CHUYÊN đề báo cáo BIÊN SOẠN CHỦ đề dạy và PHƯƠNG PHÁP ôn tập CHO học SINH GIỎI KHI GIẢNG dạy LỊCH sử VIỆT NAM từ 1919 – 1930 - Pdf 31

CHUYÊN ĐỀ BÁO CÁO
BIÊN SOẠN CHỦ ĐỀ DẠY VÀ PHƯƠNG PHÁP ÔN TẬP CHO HỌC
SINH GIỎI KHI GIẢNG DẠY LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ 1919 – 1930
Phạm Thị Hằng
Giáo viên Trường THPT chuyên Lê Hông Phong
Nam Định
PHẦN MỞ ĐẦU
Mục tiêu của trường chuyên về cơ bản vẫn là mục tiêu đào tạo của trường
THPT tức là “giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm
mĩ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội
chủ nghĩa… xây dựng nhân cách và trách nhiệm công dân…” và có thêm yêu cầu
được phát triển năng khiếu (về một môn học) để chuẩn bị cho các em tiếp tục học
lên đại học, nhằm đào tạo thành nhưng tri thức giỏi, cao hơn là những nhân tài
cho đất nước.
Để đạt được mục tiêu đó, các trường chuyên phải nâng cao hiệu quả dạy
học, đặc biệt là nâng cao công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Đối với công tác bồi
dưỡng học sinh giỏi nói chung, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử nói
riêng là vấn đề luôn được các cấp quản lí, các giáo viên trực tiếp giảng dạy quan
tâm và trăn trở. Đây là công việc đòi hỏi thời gian, trí tuệ, tâm huyết của mỗi giáo
viện khi tham gia giảng dạy. Bởi vì, thực tế giáo viên dạy chuyên không có
chương trình thống nhất, sách giáo khoa, sách giáo viên riêng cho chuyên, chưa
có phòng học bộ môn... Giáo viên không được đào tạo, tập huấn để dạy chuyên,
chủ yếu dạy bằng kinh nghiệm tiễn đúc rút từ năm này qua năm khác. Do vậy,
việc tổ chức các buổi hội thảo về các chuyên đề bồi dưỡng HSG quốc gia giữa
các giáo viên ở các trường chuyên là điều rất cần thiết.
Trong tiến trình lịch sử Việt Nam giai đoạn từ năm 1919 đến năm 1930 là
giai đoạn lịch sử với lượng kiến thức phong phú, nội dung khá quan trọng,
1


thường có những câu hỏi trong đề thi, thi chọn học sinh giỏi tỉnh, thi Đại học , thi

mới thúc đẩy phong trào dân tộc dân chủ phát triển theo hai khuynh hướng chủ
yếu: khuynh hướng vô sản và khuynh hướng dân chủ tư sản.
Những hoạt động tích cực của Nguyễn Ái Quốc đã truyền bá chủ nghĩa
Mác - Lênin về trong nước, thúc đẩy phong trào công nhân phát triển từ tự phát
sang tự giác, phong trào yêu nước cũng chuyển dần theo khuynh hướng vô sản,
tất yếu đưa đến sự thành lập Đảng cộng sản Việt Nam đầu năm 1930. Sự ra đời
của Đảng là một tất yếu lịch sử của cách mạng Việt Nam. Giá trị to lớn của
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được
Hội nghị hợp nhất nhất trí thông qua.
-Về kĩ năng
Thông qua việc học tập chuyên đề, học sinh được rèn các kĩ năng bộ
môn:
+ Học sinh biết chọn lọc sự kiện tiêu biểu trong hệ thống các sự kiện.
+ Biết lập bảng thống kê sự kiện, lập sơ đồ tư duy để tự học
+ Biết so sánh, phân tích, đánh giá sự kiện để tìm ra bản chất của sự kiện.
3


