảng trầm trọng. Ba đế quốc
rộng lớn là Nga, Đức và Áo- Hung lần lượt sụp đổ. Đế quốc Đức và Áo- Hung
bại trận, bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh và những cuộc cách mạng bùng nổ
nên lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng.
- Ở bên ngoài châu Âu, Mỹ và Nhật không bị tàn phá bởi chiên tranh, thậm
chí còn thu được nhiều lợi nhuận nhờ buôn bán vũ khí và hàng hóa trong chiến
tranh đã vươn lên nhanh chóng, vượt qua nhiều nước tư bản ở châu Âu.- Tương
quan lực lượng giữa các cường quốc thay đổi rõ rệt, bất lợi cho các nước châu
Âu vốn vẫn quen chiếm vị trí trung tâm trong thế giới tư bản trước đây.
- Cách mạng tháng 10 Nga đã tạo ra một chuyển biến căn bản của tình hình
thế giới, CNTB không còn là một hệ thống duy nhất thống trị thế giới nữa.
Nước Nga XHCN đã trở thành một thách thức nghiêm trọngvới các nước TBCN
- Trong bối cảnh ấy, để giải quyết những vấn đề do chiến tranh đặt ra, các
nước đế quốc thắng trận đã họp hội nghị Vecxai (1919- 1920) và Oasinh tơn
(1921- 1922) để phân chia thành quả chiến tranh, hình thành khuôn khổ của trật
tự thế giới mới, đó là trật tự theo hệ thống Véc xai- Oasinhtơn. Đây là một trật
tự thế giới do chủ nghĩa Đế quốc xác lập, trong đó 3 cường quốc Anh- Pháp- Mỹ
giành được nhiều ưu thế nhất và “ 7/10 dân cư thế giới trong tình trạng bị nô
dịch” như cách nói của Lê nin. Ngay trong nội bộ phe Đế quốc cũng bị phân
chia thành những nước thỏa mãn và bất mãn với hệ thống này, từ đó, tạo ra mầm

nhưng do những bất đồng về quan điểm giải quyết các vấn đề chính nên hội nghị
này này hầu như không đạt được kết quả gì, dù vậy, bên lề hội nghị, vẫn có 1
hiệp ước riêng rẽ được ký kết giữa Nga và Đức. Sự kiện này đánh dấu sự xói
mòn đầu tiên của trật tự thế giới sau CTTG I.
- Sau Giênôvơ, các nước còn liên tiếp tiến hành các hội nghị quốc tế tại
Lôdan (Thụy Sĩ- cuối 1922); Hội nghị Lôcácnô( Thụy Sỹ- 1925), ở hội nghị
này, Đức được kết nạp vào Hội Quốc Liên, đến 9/1926, Đức trở thành thành
viên chính thức của Hội. Vào khoảng thời gian này, dường như có một sự hòa
dịu và xích lại gần nhau hơn trong quan hệ giữa các nước tư bản chủ nghĩa, trên
cơ sở đó, hiệp ước Briăng- Kelốtgiơ ( Pháp- 8/1928) được ký kết, hiệp ước này
được đánh giá là “đỉnh cao của làn sóng hòa bình trong thập niên 20” song
10


thực tế cho thấy việc đặt niềm tin vào hiệp ước này là “ ảo tưởng nguy hiểm”. Vì
ngay sau đó, Anh và Pháp đã ký một thỏa thuận riêng rẽ về vấn đề vũ khí, và chỉ
1 năm sau đó, cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới xảy ra, 3 nước Đức - Ý Nhật cũng đã tìm cách liên minh với nhau trong một phe Trục mang đầy màu
sắc hung hăng, hiếu chiến. Hòa bình thế giới bị đe dọa nghiêm trọng, trật tự thế
giới đứng trước nguy cơ sụp đổ.
- Nước Đức bại trận đã bị các nước Đế quốc thắng trận quy kết trách nhiệm
về “ Tội ác gây chiến tranh” ở hội nghị Véc- xai, vì vậy, phải chịu những điều
khoản rất nặng nề về bồi thường chiến phí (132 tỉ Mác vàng), bị hạn chế vũ
trang đến mức thấp nhất, mất đi 1/8 đất đai, 1/12 dân số, 1/3 mỏ than, 2/5 sản
lượng gang, gần 1/3 sản lượng thép và gần 1/7 diện tích trồng trọt. Toàn bộ gánh
nặng này đè lên vai nhân dân lao động Đức, nhưng thực tế lại không thủ tiêu
được tiềm lực kinh tế chiến tranh của Đức. Thực tế cho thấy, nước Đức thời kỳ
đầu không có khả năng trả nợ, và sau đó cũng không mất một đồng nào vào việc
bồi thường chiến phí.. Đặc biệt, từ 1924, các nước Mỹ và Anh còn đề ra các kế
hoạch như Đâuét và Yơng nhằm giúp Đức phục hồi và phát triển nền kinh tế,
Đến 1929, sản lượng công nghiệp Đức đã vượt cả Anh và Pháp. Đức còn tăng

