Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Báo cáo tổng quan về nguồn giống và phương pháp nhân giống cho các loài Keo phục vụ trồng rừng cung cấp gỗ xẻ ở Việt Nam " - Pdf 15

Báo cáo tổng quan về nguồn giống và phương pháp
nhân giống cho các loài Keo phục vụ trồng rừng
cung cấp gỗ xẻ ở Việt Nam

C.E. Harwood
1
Lê Đình Khả
2
, ,

Hà Huy Thịnh
2
and Phí Hồng Hải
2

1
Ensis Genetics, Private Bag 12, Hobart 7001 Australia
2
Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng, Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam, Đông
Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội, Việt Nam Tóm tắt

Các nghiên cứu về quá trình chế biến gỗ Keo tại các xưởng chế biến gỗ ở Việt Nam đã
cho thấy để cải thiện thu nhập cho người trồng rừng cần có các nghiên cứu nhằm nâng
cao các tính chất gỗ sau đây thông qua việc kết hợp giữa chọn lọc loài, cải thiện giống và
kỹ thuật lâm sinh.

Việt Nam do chất lượng gỗ kém, đồng thời các nhà trồng rừng ở khu vực này ưa chuộng
Keo lá tràm và Keo lai cho trồng rừng gỗ xẻ hơn.

Mặc dù sinh trưởng của Keo đen (A. mearnsii) và một số xuất xứ của Keo melanoxylon
tương đối có triển vọng trên các khảo nghiệm tại Đà Lạt, tuy nhiên còn quá sớm để khẳng
định các loài này sẽ thích hợp trồng rừng gỗ xẻ ở vùng cao Việt Nam. Các loài Keo chịu
hạn có thể thích ứng tốt với các điều kiện lập địa có lượng mưa dưới 1000mm tuy nhiên
không phù hợp cho mục tiêu gỗ xẻ do sinh trưởng chậm và hình dạng thân cây rất kém.

2
Các kết luận này chủ yếu dựa trên kết quả đánh giá về tỷ lệ sống và sinh trưởng của các
loài Keo trong các khảo nghiệm ở Việt nam. Các thông tin về chất lượng thân cây (đa
thân, độ thon, độ nhỏ cành và độ thẳng thân) của các loài này còn tương đối ít. Tuy
nhiên, kết quả đánh giá dạng thân trên một số khảo nghiệm dòng vô tính và khảo nghiệm
hậu thế của Keo lá tràm đã cho thấy các tính trạng này có hệ số di truyền từ trung bình
đến cao và có thể cải thiện được thông qua các biện pháp chọn giống, đặc biệt là thông
qua chọn lọc các dòng vô tính có dạng thân đẹp. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy việc
sử dụng hạt giống được cải thiện của các loài Keo lá tràm và Keo tai tượng cũng sẽ đem
lại tăng thu đáng kể về dạng thân.

Cho đến nay có rất ít các thông tin về tính chất gỗ xẻ của các loài Keo. Keo lá tràm có tỷ
trọng gỗ cao hơn Keo tai tượng và được ưa chuộng làm trong công nghiệp đồ mộc làm gỗ
trang trí như các loại đồ gỗ trang trí hoặc làm ván sàn. Một nghiên cứu chỉ ra rằng gỗ các
dòng Keo lai ở tuổi 5 có tỷ trọng cao hơn Keo lá tràm cùng tuổi. Các thông tin đầy đủ
hơn về tính chất gỗ của Keo lá tràm, Keo tai tượng và Keo lai hiện đang được Viện khoa
học lâm nghiệp Việt Nam nghiên cứu trên các khảo nghiệm hậu thế và khảo nghiệm dòng
vô tính. Hiện chưa có những nghiên cứu mang tính định lượng về khả năng chống chịu
các loại bệnh như rỗng ruột hay loét thân có khả năng ảnh hưởng đến tính chất gỗ.