+ Học sinh phải biết phân tích các vấn đề lịch sử để đánh giá, kết luận.
+ Phải biết so sánh, liên hệ
+ Giáo viên rèn kỹ năng làm bài cho học sinh
-Về thái độ:
Qua nội dung chuyên đề giáo dục cho học sinh lòng yêu nước, có niềm tin
vào sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc như trong
công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.
1.2. Nội dung của chuyên đề lịch sử Việt Nam 1919 – 1930
Quá trình vận đông của cách mạng Việt Nam, từ sau Chiến tranh thế giới
đến 1930, là giai đoạn thể hiện sự phát triển của cách mạng Việt Nam dẫn tới sự
ra đời của Đảng. Khi giảng dạy giai đoạn này, giáo viên cần làm nổi bật những
nội dung cơ bản sau:

lịch sử
Do yêu cầu, cũng như tính chất của việc bồi dưỡng học sinh giỏi nên việc
biên soạn các chủ đề lịch sử cho học sinh lớp chuyên là rất cần thiết. Vì vậy, khi
xây dựng các chủ đề lịch sử cho học sinh, giáo viên cần chú ý những yêu cầu sau:
Biên soạn các chủ đề lịch sử phải đảm bảo tính phổ thông, phù hợp với
chương trình, mục tiêu và trình độ của học sinh.
Khi biên soạn các chủ đề bồi dưỡng học sinh giỏi không chỉ ôn tập, củng
cố kiến thức đã học mà còn giúp học sinh đào sâu kiến thức, nâng cao hiểu biết,
phát huy được tính sáng tạo, tinh thần tự học, tự nghiên cứu.
Giáo viên cần xây dựng hệ thống các dạng bài tập lịch sử có liên quan để
học sinh ôn lại kiến thức, rèn luyện kỹ năng làm bài tập cùng như phát triển tư
duy lịch sử.
1.3.1. Biên soạn một số chủ đề khi ôn tập lịch sử Việt Nam từ 1919 - 1930
Căn cứ vào mục tiêu, nội dung chương trình lịch sử lớp 12 (nâng cao),
chúng tôi đã nghiên cứu và biên soạn các chủ đề sau:
5


Chủ đề 1. Những chuyển biến về kinh tế và xã hội ở Việt Nam sau Chiến
tranh thế giới thứ nhất.
1. Hoàn cảnh quốc tế tác động đến Việt Nam
a. Ảnh hưởng của CMT10 Nga năm 1917
+ Ngày 7/11/1917 (24/10 theo lịch Nga) cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa
tháng Mười đã thắng lợi, đã xoá bỏ ách thồng trị của phong kiến và tư sản Nga
thành lập chính quyền Xô viết đưa nhân dân lao động lên làm chủ đất nước
+ Cách mạng tháng Mười Nga còn giải phóng cho các dân tộc bị Đế quốc
Nga áp bức. Cuộc Cách mạng tháng Mười không chỉ là cuộc cách mạng vô sản
mà còn là cach mạng giải phóng dân tộc
+ Thắng lợi của cuộc cách mạng này đã mở ra con đường giải phóng cho
giai cấp công nhân và các dân tộc thuộc địa

yêu nước chuyển sang lập trường cộng sản. Mở ra cho cách mạng giải phóng dân
tộc Việt Nam một giai đoạn mới – giai đoạn gắn phong trào cách mạng Việt Nam
với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt Nam đi theo con đường
Cách mạng tháng Mười Nga.
c. Phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh ở châu Á.
- Đảng Cộng sản Trung Quốc (7- 1921) được thành lập đã tạo điều kiện
thuận lợi cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê nin vào phong trào cách mạng
nước ta.
Như vậy, các sự kiện trên đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cơ bản để
truyền bá sâu rộng chủ nghĩa Mác – Lênin vào nước ta sau chiến tranh thế giới
thứ nhất. Từ đó, hình thành một khuynh hướng các mạng mới ở Việt Nam –
khuynh hướng cách mạng vô sản.
2. Chính sách kinh tế, chính trị, văn hóa của thực dân Pháp ở Đống Dương
sau chiến tranh thế giới thứ nhất.
* Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai
7