thuộc, như Lênin đã từng nói “ Đấy không phải là hòa ước, đấy là những điều
kiện mà bọn ăn cướp tay cầm dao, buộc nạn nhân không có gì tự vệ phải chấp
nhận”, vì vậy mà nó chứa đựng đầy mâu thuẫn, cũng chính vì thế đây là trật tự
không bền vững chỉ mang tính chất tạm thời.
+ Bản đồ chính trị thế giới có sự thay đổi: 4 đế quốc đã tan vỡ (Nga, Đức,
Áo- Hung, Thổ Nhĩ Kì), trên cơ sở đó nhiều nước cộng hòa mới thành lập (Ba
Lan, các nước Ban Tích, Áo, Hunggary, Tiệp Khắc, Nam Tư).
3. Trật tự thế giới 2 cực Ian ta
a. Sự thành lập
* Hoàn cảnh triệu tập hội nghị Ian ta:

12


- Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới II bước vào giai đoạn kết thúc với
thắng lợi nghiêng về phe Đồng minh, trong nội bộ phe đồng minh chống phát xít
nổi lên nhiều vấn đề quan trọng và cấp bách cần giải quyết đó là:
+ Nhanh chóng kết thúc chiến tranh.
+ Đánh bại hoàn toàn các nước phát xít.
+ Tổ chức lại một trật tự thế giới mới.
+ Phân chia thành quả chiến thắng giữa các nước thắng trận, nhất là các
cường quốc giữ vai trò chủ yếu trong chiến tranh.
=> Trong bối cảnh đó, một hội nghị quốc tế đã được triệu tập tại Ianta
(Liên Xô) từ ngày 4-11/2/1945 với sự tham dự của nguyên thủ 3 cường quốc là:
Xtalin (Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô); Rudơven (Tổng thống Mỹ);
Sơcsin
(Thủ tướng Anh)
* Nội dung hội nghị:
- Hội nghị đã diễn ra trong không khí hết sức gay go, quyết liệt vì thực chất
nội dung hội nghị là cuộc tranh giành và phân chia thành quả thắng lợi chiến

tham gia của Đảng cộng sản và các đảng phái dân chủ; trả lại Trung Quốc vùng
Mãn Châu, đảo Đài Loan và Bành Hồ. Các vùng còn lại của châu Á (Đông
Nam Á, Tây Á) vẫn thuộc phạm vi ảnh hưởng truyền thống của các nước phương Tây
Theo thỏa thuận của hội nghị Pôtxđam (Đức, từ 17/7 đến 2/8/1945), việc
giải giáp quân Nhật ở Đông Dương được giao cho quân đội Anh vào phía Nam
vĩ tuyến 16 và quân đội Trung Hoa Dân quốc vào phía Bắc.
* Hệ quả:
- Hội nghị Ianta đã thể hiện sự thay đổi trong tương quan lực lượng giữa
các cường quốc trên thế giới so với trước đó, trong đó nổi lên vai trò và vị thế
có tính chất quyết định của 2 siêu cường là Mỹ và Liên Xô.
+ Lúc này, các nước tư bản đứng đầu Tây Âu như Anh, Pháp đều bị chiến
tranh tàn phá, các nước phát xít như Đức- Italia và Nhật bản đều là những nước
bại trận và hoàn toàn kiệt quệ. Trong khi đó, Mỹ nổi lên như một siêu cường
quốc có khả năng khống chế toàn bộ thế giới tư bản cả về kinh tế và quân sự.
Tất cả các nước tư bản ( Tây Âu và Nhật ) đều phải dựa vào Mỹ để phục hồi
14


nền kinh tế. Đây chính là cơ hội bằng vàng để Mỹ vươn lên nắm quyền lãnh đạo
trong hệ thống tư bản chủ nghĩa và thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới.
+ Liên Xô có vị thế là lực lượng quyết định trong sự nghiệp tiêu diệt chủ
nghĩa phát xít nên vị trí quốc tế và ảnh hưởng của Liên Xô ngày càng được mở
rộng. Liên Xô là một siêu cường về sức mạnh quân sự, lại thoát khỏi thế bị cô
lập tuyệt đối trong thời kỳ trước chiến tranh. Lúc này, bên cạnh liên Xô có rất
nhiều đồng minh quan trọng là hàng loạt các nước XHCN ở Đông Âu đã ra đời,
hệ thống XHCN đã xuất hiện. Hơn nữa, ngay sau chiến tranh, phong trào cách
mạng thế giới lên cao, tấn công ồ ạt vào thành trì của chủ nghĩa đế quốc càng
khiến cho vị thế của Liên Xô được củng cố và khẳng định.
+ Khi tương quan giữa các nước có sự thay đổi mạnh như vậy, mặt trận
Đồng minh chống phát xít hình thành trong chiến tranh đứng trước nguy cơ tan

