Hội thảo Duyên hải Bắc Bộ lần thứ VII
Chuyên đề:
“ Lựa chọn nội dung và phương pháp ôn tập cho học sinh giỏi quốc gia khi
giảng dạy chuyên đề Quan hệ quốc tế từ năm 1919 đến năm 2000”
A. MỞ ĐẦU
Trong chương trình giáo dục trung học phổ thông, bộ môn lịch sử nói riêng
và các môn học khác nói chung đóng vai trò quan trọng. Đó là những môn khoa
học tạo nên nên sự toàn diện của tri thức khoa học. Tuy nhiên để bộ môn lịch sử
thể hiện được vị trí quan trọng của nó thì vai trò cảu các thầy cô dạy lịch sử là
phải nâng cao phương pháp giảng dạy, nhằm phắt hay một cách hiệu quả tính
tích cực của học sinh, giúp học sinh tiếp thu tốt các kiến thức lịch sử.
Ở chương trình trung học phổ thông kiến thức lịch sử thế giới & lịch sử
Việt Nam là hai lĩnh vực kiến thức lớn của môn học lịch sử. Dạy lịch sử thế
giới, chúng ta liên hệ với lịch sử Việt Nam & ngược lại. Vì vậy, dạy lịch sử thế
giới hay lịch sử Việt Nam đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau cũng như đổi
mới phương pháp dạy học là điều cần thiết. Chương trình giáo dục phổ thông
ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006 /QĐ - BGDĐT ngày 5/6/2006 của bộ
trưởng bộ giáo dục và đào tạo đã nêu: “ Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc trưng của môn học, đặc điểm đối
tượng học sinh, điều kiện của đúng lớp học bồi dưỡng cho học sinh phương
pháp tự học khả năng hợp tác, rèn luyện kĩ năng vân dụng kiến thức vào thực
hiện, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập
cho học sinh.”
Trên đây là quan điểm chung khi khi dạy học lịch sử và vấn đề đối với
phương pháp dạy học lịch sử cho học sinh. Tuy nhiên công tác dạy chuyên, đặc
biệt là học sinh giỏi quốc gia thì lại mang tính chất đặc thù. Thông thường, giáo
viên dạy học sinh giỏi quốc gia thường ôn luyện theo chuyên đề, chuyên sâu.
1
Hơn nữa, khi nắm được vấn đề quan hệ quốc tế từ năm 1919-2000 cũng cần có
sự liên hệ với quan hệ quốc tế hiện nay. Nói chung, đây là một vấn đề kiến thức
rộng và khó. Vì thế trong khuôn khổ hội thảo, trên cơ sở kiến thức sách giáo
khoa lịch sử 11 và 12, tôi cố gắng lựa chọn nội dung ôn tập phù hợp cho các em
học sinh giỏi quốc gia, bao gồm:
- Quan hệ quốc tế từ năm 1919 - 2000 qua 2 thời kì
- Quan hệ quốc tế từ năm 1919 - 1945
1. Trật tự thế giới sau chiến tranh thế giới nhất: trật tự Véc xai_ Oa sinh tơn
-Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, các nước tư bản đã tổ chức hội nghị
hòa bình tại Véc xai (1919 - 1920) và Oa sinh tơn (1921 - 1922) để kí kết hòa
ước và các hiệp ước phân chia quyền lợi. Một trật tự thế giới mới được thiết lập
thông qua các văn kiện đã được kí kết tại Véc xai và Oa sinh tơn - thường được
gọi là hệ thống Véc xai - Oa sinh tơn.
-Theo hệ thống Véc xai - Oa sinh tơn, một trật tự thế giới mới được thiết
lập , phân ánh tương quan lực lượng giũa các nước tư bản . Các nước thắng trận
(trước hết là Anh, Pháp, Mĩ, Nhật ) giành được nhiều quyền lợi về kinh tế , xác
lập sự áp đặt, nô dịch đối với các nước bại trận (Đức , Áo Hung), đặc biệt là sự
áp đặt, nô dịch đối với các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc. Đồng thời ngay trong
các nước thắng trận cũng là bất đồng về quyền lợi.
- Quan hệ hòa bình giữa các nước tư bản trong thời gian trên chỉ là tạm
thời và mong manh.