-Mục đích: bù đắp thiệt hại do chiến tranh gây ra và khôi phục địa vị kinh
tế của nước Pháp trong thế giới tư bản chủ nghĩa.
Tăng cường đầu tư vốn trên quy mô lớn, tốc độ nhanh vào các nước ở
Đông Dương. Trong vòng 6 năm (1924 – 1929), số vốn đầu tư tăng gấp 6 lần so
với 20 năm trước chiến tranh.
- Hướng đầu tư: công nghiệp và nông nghiệp. Trong nông nghiệp: tập
trung vào đồn điền (nhất là đồn điền cao su). Trong công nghiệp: tập trung khai
thác mỏ (chủ yếu là mỏ than).
- Mở mang một số ngành công nghiệp chế biến quặng kẽm, thiếc; sản xuất
tơ, sợi, gỗ, diêm, đường, xay xát….
- Thương nghiệp: ngoại thương có bước phát triển mới. Giao lưu nội địa
được đẩy mạnh. Pháp thi hành chính sách độc chiếm thị trường, dùng hành rào

ở Đông Dương.
- Về văn hoá, giáo dục
+ Hệ thống giáo dục được mở rộng gồm các cấp tiểu học, trung học, cao
đẳng, đại học. Tuy vậy, trường học được mở hết sức nhỏ giọt, chủ yếu phục
vụ cho công cuộc khai thác.
+ Cơ sở xuất bản, in ấn ngày càng nhiều, có hàng chục tờ báo bằng chữ
Quốc ngữ và chữ Pháp, nhằm phục vụ cho công cuộc khai thác và thống trị ở
Đông Dương. Các trào lưu tư tưởng, khoa học, kĩ thuật, văn hóa phương Tây xâm
nhập mạnh vào Việt Nam.
3. Những chuyển biến mới về kinh tế và giai cấp xã hội ở Việt Nam
a. Chuyển biến về kinh tế
- Nền kinh tế tư bản thực dân tiếp tục được mở rộng và trùm lên nền kinh
tế phong kiến Việt Nam.

9


- Cơ cầu kinh tế Việt Nam có sự chuyển biến, song chỉ mang tính chất cục bộ,
chủ yếu vẫn là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, ngày công bị cột chặt vào
kinh tế Pháp.
b. Chuyển biến về giai cấp xã hội
- Sự phân hóa giai cấp xã hội Việt Nam diễn ra sâu sắc hơn.
+ Địa chủ phong kiến tiếp tục phân hóa thành ba bộ phận tiểu địa chủ,
trung địa chủ và đại địa chủ. Một bộ phận trung, tiểu địa chủ có ý thức chống đế
quốc và tay sai. Bộ phận đại địa chủ thường được Pháp sử dụng trong bộ máy cai
trị.
+ Giai cấp nông dân chiếm đại đa số trong xã hội Việt Nam (khoảng
90%), bị bị bần cùng hóa không lối thoát. Mâu thuẫn giữa nông dân với đế quốc
Pháp và tay sai rất gay gắt. Đây là một động lực của cách mạng.
+ Giai cấp tiểu tư sản gồm chủ xưởng, những người buôn bán nhỏ, học

biến đổi về xã hội, nhất là sự phân hoá giai cấp ngày càng sau sắc, làm cho xã hội
Việt Nam có đầy đủ những giai cấp của một xã hội hiện đại.
- Những giai cấp mới là cơ sở vật chất để tiếp thu những tư tưởng mới vào
Việt Nam (kể cả tư tưởng tư sản và tư tưởng vô sản), làm cho phong trào dân tộc
Việt Nam mang những màu sắc mới mà các phong trào yêu nước trước kia không
thể nào có được.
- Những giai cấp mới cùng những hệ tư tưởng mới làm xuất hiện hai
khuynh hướng tư sản và vô sản. Cả hai khuynh hướng đều cố gắng vươn lên giải
quyết nhiệm vụ giành độc lập dân tộc do lịch sử đặt ra. Đó chính là cuộc đấu
tranh giành quyền lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam. Đây là đặc
điểm lớn nhất của phong trào yêu nước Việt Nam trong thời gian 1919-1930.