Hiện tại việc so sánh các nguồn giống (bao gồm cả dòng vô tính và các nguồn hạt giống)

5.3 Phát triển các dòng vô tính Keo lai 24
5.4 Khảo nghiệm tăng thu di truyền các loài keo 27
6. Tóm tắt đề xuất về các loài keo và giống cho trồng rừng gỗ xẻ ở Việt Nam
28
7. Đề xuất biện pháp nhân giống 29
8. Tài liệu tham khảo 31

4
1. Mục đích của tổng quan gỗ xẻ Keo

Bản đánh giá tổng quan được thực hiện là hoạt động 1 của dự án CARD VIE 032/05
“Phát triển bền vững và hiệu quả kinh tế rừng trồng các loài Keo cung cấp gỗ xẻ ở Việt
Nam”. Nội dung này nhằm đánh giá kiểm tra các nguồn giống hiện đang có sẵn cho
trồng rừng gỗ xẻ ở Việt Nam. Các phương pháp nhân giống thích hợp cho các giống được
đề xuất cũng được đề cập trong bản đánh giá này. Rất nhiều thông tin được thu thập từ
các khảo nghiệm loài và xuất xứ, chương trình cải thiện giống, phương pháp nhân giống
và phát triển các dòng Keo lai cho trồng rừng dòng vô tính. Tổng quan này dựa trên các
các báo cáo đã được xuất bản trước đó, trong trường hợp các thông tin bị thiếu tổng quan
sẽ giới thiệu kinh nghiệm từ các nước khác.

Đề xuất cho chiến lược cải thiện giống trong tương lai sẽ được xây dựng theo hoạt động
4.5 của dự án, do vậy không đề cập trong bản báo cáo tổng quan này.

2. Các yêu cầu kỹ thuật của gỗ xẻ Keo

Các yêu cầu đối với gỗ Keo sử dụng cho gỗ xẻ sẽ được tìm hiểu tại Việt Nam. Việc sử
dụng gỗ Keo làm gỗ xẻ ở Việt Nam và các nước khác sẽ được đề cập trong phần này.

2.1 Kinh nghiệm trong công nghiệp chế biến gỗ Keo ở Việt
nam

nhỏ, khoảng 1000 x 100 x 25 mm. Trước khi đưa và xưởng cưa, cây gỗ thường được cắt
thành đoạn có chiều dài 2 m hoặc ngắn hơn.

Trong trường hợp không có gỗ đường kính lớn, một số xưởng cưa có thể xẻ các cây gỗ
nhỏ có đường kính đầu nhỏ khoảng 10 cm sử dụng các loại cưa lưỡi thẳng, tuy nhiên điều
này cũng dẫn đến giảm tỷ lệ thành khí và tăng chi phí cưa xẻ. Gỗ có kích thước nhỏ (dẫn
đến chi phí cưa xẻ cao và tỷ lệ thành khí giảm), mấu mắt, đặc biệt là các loại mắt chết tạo
ra các khuyết tật gỗ cho ván xẻ là những vấn đề lớn nhất trong sử dụng gỗ Keo làm gỗ xẻ
trong điều kiện hiện nay. Các xưởng xẻ thường tránh mua phải các khúc gỗ có tỷ lệ
khuyết tật như rỗng ruột, xốp ruột, mắt chết cao.

Ảnh 1. Gỗ Keo được đưa vào xẻ tại xưởng Hương Giang, Huế 6
Ảnh 2. Xẻ gỗ Keo sử dụng cưa lưỡi thẳng ở xưởng Hương Giang, Huế
Ảnh 3. Xẻ gỗ Keo lai tại xưởng xẻ Nguyễn Sĩ, tại Đông Hà sử dụng hệ thống cưa
vòng

chế biến gỗ lớn ở TP Hồ Chí Minh nhập gỗ Keo tai tượng từ Malaysia để chế biến. các
yêu cầu chất lượng đối với gỗ nhập khẩu hiện chưa được điều tra, trong quá trình điều tra
năm 2006 không xác định được các xưởng chế biến gỗ nhập khẩu gỗ Keo tai tượng.