3
2. Quan hệ giữa các nước giữa hai cuộc Đại chiến thế giới - chủ yếu nói về con
đường dẫn đến chiến tranh thế giới thứ hai
-Sự phát triển không đồng đều giữa các nước tư bản sau khi chiến tranh thế
giới thứ nhất kết thúc đã phản ánh tương quan lực lượng giữa các nước tư bản.
Cuộc khủng hoảng kinh tế “thừa” 1929 - 1933 đã đe dọa nghiêm trọng sự tồn tại
3.1. Trật tự thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai: Trật tự hai cực Ianta
( bắt đầu hình thành từ 2/1945 - 1949 chính thức ra đời).
-Đầu 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn cuối. Những
vấn đề quan trọng và cấp bách đặt ra trong phe đồng minh chống phát xít là: 1.
nhanh chóng đánh bại hoàn toàn các nước phát xít; 2. Tổ chức lại thế giới sau
chiến tranh ; 3. phân chia thành quả chiến thắng giữa các nước thắng trận.
Trong bối cảnh đó, mọi hội nghị quốc tế đã được triệu tập tại Ianta, Liên Xô từ
ngày 4 đến 11/2/1945 với sự tham dự của nguyên thủ 3 cường cuốc Liên Xô,
Mĩ, Anh.
-Những quyết định quan trọng tại Hội nghị Ianta:
+Thống nhất mục tiêu chung là tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Đức và quân
phiệt Nhật. Để nhanh chóng kết thúc chiến tranh trong thời gian từ 2 đến 3
tháng sau khi đánh bại phát xít Đức, Liên Xô sẽ tham chiến chống Nhật ở Châu
Á.
+ Thành lập tổ chức Liên hợp quốc nhằm duy trì hoà bình, an ninh thế giới.
+Thỏa thuận về việc đóng quân tại các nước nhằm giải giáp quân đội phát xít,
phân chia phạm vi ảnh hưởng ở Châu Âu và Châu Á.
Những quyết định tại hội nghị Ianta cùng những thỏa thuận sau đó của ba
cường quốc đã trở thành khuôn khổ của trật tự thế giới mới,thường được gọi là
trật tự hai cực Ianta.
3.2. Quan hệ quốc tế thời kì Chiến tranh lạnh (1947-1989)
-Từ liên minh chống phát xít, sau chiến tranh thế giới thứ hai, hai cường
quốc Liên Xô, Mĩ nhanh chóng chuyển sang thế đối đầu và đi tới tình trạng
Chiến tranh lạnh.
-Sự kiện được xem là khởi đầu cho chính sách chống Liên Xô, gây nên
cuộc Chiến tranh lạnh là thông điệp của tổng thống Truman tại quốc hội Mĩ
5
ngày 12/3/1947. Trong đó tổng thống Mĩ khẳng định: sự tồn tại của Liên Xô là
+ Sau chiến tranh lạnh, hầu như các quốc gia đều tính đến chiến lược phát triển,
tập trung vào phát triển kinh tế để xây đựng sức mạnh thực sự của mỗi quốc gia.
+ Sự tan rã của Liên Xô tạo ra cho Mĩ một lợi thế tạm thời. Giới cầm quyền Mĩ
ra sức thiết lập trật tự thế giới “một cực”, để Mĩ làm là bá chủ thế giới. Nhưng
trong tương quan lực lượng giữa các cường quốc, Mĩ không dễ gì có thể thực
hiện được tham vọng đó.
+ Sau Chiến tranh lạnh, hòa bình thế giới được củng cố nhưng ở nhiều khu vực
tình hình lại không ổn dịnh với những cuộc nội chiến, xung đột quân sự đẫm
máu kéo dài như ở bán đảo Ban Căng, một số nước ở Châu Phi & Trung Á…
II. Một số vấn đề chuyên sâu trong quan hệ quốc tế từ năm 1919-2000
Trong quá trình ôn tập cho học sinh giỏi quốc gia tôi lựa chọn cho các em
một số chuyên đề sau:
-Chuyên đề 1: “Thiết lập trật tự thế giới mới theo hệ thống Vécxai _ Oa sinh
tơn”.
-Chuyên đề 2: “Quan hệ quốc tế giữa các nước giữa hai cuộc đại Chiến thế
giới”(1919-1939).
-Chuyên đề 3: “Trật tự thế giới mới sau Chiến tranh thế giới thứ 2 _ Trật tự hai
cực Ianta”.
-Chuyên đề 4: “Quan hệ quốc tế trong thời kì Chiến tranh lạnh”(1947-1989)”.