11


Từ nội dung kiến thức cơ bản trên, HS vận dụng giải quyết các bài tập
sau :
Câu 1. Phân tích những sự kiện lịch sử trên thế giới có ảnh hưởng đến
phong trào cách mạng Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất.
Câu 2. Chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp được
tiến hành trong hoàn cảnh nào? Nội dung cuộc khai thác và tác động của nó đến
kinh tế - xã hội Việt Nam.
Câu 3. Sự phân hóa giai cấp xã hội ở Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ
nhất diễn ra như thế nào? Những biến đổi trong xã hội Việt Nam sau Chiến tranh
thế giới thứ nhất đã tác động gì đến cách mạng Việt Nam
Câu 4. Thái độ các giai cấp trong xã hội Việt Nam đối với sự thống trị của
thực dân Pháp và tay sai như thế nào?
Câu 5. Tại sao nói, giai cấp công nhân có khả năng lãnh đạo cách mạng sau
chiến tranh thế giới thứ nhất?
Chủ đề 2. Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ sau chiến tranh thế giới

- Giai cấp nông dân:
Là giai cấp có số lượng đông nhất trong xã hội (chiếm trên 90% dân số) và
cũng là nạn nhân chính của chính sách khai thác thuộc địa, bóc lột tô thuế và
cướp đoạt ruộng đất. Họ bị đẩy vào con đường bần cùng hóa, không lối thoát nên
có mâu thuẫn gay gắt với đế quốc và tay sai. Nông dân Việt Nam có tinh thần dân
tộc và dân chủ sâu sắc, có ý thức chống đế quốc và chống phong kiến cao. Họ có
hai yêu cầu (về lợi ích): độc lập dân tộc và ruộng đất, nhưng họ luôn đặt lợi ích
độc lập dân tộc cao hơn lợi ích ruộng đất. Giai cấp nông dân là một lực lượng
cách mạng to lớn nhất, là động lực của cách mạng.
- Giai cấp tiểu tư sản:
Tiểu tư sản gồm những người tiểu thương, tiểu chủ, học sinh, sinh viên,
nhà văn, nhà báo, công chức... Sau chiến tranh thế giới thứ nhất họ có sự phát
13


triển nhanh về số lượng. Họ có ý thức dân tộc dân chủ, chống thực dân và tay sai.
Đặc biệt bộ phận trí thức, học sinh, sinh viên nhất nhạy cảm với thời cuộc và tha
thiết canh tân đất nước nên rất hăng hái tham gia các cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc.
- Giai cấp tư sản:
Giai cấp tư sản Việt Nam ra đời sau chiến tranh thế giới thứ nhất và phân
hóa thành hai bộ phận: tư sản mại bản và tư sản dân tộc. Tư sản mại bản là những
chủ tư bản lớn mở xí nghiệp để gia công, nhận thầu cho đế quốc, có quyền lợi
gắn bó với đế quốc nên trở thành đối tượng cách mạng. Tư sản dân tộc có khuynh
hướng kinh doanh độc lập, địa vị kinh tế nhỏ bé, số vốn ít, thường bị Pháp cạnh
tranh, chèn ép nên có khuynh hướng dân tộc, dân chủ.
- Giai cấp công nhân:
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, công nhân tăng lên về số lượng (từ 10
vạn lên 22 vạn). Công nhân Việt Nam có đặc điểm giống công nhân thế giới: đại
biểu cho lực lượng sản xuất tiến bộ của xã hội, điều kiện lao động và sinh sống

Quốc) phần nào đã ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản, tiểu tư sản
Việt Nam.
Những điều kiện lịch sử nói trên, đã tác động tới sự hình thành hai khuynh
hướng chính trị khác nhau trong phong trào yêu nước Việt Nam từ năm 1919 đến
đầu năm 1930:
- Phong trào yêu nước của tư sản và tiểu tư sản theo khuynh hướng dân
chủ tư sản
- Phong trào đấu tranh của công nhân và các tầng lớp nhân dân khác theo
khuynh hướng vô sản.
2. Phong trào yêu nước của tư sản và tiểu tư sản (1919 - 1930)
a. Phong trào
15