2.2 Kinh nghiệm trong trồng rừng và sử dụng gỗ các loài Keo
nhiệt đới ở nước ngoài

Trồng rừng các loài keo vùng thấp để cung cấp gỗ xẻ hiện đang được phát triển rất mạnh
ở một số nước Đông Nam Á, điển hình là Indonesia và Malaysia (Midgley and Beadle
2006, S.J. Midgley pers. comm. 2006). Keo tai tượng là loài cây quan trọng nhất ở hai
nước này. Cho đến nay các biện pháp kỹ thuật lâm sinh được áp dụng trong trồng và
chăm sóc rừng nhưng các biện pháp như tỉa cành và tỉa thưa rất ít được áp dụng, cho dù
hiệu quả của các biện pháp này đã được thừa nhận (Srivastava 1993). Việc tỉa cành và tạo
thân bằng cách loại bỏ các cành to và các cành cạnh tranh với ngọn chính đã cải thiện
đáng kể hình dạng thân cây (Beadle 2006). Với mật độ trồng rừng ban đầu là 1000
cây/ha, cần có các biện pháp tỉa thưa để sản xuất gỗ có đường kính lớn (hình 4). Ở
Indonesia, mật độ cuối cùng để lại dao động khoảng 300 cây/ha và tiến hành khai thác

8
khi đường kính trung bình đạt đến 30 cm. Hiện tượng rỗng ruột là một vấn đề khá phổ
biến với Keo tai tượng ở Indonesia. (Potter et al. 2006)
Hình 4. Rwungf trồng Keo tai tượng đã tỉa thưa ở Merbau, South Sumatra, đường
kính trung bình của lâm phần là 36,6 cm, chiều cao 26 m và tổng trữ lượng lâm
phần đạt 228.7 m /ha (Hardyanto 2006)
3

Malaysia là nước có lịch sử lâu dài về trồng rừng Keo tai tượng (Pinyopusarerk 1993)

Như vậy để phục vụ trồng rừng gỗ xẻ Keo, các yêu cầu căn bản nhất của gỗ xẻ Keo cần
được cải thiện thông qua các biện pháp chọn giống và lâm sinh:

Tỷ lệ sống - tỷ lệ sống cao góp phần đồng nhất hóa lâm phần và tăng năng suất gỗ
Sinh trưởng nhanh - nhằm sản xuất gỗ xẻ trong một chu kỳ kinh doanh rừng ngắn nhất
Hình dạng thân đẹp – cây tương đối thẳng, không bị hai thân, cành nhỏ sẽ tăng tối đa tỷ
lệ gỗ có thể sử dụng cho mục tiêu gỗ xẻ
Gỗ không bị khuyết tật - các khúc gỗ phải không bị rỗng ruột, mắt chết và những
khuyết tật khác có thể quan sát thấy trên bề mặt ván xẻ.

3. Nguồn tài nguyên di truyền của Keo và sự thích ứng
với các lập địa của các loài

Các loài Keo Acacia trở nên quan trọng trong trồng rừng ở Việt nam trong khoảng hai
thập kỷ gần đây. Đây là những loài cây có sinh trưởng nhanh, thích ứng tốt trên các lập
địa thoái hóa, đồng thời là loài cây cố định đạm nên có thể giảm được nhu cầu phân bón.
Gỗ Keo có thể sử dụng làm giấy và đóng đồ mộc. Các loài Keo được trồng ở Việt nam
hiện nay có nguồn gốc từ Australia và một số khu vực lân cận như Papua New Guinea
(PNG), West Papua, Indonesia (Nguyen Hoang Nghia and Lê Đình Khả, 1998). Việc xác
định các loài cay phù hợp, thu thập các nguồn gen và nhập nội trồng tại Việt nam đã được
tiến hành là một phần của các chương trình khảo nghiệm loài và xuất xứ quốc tế được
chính phủ Australia, FAO và CSIRO thực hiện từ những năm 1970 (Turnbull et al. 1998).