-Chuyên đề 5: “Quan hệ quốc tế thời kì sau Chiến tranh lạnh (1989-2000)”.
Qua việc lựa chọn các chuyên đề khi giảng dạy Quan hệ quốc tế từ năm
1919 - 2000, tôi thấy việc dạy theo chuyên đề là phù hợp với học sinh giỏi quốc
gia. Việc dạy theo chuyên đề đã xác định được cho giáo viên rõ về hệ thống hệ
thống kiến thức cân thiết trang bị cho các em. Trên cơ sơ đó giáo viên chủ động
hơn trong việc truyền đạt, nâng cao tính hiệu quả giảng dạy cho học sinh .
Qua kinh nghiệm thực hiện nhiều năm tham gia công tác giảng dạy cho
học sinh giỏi quốc gia, tôi đã biên soạn cho các em một số chuyên đề khi giảng
dạy vấn đề Quan hệ quốc tế từ 1919 - 2000 và đã mang lại hiệu quả công việc.
Cụ thể là hai ví dụ :
7
8
b. Sự tan vỡ của hệ thống Véc xai-Oa sinh tơn và sự hình thành ba lò lửa chiến
tranh thế giới (1929-1939).
Cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933) bùng nổ từ Mĩ, sau đó lan ra
toàn bộ thế giới tư bản, chấm dứt thời kì ổn định tạm thời và tăng trưởng của
chủ nghĩa tư bản. Đây là cuộc khủng hoảng kinh tế “thừa”, tàn phá nặng nề nền
kinh tế các nước tư bản và gây ra những hậu quả nghiêm trọng về chính trị, xã
hội.
-Các nước Đức, Italia, Nhật Bản bị thiệt hại trong việc phân chia thế giới theo
hệ thống Véc xai-Oa sinh tơn, cho nên muốn thủ tiêu hệ thống này bằng một
cuộc chiến tranh để phân chia lại thế giới. Trong những năm 1929-1939 giới
cầm quyền của các nước này đã “phát xit hóa” nền thống trị trong nước, từng
bước phá vỡ qui chế, điều khoản chính yếu của hệ thống Véc xai -Oa sinh tơn,
tích cực chuẩn bị chiến tranh thế giới .
Các nước Anh, Pháp, Mĩ tiến hành nhũng cải cách kinh tế xã hội để khắc phục
hậu quả của cuộc khủng hoảng, đổi mới quá trình quản lí, tổ chức sản xuất.
Đồng thời vì nhiều thuộc địa nên họ trút hậu quả khủng hoảng kinh tế “thừa”
sang các thuộc địa của mình.
-Liên Xô coi chủ nghĩa phát xít là kẻ thù nguy hiểm nhất nên đã chủ trương liên
kết với các nước tư bản Anh, Pháp để chống phát xít và nguy cơ chiến tranh.
Liên Xô kiên quyết đứng về phía các nước bị xâm lược.
-Ba lò lửa chiến tranh thế giới.
+ Sự hình thành “lò lửa chiến tranh” ở Viễn Đông:
Nhật Bản là đế quốc đầu tiên đi vào con đường thanh toán hệ thống Véc xai
-Oa sinh tơn bằng lực lượng quân sự. Kế hoạch xâm lược toàn Châu Á và cả
miền Viễn Đông Liên Xô của Nhật Bản đã được lên chi tiết. Trước tiên 9/1931 ,
Nhật Bản đánh chiến vùng Đông Bắc Trung Quốc và biến toàn bộ vùng đất giàu
có này thành thuộc địa, hi vọng xâm lược toàn bộ Trung Quốc, biến Trung
với sự phân chia thế giới theo hòa ước Véc xai. Tham vọng của Italia là muốn
bành trướng ở vùng Ban căng, chiếm các thuộc địa ở Châu Phi, hòng làm bá chủ
Địa Trung Hải.
10
Nhờ sự ủng hộ của các đế quốc Âu Mĩ đối với bọn xâm lược Italia và nhờ ưu
thế về quân đội, kĩ thuật chiến tranh, thế lực phát xít Italia đã thắng Ê ti ô pi a.
Tháng 5/1939 quân đội Italia chiếm thủ đô Ê ti ô pi a. Chính phủ Mút xô lin ni
tuyên bố sáp nhập Ê ti ô pi a làm thuộc địa và vua Italia trở thành hoàng đế Ê ti
ô pi a.