* Phong trào đấu tranh của tư sản dân tộc và tiểu tư sản trí thức (1919 - 1925)
- Phong trào của tư sản:
Để chống lại sự cạnh tranh của tư sản Hoa kiều, năm 1919 tư sản phát
động phong trào chấn hưng nội hoá, bài trừ ngoại hoá. Ở Hà Nội bài trừ hàng hoá
người Hoa với khẩu hiệu "người Nam chỉ mua hàng của người Nam". Năm 1923,
địa chủ, tư sản đấu tranh chống độc quyền cảng Sài Gòn và xuất khẩu gạo ở Nam
Kì của tư bản Pháp.
Cùng với những hoạt động kinh tế, giai cấp tư sản cũng dùng báo chí bảo
vệ quyền lợi của mình. Năm 1923, tư sản và địa chủ Nam Kì (đại biểu là Bùi
Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long...) thành lập Đảng lập hiến để tập hợp lực
lượng, đưa ra khẩu hiệu đòi tự do dân chủ. Tuy nhiên Đảng này có hạn chế là
muốn lợi dụng sự ủng hộ của quần chúng làm áp lực với Pháp và khi Pháp
nhượng bộ cho một số quyền lợi (cho một số ghế trong Viện dân biểu Bắc kì, Hội
đồng quản hạt Nam kì) thì sẵn sàng thoả hiệp với Pháp đi vào con đường cải
lương.
- Phong trào đấu tranh của tiểu tư sản trí thức:

Đảng bổ sung nguyên tắc “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” vào chương trình hoạt
động. Đầu năm 1930, Việt Nam quốc dân Đảng mô phỏng theo chủ nghĩa Tam
dân của Tôn Trung Sơn (đánh đuổi giặc Pháp, đánh đổ ngôi vua, thiết lập dân
quyền) .
Thành phần đảng viên rất phức tạp: tư sản dân tộc, nông dân khá giả, binh
lính hạ sĩ quan người Việt trong quân đội Pháp, thân hào, địa chủ... Mặc dù là
một đảng hoạt động bí mật nhưng tổ chức rất lỏng lẻo, kỉ luật thiếu nghiêm minh,
việc kết nạp đảng viên lại diễn ra bừa bãi tạo cơ hội cho Pháp lợi dụng đưa tay
chân vào Đảng.
Việt Nam Quốc dân đảng chủ trương tiến hành cách mạng bằng sắt và
17


máu, lấy binh lính người Việt trong quân đội Pháp làm lực lượng chủ lực nên cơ
sở trong quần chúng rất ít, địa bàn bó hẹp trong một số địa phương ở Bắc kì. Do
không có đường lối và phương pháp đúng đắn nên hoạt động của Đảng thiên về
quân sự, nặng về hình thức ám sát cá nhân.
Tháng 2/1929 Việt Nam Quốc dân đảng tổ chức ám sát tên trùm mộ phu
Badanh. Thực dân Pháp nhân cơ hội này tiến hành khủng bố những người yêu
nước làm cho Việt Nam Quốc dân đảng bị tổn thất nặng nề. Bị động trước tình
thế, những người lãnh đạo đã dốc hết lực lượng còn lại thực hiện một cuộc bạo
động với hi vọng “không thành công cũng thành nhân”.
Cuộc khởi nghĩa diễn ra vào đêm 9/2/1930 tại Yên Bái, tiếp theo là Phú
Thọ, Hải Dương, Thái Bình. Ở Hà Nội cũng ném bom để phối hợp với các địa
phương. Tại Yên Bái quân khởi nghĩa đã chiếm được trại lính, hạ một số sĩ quan
Pháp nhưng không làm chủ được tỉnh lị nên hôm sau bị quân Pháp phản công và
tiêu diệt. Còn ở nơi khác nghĩa quân chỉ tạm thời làm chủ mấy huyện nhỏ, sau đó
địch chiếm lại, khởi nghĩa nhanh chóng thất bại.
Cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại đã kéo theo sự tan rã hoàn toàn của Việt
Nam Quốc dân đảng, kể từ đó vai trò lịch sử của Việt Nam Quốc dân đảng với tư