Ở Việt Nam, điều kiện khí hậu có sự biến động rất lớn giữa các vùng, chủ yếu về các yếu
tố nhiệt độ và lượng mưa. Do vậy, có thể chia các loài Keo trồng tại Việt Nam làm 3
nhóm:

Nhóm các loài Keo vùng thấp, có lượng mưa từ trung bình đến cao
Các loài có triển vọng bao gồm Keo lá tràm, Keo lá liềm và Keo tai tượng gồm các xuất
xứ từ miền bắc bang Queensland, PNG và Indonesia. Keo lá tràm, Keo tai tượng và các

Các yêu cầu về khí hậu cho các loài Keo quan trọng cho sản xuất gỗ xẻ đã được tổng hợp
ở bảng 1. Một chương trình xác định các vùng khí hậu phù hợp cho các loài cây đã được
xây dựng cho Việt Nam do TS T.H. Booth thuộc khoa lâm nghiệp và sản phẩm rừng xây
dựng. Chương trình này đã được Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam ứng dụng để xác
định các vùng khí hậu phù hợp cho các loài Keo lá tràm và Keo tai tượng. 11
Bảng 1. yêu cầu về khí hậu cho một số loài Keo quan trọng ở Việt Nam

Các loài keo vùng thấp Keo vùng cao
Yếu tố khí hậu auriculiformis
1
crassicarpa
2
mangium
1
mearnsii
3
melanoxylon
4
Nhiệt độ trung bình
năm (
o
C)

22-30 22-28 22-28 10-20 Not available
Nhiệt độ cao nhất trung
bình của tháng nóng
nhất (

Jovanovic and Booth (2002)
4
Keo melanoxylon có phân bố khá rộng ở Úc, do vậy yêu cầu khí hậu của từng xuất xứ cụ
thể sẽ rất khác nhau

4. Khảo nghiệm loài và xuất xứ của các loài Keo cho
mục tiêu gỗ xẻ
4.1 Khảo nghiệm loài

Keo lá tràm được nhập vào Việt nam từ những năm 1960, từ nhũng năm 1980 các khảo
nghiệm hệ thống cho loài và xuất xứ mới được tiến hành do Viện khoa học lâm nghiệp
Việt nam thực hiện phối hợp với CSIRO Úc. Các khảo nghiệm loài và xuất xứ đã được
xây dựng trên nhiều lập địa ở Việt Nam. Chi tiết về các khảo nghiệm được cho ở bảng 2.
Các kết quả đánh giá đến năm 2003 đã được Lê Đình Khả tổng hợp. 12
Bảng 2. Các địa điểm khảo nghiệm loài và xuất xứ Keo ở Việt Nam

Địa điểm Tỉnh Vĩ độ (N) Kinh độ
(S)
Độ cao
(m)
Lượng mưa
(mm)
Đất đai
Da Chong Hà Tây 21
o
07 105
o

o
06 50 1640 Đất đỏ vàng phát triển
trên phù sa cổ
Bầu Bàng Bình
Dương
11
o
32 105
o
56 50 Đất đỏ vàng phát triển
trên phù sa cổ
Đà Lạt Lam Dong 11
o
57 108
o
26 1600 1730 Đất ferralitic phát triển
trên đá magma pH 4.5-5.0

4.2 Khảo nghiệm loài và xuất xứ các loài keo vùng thấp

Khảo nghiệm loài - xuất xứ

Vào những năm 1980, các loài Keo lá tràm, Keo tai tượng, keo lá liềm và Keo
aulacocarpa đã được đưa vào trồng thử tại Ba Vì (Hà Tây), Hóa Thượng (Thái nguyên)
và Trảng Bom (Đồng Nai). Kết quả đánh giá năm 1991 cho thấy các loài có triển vọng
nhất là Keo lá tràm, Keo tai tượng và Keo lá liềm (Lê Đình Khả and Nguyen Hoang
Nghia, 1991).