Mặc đù chính sách trừng phạt rất hạn chế của Hội Quốc liên không đem lại hiệu
quả, nhưng phát xít Italia cũng rút khỏi Hội Quốc liên ( 3/12/1937).
3. Liên Xô đấu tranh nhằm củng cố vị trí quốc tế của mình và bảo vệ hòa bình
giữa các dân tộc.
Liên Xô ra khỏi tình trạng phức tạp về đối ngoại trong những năm khủng hoảng
kinh tế thế giới tư bản. Bằng chính sách đối ngoại hòa bình kiên quyết và khéo
léo, Liên xô đã đập tan mọi âm mưu thù địch chống lại mình, đã kí những hiệp
ước trung lập vào không xâm lược với phần đông các nước láng giềng và một số
các nước tư bản phương Tây vào năm 1932.
Trong vòng 4 năm (1922-1925) các cường quốc tư bản như Anh, Pháp, Italia,
Đức lần lượt công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên xô .
Đây là những thắng lợi to lớn về ngoại giao của Liên Xô. Nhờ đó, Liên Xô đã
củng cố thêm được vị trí quốc tế của mình.
4. Con đường đẫn đến Chiến tranh thế giới thứ hai
-Như đã nói ở phần trên, ba lò lửa chiến tranh đã xuất hiện ở Đức, Italia, Nhật,
nguy cơ Chiến tranh thề giới thứ hai đang đến gần.
-Liên Xô coi chủ nghĩa phát xít là kẻ thù nguy hiểm nhất nên đã chủ trương liên
kết với các nước tư bản Anh , Pháp chống lại phát xít và nguy cơ chiến tranh .
1. Mâu thuẫn Đông -Tây và sự khởi đầu của Chiến tranh lạnh
-Từ liên minh chống phát xít, sau chiến tranh, hai cường quốc Xô-Mĩ nhanh
chóng chuyến sang thế đối đầu và đi đến tình trạng Chiến tranh lạnh.
-Trước hết là sự đối lập về mục tiêu và chiến lược giữa hai cường quốc. Liên Xô
chủ trương duy trì hòa bình, an ninh thế giới, bảo vệ những thành quả của chủ
nghĩa xã hội và đẩy mạnh phong trào cách mạng thế giới. Ngược lại, Mĩ ra sức
chống phá Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, đẩy lùi phong trào cách mạng
thế giới nhằm thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới.
12
Nhưng cũng sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mĩ đã vươn lên thành một nước tư
bản giàu mạnh nhất, vượt xa các nước tư bản khác, nắm độc quyền vũ khí
nguyên tử, Mĩ tự cho mình có quyền lãnh đạo thế giới .
Vì thế ngày 12/3/1947 Mĩ chính thức phát động Chiến tranh lạnh chống Liên
Xô và các nước xã hội chủ nghĩa.
-Hai là, sự ra đời của “Kế hoạch Mác san” (6/1947) giúp các nước Tây Âu phục
hồi kinh tế bị tàn phá sau chiến tranh. Qua đó, Mĩ còn nhằm tập hợp các nước
Tây Âu vào liên minh quân sự chống Liên Xô và các nước Đông Âu. Kế hoạch
này đã tạo nên sự phân chia đối lập về kinh tế và chính trị giữa các nước Tây Âu
tư bản chủ nghĩa và Đông Âu xã hội chủ nghĩa.
-Ba là, việc thành lập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) vào
4/4/1949. Đây là liên minh quân sự lớn nhất của các nước tư bản phương Tây
do Mĩ cầm đầu nhằm chống Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu.
Tháng 1/1949 Liên Xô và các nước Đông Âu thành lập Hội đồng tương trợ kinh
tế để hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau giũa các nước xã hội chủ nghĩa. Tháng 5năm
1955 họ thành lập Tổ chức Hiệp ước Vác sa va, một liên minh chinh trị _ quân
sự mang tính chất phòng thủ của các nước xã hội chủ nghĩa Châu Âu.
Sự ra đời của NATO và Tổ chức Hiệp ước Vác sa va đã đánh dấu sự xác lập của
cục diện hai cực, hai phe. Chiến tranh lạnh đã bao trùm cả thế giới.
gỡ cấp cao - qua đó nhiều văn kiện hợp tác về kinh tế và khoa học kĩ thuật đã
được kí kết giữa hai nước, nhưng trọng tâm là những thỏa thuận về việc thủ tiêu
các tên lửa tầm trung ở Châu Âu, cắt giảm vũ khí chiến lược cũng như hạn chế
cuộc chạy đua vũ trang giữa hai nước .