•Bình đẳng giữa các quốc gia và nguyên tắc dân tộc tự quyết.
•Tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của tất cả các nước.
•Không can thiệp vào công việc nội bộ của bất cứ nước nào.
•Giải quyết mọi tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hoà bình.
•Chung sống hoà bình và sự nhất trí của 5 cường Quốc Liên Xô, Mỹ, Anh,
Pháp, Trung Quốc.
* Cơ cấu tổ chức :
- Các cơ quan chính: Hiến chương Liên hợp quốc quy định bộ máy tổ
chức của Liên hợp quốc gồm 6 cơ quan chính là:
+ Đại hội đồng là cơ quan lớn nhất gồm tất cả các nước thành viên, mỗi
năm họp 1 lần. Mọi vấn đề quan trọng (như bầu ủy viên không thường trực Hội
đồng bảo an, giải quyết các cuộc chiến tranh xung đột) phải được thông qua với
2/3 số nước thành viên trở lên, những vấn đề khác phải được thông qua đa số
phiếu) ;
+ Hội đồng bảo an là cơ quan chính trị quan trọng nhất, giữ vai trò chủ yếu
trong việc bảo vệ hòa bình an ninh thế giới; hoạt động thường xuyên. HĐBA
gồm 15 nước thành viên, trong đó 5 ủy viên thường trực không đổi là Liên Xô,
Mỹ, Anh, Pháp, Trung Quốc (trước 1971 là chính quyền Đài Loan) và 10 nước
ủy viên k hông thường trực nhiệm kì 2 năm (có sự phân đều theo các châu lục).
16


Mọi quyết định của Hội đồng bảo an phải được 9/15 nước thông qua, trong đó
có 5 nước ủy viên thường trực, phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc buộc
tất cả các nước phải thực hiện.
+ Ban Thư kí là cơ quan hành chính- tổ chức của Liên hơp quốc, đứng đầu
là tổng thư kí, nhiệm kì 5 năm tối đa là 2 nhiệm kì liên tiếp.
+ Hội đồng kinh tế và Xã hội (gồm 54 nước thành viên có nhiệm vụ giải
quyết đề xuất các vấn đề kinh tế xã hội) ; Hội đồng Quản thác (là cơ quan được
Liên hợp quốc ủy thác quản lí điều hành một bộ phận lãnh thổ có tranh chấp;

+ Liên Xô mặc dù vẫn có vị thế đứng đầu, nhưng từ giữa những năm 70
của thế kỷ XX bắt đầu có sự trì trệ về kinh tế, lại bộc lộ mâu thuẫn với Trung
Quốc và 1 số nước Đông Âu ( Rumani) nên ảnh hưởng của Liên Xô cũng thu
hẹp dần.
+ Sự thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc làm thay đổi bộ mặt của
khu vực Á, Phi, Mỹ Latinh, phá bỏ phạm vi ảnh hưởng truyền thống của Mỹ và
Tây Âu.
+ Từ những năm 70 của TK XX, xu thế đối thoại xuất hiện, Chiến tranh
lạnh có dấu hiệu tan băng, trật tự 2 cực bị phá vỡ từng mảng lớn.
* Trật tự 2 cực Ianta sụp đổ:
+ Liên Xô và Mỹ rút dần "sự có mặt" của mình ở nhiều khu vực quan trọng
trên thế giới (phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô bị mất hết, còn phạm vi ảnh
hưởng của Mỹ bị thu hẹp ở khắp nơi).
+ Sau sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu; khối Đông Âu, phạm
vi ảnh hưởng của Liên Xô đã bị tan vỡ, cùng với nó là khối Liên minh phòng
thủ Vacxava và Hội đồng tương trợ kinh tế SEV bị giải thể.
+ Thế "hai cực" của hai siêu cường trong Trật tự 2 cực thực sự bị phá vỡ:
Liên Xô bị khủng hoảng và tan rã từ góc độ một nhà nước và sức mạnh kinh tế,
quân sự của Mỹ cũng bị suy giảm đáng kể so với Tây Âu và Nhật Bản.
+ Sự vươn lên của Đức và Nhật Bản về kinh tế, chính trị là mối lo ngại
thực sự cho Mỹ, Liên Xô.
=> Sự tan rã của trật tự 2 cực Ianta không phải do chiến tranh mà là sự
suy yếu của 2 cực, sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống XHCN và những thay đổi
trong nội bộ phe TBCN.
18