- Trong nước : Cuộc khai thác thuộc địa lần 2 của thực dân Pháp làm cho
XXVN có nhiều chuyển biến dẫn đến sự phân hóa sâu sắc trong xã hội. Các giai
cấp mới hình thành, giai cấp CNVN tăng từ 10 vạn lên 22 vạn. Nó khẳng định xu
thế của thời đại, phug hợp với yêu cầu ls.
* Khái quát : Giai cấp CNVN ra đời trong cuộc khai thác thuộc địa lần I
của Pháp. Đặc điểm chung với CNTG, điểm riêng...
b. Phong trào
- Từ năm 1919 - 1925
Năm 1920 công nhân Sài Gòn lập ra công hội bí mật do Tôn Đức Thắng
đứng đầu. Đây là tổ chức đầu tiên của công nhân Việt Nam. Năm 1921 các cuộc
19


đấu tranh của công nhân Pháp, Trung Quốc đã cổ vũ công nhân Việt Nam. Mở
đầu là công nhân Bắc Kì đấu tranh đòi chủ cho nghỉ ngày chủ nhật có lương vào
năm 1922. Tiếp đó là các cuộc bãi công ở các nhà máy dệt, rượu, xay xát tại Nam
Định, Hải Phòng, Hà Nội.
Tháng 8/1925 cuộc bãi công của công nhân Ba Son nhằm ngăn cản tàu
Pháp chở lính sang đàn áp phong trào đấu tranh của công nhân Trung Quốc đã
đánh dấu bước chuyển từ tự phát sang tự giác.
Nhìn chung, phong trào công nhân thời kì này diễn ra còn lẻ tẻ, chịu ảnh
hưởng từ bên ngoài, nặng về đấu tranh kinh tế, còn mang tính tự phát, giai cấp
công nhân chưa trở thành một lực lượng chính trị độc lập.
Tuy nhiên ý thức giai cấp đang phát triển nhanh chóng làm cơ sở cho các
tổ chức và phong trào đấu tranh chính trị sau này mà bắt đầu là cuộc đấu tranh
của công nhân Ba Son đã có mục tiêu về chính trị, thể hiện tinh thần đoàn kết
quốc tế với vô sản thế giới. Vì thế sự kiện này đánh dấu bước chuyển biến của
phong trào công nhân từ tự phát sang tự giác.
- Từ năm 1926 - 1930
Phong trào công nhân Việt Nam có những điều kiện lịch sử mới tác động.

có cương lĩnh cách mạng cụ thể, với ý nghĩa đó, giai cấp công nhân đã hoàn thiện
quá trình từ tự phát đến tự giác, bước lên vũ đài lịch sử đảm nhận sứ mệnh vẻ
vang của giai cấp mình.
c. Ý nghĩa của phong trào công nhân đối với sự thành lập Đảng
Giai cấp công nhân là giai cấp tiên phong của cách mạng, họ vừa có phong
trào đấu tranh riêng của mình, vừa tham gia vào phong trào yêu nước chung của
dân tộc và họ đi tiên phong trong phong trào giải phóng dân tộc. Thực chất phong
trào công nhân cũng là một phong trào yêu nước, nó thể hiện tinh thần yêu nước
của giai cấp công nhân Việt Nam. Phong trào vừa nhằm vào mục tiêu riêng của
giai cấp: chống CNTB, đòi quyền lợi về kinh tế chính trị cho mình, vừa nhằm
21


vào mục tiêu chung của dân tộc: chống đế quốc, phong kiến tay sai để giành độc
lập tự do cho dân tộc.
Phong trào công nhân phát triển là cơ sở xã hội, là điều kiện chính trị để
tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, nó tạo ra mảnh đất thuận lợi cho hạt giống Mác Lênin nảy mầm ở nước ta. Cũng chính chủ nghĩa Mác - Lênin truyền bá vào nước
ta, tác động trở lại, làm cho phong trào công nhân chuyển biến từ đấu tranh tự
phát sang đấu tranh tự giác.
Sự phát triển của phong trào công nhân ở giai đoạn tự giác đòi hỏi sự ra
đời của 1 chính đảng cộng sản. Do đó sự phát triển của phong trào công nhân trở
thành một trong 3 nhân tố đưa đến sự ra đời Đảng cộng sản Việt Nam.
HS vận dụng kiến thức giải quyết các bài tập sau :
Câu 1. Đặc điểm lớn nhất của phong trào yêu nước Việt Nam từ sau Chiến
tranh thế giới thứ nhất đến đầu năm 1930 là gì? Vì sao có đặc điểm đó?
Câu 2. Trình bày về tình hình các giai cấp mới ra đời sau Chiến tranh thế
giới thứ nhất. Những giai cấp này có những hoạt động gì nổi bật trong phong trào
dân tộc dân chủ (1919 - 1925)?
Câu 3. Phân tích quá trình giai cấp công nhân Việt Nam vươn lên từ đấu
tranh tự phát đến đấu tranh tự giác (1919 - 1930). Ý nghĩa của phong trào công