Từ năm 1990 - 1991, trong khuôn khổ một dự án do UNDP tài trợ đã xây dựng khảo
nghiệm của 39 xuất xứ thuộc 5 loài Keo vùng thấp tại Đá Chông (Hà Tây), Đông Hà


Tóm lại, trong các loài Keo vùng thấp được khảo nghiệm, thì các loài keo lá liềm, keo tai
tượng, keo lá tràm có sinh trưởng tốt nhất, keo A. aulacocarpa và A. cincinnata có sinh
trưởng chậm hơn và ít có triển vọng cho trồng rừng (Lê Đình Khả 2003).

Kết quả đánh giá khảo nghiệm loài và xuất xứ các loài Keo tại Ba Vì, Đông Hà và Đại
Lải cho thấy sau 9-12 năm, các xuất xứ có triển vọng nhất ở miền bác và miền trung Việt
Nam là:

Keo lá tràm: Mibini (PNG), Coen River and Kings Plains (Qld) và Manton River (NT)
Keo tai tượng: Pongaki (PNG), Iron Range (Qld), Ingham (Qld) và Mossman (Qld).
Keo lá liềm: Mata (PNG), Gubam (PNG), Dimisisi (PNG) và Deri-Deri (PNG). 14
Khảo nghiệm xuất xứ Keo lá tràm

Năm 1990, một khảo nghiệm xuất xứ của Keo lá tràm được xây dựng tại Đại Lải. Kết
quả sinh trưởng sau 9 năm cho thấy xuất xứ Coen River (Qld) có sinh trưởng tốt nhất. Số
liệu thu thập tại Ba Vì và Đại Lải sau 12 năm (Bảng 3) cho thấy các xuất xứ Mibini
(PNG), Coen River (Qld) and Kings Plains (Qld) có triển vọng nhất trên cả hai lập địa.

Một hệ thống khảo nghiệm xuất xứ của Keo lá tràm được xây dựng tại Cẩm Quỳ (Hà
Tây), Đông Hà (Quảng Trị) và Sông Mây (Đồng Nai) trong khuôn khổ dự án ACIAR
9310. Một lô hạt nòi địa phương Đồng Nai được sử dụng làm đối chứng. Tại Sông Mây
kết quả sau 5 năm cho thấy các xuất xứ tốt nhất là Wenlock R. (Qld), Halroyed (Qld) và
Morehead (PNG), trong khi tại Cẩm Quỳ các xuất xứ Halroyed (Qld) và Rifle Creek
(Qld) có sinh trưởng tốt nhất.

Tại Sông Mây thể tích trung bình của 16 xuất xứ sau 5 năm tuổi là 90.0 dm

16163 Elizabeth R. NT 17.3 19.6 10.5 12.6
16152 Alligator R. NT 16.1 19.4 13.2 14.8
16684 Bensbach PNG 17.4 19.4 12.7 12.5
16158 Gerowie Ck. NT 14.8 18.0 10.4 10.4
16484 Morehead Qld 15.9 18.0 13.3 14.5
16683 Morehead PNG 15.5 17.6 * *
16107 Old Tonda PNG 15.6 17.3 10.9 10.8
16154 Goomadeer NT 15.9 16.2 13.2 14.3
16151 Mary River NT 13.4 13.9 12.4 13.6 Khảo nghiệm xuất xứ Keo tai tượng

Trong giai đoạn 1989 - 1990, Trung tâm KHSX lâm nghiệp Đông nam Bộ xây dựng các
khảo nghiệm xuất xứ Keo tai tượng tại Bầu Bàng and Sông Mây. Kết quả đánh giá sau
8,5 năm tuổi cho thấy có sụ sai khác về sinh trưởng giữa hai lập địa (Bảng 4). Điều kiện
đất bị ngập nước tại Bầu Bàng có thể là nguyên nhân chính dẫn đến sinh truwognr chậm
của Keo tai tượng ở đây.