-Tháng 12 / 1989 trong cuộc gặp gỡ không chính thức tại đảo Manta (Địa Trung
Hải), Liên Xô và Mĩ đã chính thức cùng tuyên bố chấm dứt chiến tranh lạnh.
4. Nguyên nhân đẫn đến chấm dứt Chiến tranh lạnh
-Chạy đua kéo dài nên hai siêu cường Xô - Mĩ suy giảm thế mạnh về nhiều mặt.
-Cả hai đang phải đối mặt với sự thách thức vươn lên của Nhật, Liên minh Châu
Âu, các nước công nghiệp mới…
14
Liên Xô và Mĩ cần thoát khỏi thế đối đầu, cần ổn định để giải quyết những vấn
đề của thế giới.
-Chiến tranh lạnh chấm dứt mở ra chiều hướng giải quyết mọi xung đột bằng
biện pháp hòa bình, chung tay góp sức giải quyết những vấn đề về bệnh tật, ô
nhiễm môi trường, tai nạn thảm khốc…
Phần II: Phương pháp ôn tập cho học sinh giỏi quốc gia khi giảng
dạy chuyên đề Quan hệ quốc tế từ năm 1919 - 2000
1. Yêu cầu chung khi tổ chức ôn tập cho học sinh giỏi quốc gia về vấn đề
Quan hệ quốc tế từ năm 1919-2000.
-Vấn đề Quan hệ quốc tế từ năm 1919-2000 là một vấn đề rất rộng, bao
gồm nhiều nội dung phong phú, trong đó đan xen những quan hệ phức tạp. Bởi
vậy khi tổ chức ôn tập cho học sinh giỏi quốc gia, tôi chỉ lựa chọn những nội
dung cơ bản nhất, phù hợp với các em. Trên cơ sở đó, tôi tổ chức, hướng dẫn
các em nắm chắc , hiểu sâu kiến thức mà tôi yêu cầu .
-Trước hết , tôi kết hợp các phương pháp ôn tập một cách đa đạng cho học
phân công người đại diện nhóm; các thành viên cùng thảo luận nhũng vấn đề
nào sao cho cô đọng, chuyên sâu nhất, xâu chuỗi, đánh giá các sự kiện; cử thư
kí ghi chép biên bản…
+ Trong khi người đại diện nhóm thuyết trình, các thành viên trong nhóm được
bổ sung để hoàn thiện kiến thức, các nhóm khác có thể góp ý, nhận xét.
+Sau khi từng nhóm trình bày xong, tôi nhận xét kết quả thảo luận từng nhóm,
bổ sung kiến thức,vạch ra những hạn chế của các em để chỉnh sửa trong những
lần thảo luận sau , động viên những thành viên tích cực.
+Không khí thảo luận phải dân chủ, tự chủ, tôn trọng lẫn nhau để các em phấn
khởi , tự tin khám phá kiến thức .
*Thứ hai: Tôi xây dựng hệ thống bài tập phù hợp với vấn đề quan hệ quốc tế từ
năm 1919-2000.
-Việc xây dựng hệ thống bài tập cho học sinh giỏi quốc gia khi ôn tập
Quan hệ quốc tế từ 1919-2000 là rất cần thiết. Với hệ thống câu hỏi mà tôi biên
16
soạn, các em sẽ tự chủ về kiến thức để say mê học tập hơn. Tuy nhiên việc xây
dựng hệ thống bài tập cho học sinh giỏi quốc gia khi ôn luyện mảng kiến thức
này không được tùy hứng mà cần dảm bảo tính hệ thống, đa dạng nhưng phải
phù hợp đối với các em. Đồng thời, trong hệ thống bài tập đó phải tuyệt đối
chính xác , đạt sự chuẩn mực. Có như vậy hiệu quả ôn tập mới cao.
-Trên cơ sở 5 chuyên đề tôi lựa chọn khi giảng dạy học sinh giỏi quốc gia
vấn đề Quan hệ quốc tế từ 1919-2000 , tôi xây dựng hệ thống bài tập như sau :
Chuyên đề 1: “Thiết lập trật tự thế giới mới theo hệ thống Véc xai - Oa sinh
tơn”
Câu hỏi: 1. Trật tự thế giới mới được xác lập như thế nào sau chiến tranh thế
giới thứ nhất?