Nam có những chuyển biến về kinh tế, xã hội tạo cơ sở bên trong để tiếp thu ảnh
hưởng của luồng tư tưởng dân chủ tư sản từ Trung Quốc, Nhật Bản dội vào. Các
sĩ phu yêu nước tiến bộ như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đã khởi xướng một
phong trào cứu nước theo khuynh hướng mới thay thế cho tư tưởng phong kiến
cũ. Song kết quả cho thấy tư tưởng dân chủ tư sản cũng tỏ ra bất lực trước thời
đại mới. Cách mạng Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng về đường lối
“dường như trong đêm tối không có đường ra”. Hoàn cảnh đó đặt ra yêu cầu phải
tìm con đường cứu nước mới.
- Quê hương, gia đình
23


Nguyễn Ái Quốc sinh ngày 19/5/1890 tại Nam Đàn, Nghệ An. Thân sinh của
Người là cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - một nhà nho giàu lòng yêu nước, vì không
chịu cảnh quan trường nô lệ đã từ quan về quê dạy học. Các anh chị của Người đều
quên tình riêng lo việc chung, đều hoạt động trong phong trào yêu nước, bị Pháp bắt
và bỏ tù. Tấm gương của những người thân trong gia đình đã sớm nảy nở ở Người
lòng yêu nước và chí lớn “cứu nước trả thù nhà”.
Vùng đất Nam Đàn, Nghệ An vốn là mảnh đất địa linh nhân kiệt đã từng
sản sinh ra nhiều danh nhân lịch sử. Đây cũng là vùng quê giàu truyền thống đấu
tranh bất khuất. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến Nguyễn Ái Quốc. Ngay
từ lúc còn trẻ, Người đã bộc lộ những phẩm chất cao quý: giàu lòng nhân ái, ham
hiểu biết, có hoài bão lớn, có ý chí để cứu nước, cứu dân.
Tuy chịu ảnh hưởng tinh thần yêu nước của cha anh nhưng bằng trí tuệ
thiên tài, bằng suy nghĩ độc lập đầy bản lĩnh đã tạo cho Người có tầm nhìn vượt
lên trên các nhà yêu nước đương thời. Người sớm nhân thấy những hạn chế, sai
lầm của các nhà cách mạng tiền bối nên đã chọn hướng đi sang các nước Tây Âu
để tìm đường cứu nước. Đó là sự lựa chọn sáng suốt, đúng đắn, mang tầm vóc
lịch sử.
2. Quá trình ra đi tìm đường cứu nước và đến với chủ nghĩa Mác - Lênin

này đánh dấu bước ngoặt quyết định trong cuộc đời hoạt động của Nguyễn Ái
Quốc.
Như vậy, sau khoảng 10 năm tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã bắt
gặp chủ nghĩa Mác – Lênin và xác định được con đường giải phóng dân tộc theo
khuynh hướng vô sản, mở đường giải quyết tình trạng khủng hoảng về đường lối
cứu nước đầu thế kỷ XX.
3. Quá trình chuẩn bị về tư tưởng chính trị và tổ chức cho việc thành lập
Đảng (1920 - 1930)
25


Trích đoạn Tổ chức cho HS trao đổi thảo luận đề giải quyết bài tập lịch sử. Tổ chức kiểm tra nhận thức của học sinh khi học Lịch sử Việt Nam từ 1919 –
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status