15
Trong các khảo nghiệm này, chỉ có một xuất xứ duy nhất là Deri-Deri của PNG tham gia
cho thấy có sinh trưởng tốt nhất, xuất xứ Olive River và Pascoe River ở vùng bắc
Queensland cũng có sinh trưởng tốt tại Sông Mây. Kết quả này cũng tương đồng với các
kết quả từ các nước khác (Harwood và Williams 1992). Các khảo nghiệm xuất xứ được
xây dựng trong giai đoạn đầu ở Việt nam các xuất xứ của PNG không tham gia trong
khảo nghiệm do đó khó có thể đưa ra những kết luận chính xác. Bảng 4. Sinh trưởng của các xuất xứ Keo tai tượng tại Bầu Bàng và Sông Mây


Khảo nghiệm xuất xứ Keo lá liềm
Tháng 9/1991, một khảo nghiệm xuất xứ Keo lá liềm dduwwocj xây dựng tại Bầu Bàng,
kết quả đánh gái sau 8,5 năm cho thấy các xuất xứ Dimisisi, Deri -Deri, Morehead và
Bensbach từ PNG có sinh trưởng tốt nhất (Bảng 5). Các xuất xứ có sinh trưởng chậm
nhất là từ Indonesia và Queensland. 16
Bảng 5. Sinh trưởng của các xuât xứ Keo lá liềm tại Bầu Bàng (1991-1999)

Lô hạt Xuất xứ Nước Ht (m) Dbh (cm)
16602 Dimisisi PNG 19.7 21.4
16993 Deri-Deri PNG 19.6 21.4
17869 Morehead PNG 19.7 21.0
17552 Bensbach PNG 19.3 20.8
13682 Oriomo PNG 18.9 19.6
13680 Wemenever PNG 18.7 19.0
17561 Limal PNG 17.2 19.3
16598 Bimadebum PNG 17.6 19.2
17944 Claudie R. Qld 15.0 18.6
17849 Samlenberr Indo 18.0 17.6
16128 Jardine R. Qld 12.4 16.6
Keo lá tràm
Đồng Nai
Vietnam 8.7 8.4

Keo lá liềm có sinh trưởng tốt hơn các loài Keo khác ở vùng cát nội đồng ven biển miền
trung Việt Nam, đây là những vùng có điều kiện đất đai nghèo dinh dưỡng, bị ngập nước
theo mùa. Đã có hàng ngàn hectare Keo lá liềm được trồng tại vùng này, và diện tích sẽ
tăng nhiều trong tương lai. Tuy nhiên, trong điều kiện đất đai nghèo dinh dưỡng sẽ rất

Kết quả đánh giá bước đầu cho thấy tỷ lệ sống và sinh trưởng ở khảo nghiệm tại Đà Lạt
là tốt nhất (Ha Huy Thinh et al., 1998), do đó việc đánh giá sinh trưởng của các loài và
xuất xứ chủ yếu tiến ành tại Đà Lạt (Bảng 6).

Tại Đà Lạt có nhiệt độ trung bình là 18.3
o
C, nhiệt độ trung bình nóng nhất của tháng
nóng nhất đạt 23.3
o
C, nhiệt đo trung bình lạnh nhất của tháng lạnh nhất là 14.3
o
C. Lượng
mưa trung bình năm là 1700 mm, tập trung chủ yếu và mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10,
chủ yếu trong tháng 9 và 10 (Nguyen Trong Hieu, 1990).

Bảng 6. Tỷ lệ sống và sinh trưởng của các loài Keo vùng cao ở giai đoạn 4 năm tuổi
tại Đà Lạt

Loài Xuất xứ Tỷ lệ
sống (%)
Ht
(m)
Dbh
(cm)
A. mearnsii

6 67.9 10.0 8.6
A. mearnsii nòi Đà Lạt 1 47.5 7.0 7.1
A. binervata 1 68.7 7.9 7.7
A. chrysotricha 1 21.3 6.6 5.2

(Queensland) có sinh trưởng tốt hơn rõ rệt so với các xuất xứ đến từ New South Wales và
Tasmania (Bảng 7).