2. Nêu đặc điểm của trật tự thế giới theo hệ thống Véc xai - Oa sinh
tơn?
thứ hai?
2. Nêu đặc điểm của trật tự hai cực Ianta ? So sánh trật tự hai cực Ianta
với trật tự Véc xai - Oa sinh tơn?
3. Từ những quyết định tại hội nghị Ianta (2/1945) và những thỏa thuận
sau đó của các cường quốc đồng minh , thế giới đã được phân chia như
thế nào?
4. Đánh giá về các trật tự thế giới sau mỗi cuộc Đại chiến thế giới?
5. Vai trò của Liên hợp quốc trong việc giữ gìn hòa bình, an ninh thế
giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai ? Liên hệ vai trò của Liên hợp quốc
trong tình hình hiện nay?
Chuyên đề 4 : “Quan hệ quốc tế trong thời kì Chiến tranh lạnh (1947-1989)”
Câu hỏi: 1. Vì sao Mĩ phát động Chiến tranh lạnh? Nêu những biểu hiện của
Chiến tranh lạnh?
2. Hãy nêu và phân tích những sự kiện dẫn đến tình trạng Chiến tranh
lạnh giữ hai phe Tư bản chủ nghĩa và Xã hội chủ nghĩa?
3. Sự đối đầu Đông - Tây được thể hiện như thế nào sau Chiến tranh
thế giới thứ hai?
18
4. Mối quan hệ giữa các cường quốc thời kì Chiến tranh lạnh được biểu
hiện như thế nào?
5. Xu thế hòa hoãn Đông - Tây được thể hiện như thế nào trong quan
hệ quốc tế?
6. Vì sao Chiến tranh lạnh chấm dứt ? Điều đó có tác động như thế nào
tới quan hệ quốc tế ?
7. Vấn đề hòa bình , an ninh Châu Âu đã được giải quyết như thế nào
trong những năm 70 của thế kỉ XX ? Phân tích tác động của nó tới quan
hệ quốc tế?
cao, cần tham khảo một số tài liệu khác để tăng thêm sự phong phú của bài học,
tuy nhiên không lạm dụng tư liệu.
Ví dụ: khi giảng dạy ôn tập cho học sinh Quan hệ quốc tế từ 1919-2000, tôi
hướng dẫn các em tham khảo tư liệu:
1. Lịch sử thế giới hiện đại - Nhà xuất bản giáo dục
2. Quy trình dạy học tiếp cận chuẩn quốc tế (tài liệu bồi dưỡng giáo viên)
3. Chương trình dạy học chuyên sâu môn lịch sử (tài liệu bồi dưỡng giáo viên)
4. Quan hệ quốc tế sau chiến tranh thế giới thứ hai - nay (tài liệu bồi dưỡng giáo
viên)
20
C. KẾT LUẬN
Công tác huấn luyện học sinh giỏi là một công tác rất gian truân, đòi hỏi
người giáo viên phải nhiệt huyết, tận tâm với nghề. Người giáo viên cần phải có
những kiến thức chắt lọc, những bài giảng hay, những chuyên đề mang tính hiệu
quả cao để vừa phát huy trí tuệ của các em, vừa giúp các em có được sự tổng
hợp về kiến thức một cách toàn diện. Mỗi bước trưởng thành của các em chính
là niềm vui của người dạy chuyên.
Với bản thân tôi, dạy chuyên là một niềm vui. Hàng đêm tôi chắt lọc ra
các kiến thức, những câu hỏi khó, những đoạn phân tích sự kiện hay cho các
em. Để mỗi ngày đứng trên bục giảng tôi được nhìn thấy ánh mắt long lanh của
học trò. Mặc dù trong công tác dạy chuyên tôi cũng có những thành công và thất
bại.
Trên đây thực sự là những chia sẻ của tôi với các đồng nghiệp trong quá
trình ôn tập cho học sinh giỏi quốc gia khi giảng dạy Quan hệ quốc tế từ 19192000. Dẫu rằng sẽ có những khiếm khuyết, song tôi đã mạnh dạn nêu ra những
công việc thường ngày của một giáo viên day chuyên. Đối với tôi, công tác dạy
chuyên là một nhiệt huyết, là một sự say mê và luôn phấn đấu để hoàn thiện,
hiệu quả hơn nữa trong trọng trách tập huấn học sinh giỏi quốc gia.