d. Đặc điểm
- Trật tự hai cực Ianta là sự phản ánh một hiện thực mới của thế giới sau
chiến tranh Thế giới thứ II: sự cân bằng quyền lực giữa 2 nước lớn là Liên Xô


Câu 1: Hãy nhận xét về những mặt tích cực và hạn chế của trật tự theo
hệ thống Véc xai- Oasinhtơn?
* Mặt tích cực:
- Là trật tự thế giới đầu tiên được thiết lập trong thời kì hiện đại, khác với
các trật tự cận đại. Các trật tự trước chỉ tập trung ở châu Âu, còn trật tự theo hệ
thống Vécxai- Oasinhtơn có phạm vi mở rộng ra toàn thế giới (cả châu Âu, châu
Á và Bắc Mỹ). Nó đã bao quát được gần như toàn bộ thế giới.
- Là trật tự thế giới lần đầu tiên được xác lập với những điều khoản, cam
kết chặt chẽ buộc các nước tham gia phải tuân thủ.
- Lần đầu tiên có một tổ chức quốc tế được thành lập để giám sát trật tự
này, mặc dù trên thực tế có thể không làm được điều này – đó là Hội Quốc Liên.
* Mặt hạn chế:
- Nhằm mục tiêu bảo vệ tối đa lợi ích của các nước thắng trận, do những
người thắng trận dựng lên (Mỹ, Anh, Pháp, Italia, Nhật ), trong đó Mỹ và Nhật
dù tham gia sau, bị tổn thất ít nhất nhưng lại thu lợi nhiều nhất nhờ cuộc chiến
tranh này. Do vậy trật tự này là quá bất công với các nước bại trận, đây chính là
nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến tranh mới; đặc biệt là với nước Đức (hiệp ước
Vécxai đẩy nước Đức vào tình trạng nô lệ mà người ta chưa từng nghe thấy,
chưa từng trông thấy bao giờ); dồn các nước bại trận vào chân tường, có những
điều khoản không thể thực hiện được (thực tế Đức không trả một xu chiến phí
nào vì sau chiến tranh, Đức bị khủng hoảng, không có khả năng tài chính để trả).
Như vậy, những điều khoản của hiệp ước là không có tính khả thi.
- Ngay cả những nước thắng trận cũng không thỏa mãn với hệ thống Vec
xai- Oasinhtơn.
- Sự bất lực của Hội Quốc Liên: Mỹ không tham gia Hội Quốc Liên,
khiến tổ chức này yếu và thiếu (yếu vì không có sự tham gia của các cường
quốc, thiếu tài chính). Hội Quốc Liên không có quân đội, không có tài chính và
không đưa ra được các chế tài xử phạt các nước vi phạm). Vì thế Hội Quốc Liên
tồn tại ngắn và giải thể khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ.

ánh mâu thuẫn giữa đế quốc với đế quốc.
=> Bản chất của chủ nghĩa đế quốc là chiến tranh. Cuộc đấu tranh bảo
vệ hòa bình thế giới không thể tách rời cuộc đấu tranh chống đế quốc. Cuộc
21


đấu tranh này là nhiệm vụ của toàn nhân loại, lực lượng yêu chuộng hòa
bình trên thế giới.
Câu 3: Từ bảng so sánh về thời gian và thành phần tham dự hội nghị
Vécxai và Ianta, em hãy rút ra nhận xét.
N

Hội nghị Véc xai

Hội nghi Ianta

T

Từ tháng 5/1919 (Sau khi

Tháng 2/1945 ( Trước khi

D
hời
gian

chiến tranh thế giới I kết thúc gần chiến tranh thế giới II kết thúc nửa
1 năm)
T
27 nước tham gia

ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai là trật tự 2 cực, nó tồn tại song hành với
một cuộc Chiến tranh lạnh, kéo dài tới 40 năm và chỉ sụp đổ khi 1 trong 2 cực là
Liên Xô bị khủng hoảng và tan rã về mặt nhà nước, cực còn lại là Mỹ cũng bị
suy giảm đáng kể sức mạnh trước các đồng minh của Mỹ như Nhật Bản và Tây
Âu.
Câu 4: Hãy so sánh và lý giải thái độ đối xử của các nước thắng trận
với các nước bại trận sau 2 cuộc chiến tranh thế giới.
- Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất: Các nước thắng trận, nhất là Pháp và
Anh đã có chủ trương dìm các nước bại trận, nhất là nước Đức xuống bùn đen,
với mục tiêu quàng những ách nô dịch khủng khiếp lên đầu nước Đức khiến
quốc gia này vĩnh viễn không thể phục hồi, trỗi dậy, như thế họ hy vọng có thể
triệt tiêu được nguy cơ nước Đức một lần nữa trở thành ngòi châm cho một cuộc
chiến tranh thế giới mới. Nhưng thực tế lại chứng minh điều ngược lại, nước
Đức nuôi mối hận thù, ngang ngược từ chối trả các khoản bồi thường chiến phí
khổng lồ, tự ý rút lui khỏi Hội Quốc Liên, phục hồi và xây dựng một đội quân
chính quy khổng lồ và chính thức phát động cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai
chỉ sau khi hiệp ước Vécxai ký kết đúng 20 năm( 1919-1939), điều đó đã được
chính thống chế Ferdinand Foch, một chính khách của nước Pháp đã dự báo
trước: “ Đây không phải là một hội nghị hòa bình. Đây chỉ là một cuộc hưu
chiến trong vòng 20 năm”. Báo chí các nước châu Âu thời đó cũng đồng loạt
đăng tải thông tin, sau khi hòa ước Vécxai được ký kết, nước Pháp bắn pháo hoa
ăn mừng trong khi ở bên kia biên giới, chính phủ Đức tuyên bố treo cờ rủ, để
quốc tang!
Rút kinh nghiệm từ cách ứng xử giữa các nước sau chiến tranh thế giới thứ
nhất, khi chuẩn bị kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai, bắt đầu từ hội nghị
Ianta, 3 cường quốc thay vì bàn những biện pháp cực đoan trong đối xử với các
nước chiến bại đã tập trung nhấn mạnh đến chủ trương thực hiện xu hướng dân
23





quân đội Anh và Trung Hoa Dân Quốc sẽ được thực hiện nhiệm vụ giải giáp
quân đội Nhật ở 2 khu vực Nam và Bắc vĩ tuyến 16. Quy định này đã tạo thời cơ
cho thực dân Pháp quay trở lại xâm lược đất nước ta lần thứ hai (1945-1954),
buộc nhân dân ta phải tiến hành cuộc kháng chiến 9 năm gian khổ chống đế
quốc Pháp và bọn can thiệp Mỹ. Trong cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân
dân ta, Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đã hết lòng giúp đỡ,
ủng hộ nhân dân ta. Như thế, ngay tại chiến trường Đông Dương đã có những
biểu hiện rõ nét của thế đối đầu 2 phe, 2 cực.
Câu 6: Em hãy cho biết ý kiến của mình về những vai trò, hạn chế của
tổ chức Liên Hợp Quốc từ khi thành lập đến nay trong việc giải quyết các
vấn đề quốc tế và những đóng góp của Việt Nam với tổ chức này?
* Vai trò của Liên Hợp Quốc :
- Liên Hợp Quốc là tổ chức quốc tế lớn nhất, số nước thành viên liên tục
tăng, đến năm 2006 đã có 192 thành viên, được tổ chức chặt chẽ, hoạt động toàn
diện, đều đặn.
- Liên Hợp Quốc trở thành một diễn đàn quốc tế vừa hợp tác, vừa đấu tranh
nhằm gìn giữ hòa bình, an ninh thế giới.
- Liên Hợp Quốc có vai trò to lớn trong việc giải quyết các tranh chấp,
xung đột và chiến tranh ở nhiều khu vực (như giải quyết vấn đề hai miền đất
nước trên bán đảo Triều Tiên, vấn đề kết thúc chiến tranh và lập lại hòa bình ở
Đông Dương 1954, vấn đề Campuchia, Cônggô, vấn Đông Timo, vấn đề
Côsôvô 2003..); tiến hành giải trừ quân bị, hạn chế chạy đua vũ trang, nhất là
các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt; thủ tiêu chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa phân
biệt chủng tộc
- Thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác quốc tế; giúp đỡ các dân tộc, nhất là
các nước đang phát triển, về kinh tế, xã hội, nhân đạo, văn hóa, khoa học, giáo
dục, y tế....với phương châm "giúp người để người tự cứu lấy mình" (như tạo
nên các điều kiện phát triển bền vững, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status