Bảng 7. Sinh trưởng của các xuất xứ keo A. mearnsii và A. melanoxylon 7 năm tuổi
tại Đà Lạt

Lô hạt Loài/
xuất xứ
Ht (m)

Dbh
(cm
A. mearnsii
16246 Nowra NSW 13.5 12.2
16621 Bodalla NSW 13.6 12.1
16380 Nowa Nowa VIC 12.3 11.3
18607 Berrima NSW 12.6 10.5
18979 Blackhill VIC 12.5 11.0
18975 Bungendore NSW 11.7 10.6
Đà Lạt VN 10.4 10.8

A. melanoxylon
17263 Mt. Mee Qld 10.7 11.2
15821 Raveshoe Qld 9.6 8.7
19001 Mt. Linsay NSW 8.5 7.3
19494 Kannunah Tas 8.4 7.0

Năm 2000, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đã có quyết định số 4260/KHCN-
NNTT công nhận các xuất xứ Bodalla và Nowa Nowa của Keo A. mearnsii và Mount
Mee của A. melanoxylon là giống tiến bộ kỹ thuật cho trồng rừng thí điểm ở các vùng núi

chọn lọc sử dụng chỉ số chọn lọc kết hợp giữa sinh trưởng và hình dạng thân cây, trên
mỗi ô để lại 1 cây tốt nhất. Khảo nghiệm hậu thế sau khi tỉa thưa có thể cung cấp hạt
giống được cải thiện cho trồng rừng cũng như cho quần thể chọn giống thế hệ mới. 20
Bng 8. Danh sỏch cỏc rng ging v vn ging Keo lỏ trm, Keo lỏ lim v Keo tai
tng do Vin KHLN Vit nam xõy dng trong giai on 1993 n 2002

Loi cõy, rng
ging (SPA)
hoc vn ging
(SSO)
a im

Tnh Nm
trng
S lng gia
ỡnh SPA or
SSO
Din
tớch
(ha)
Tỡnh
trng
n nm
2006
1
Keo lỏ trm
SPA Cm Qu H Tõy 1993 Coen R prov. 3 +

thiết. Đánh giá chất lợng cây (bảng 3.5) cho thấy các dòng ny vẫn l những dòng có
chất lợng cao, đặc biệt l các dòng 83, 84 (chỉ số chất lợng cây 41,4-51,8 điểm), sau đó
l các dòng 28, 25 v 85 (chất lợng cây 28,0-34,1 điểm) v đây cũng l những dòng cha
bị sâu bệnh hại. Mặc dầu chỉ tiêu sức khoẻ của dòng 83 có phần thấp hơn các dòng khác
(do lá có mầu xanh không thẫm). Mặt khác, tuy các dòng còn lại nh 30, 50, 82, 35, 81 có
chỉ số chất lợng cây (24,8-26,5) thấp hơn các dòng nói trên, song vẫn có sự khác biệt rõ
rệt so với giống đối chứng l xuất xứ Coen River v giống sản xuất do Công ty Giống lâm
nghiệp trung ơng cung cấp (có chỉ số chất lợng cây 13,8 v 5,1 điểm).
3
3
3
321

Bng 9. Sinh trng ca cỏc dũng vụ tớnh Keo lỏ trm ti ụng H (1/2001-10/2004)

Dũng/
Lụ ht
Ht
(m)
Dbh
cm)
Th tớch
(dm
3
/tree)
MAI
(m

0.9
1.0 11.5

Trong các dòng Keo lá trm đợc chọn từ xuất xứ Coen River tại Ba Vì thì các dòng 25, 28,
83, 84 v 85. Những dòng ny có thể có ký hiệu l BVlt25, BVlt28, BVlt83, BVlt84 v
BVlt85 l những dòng có sinh trởng nhanh trong khảo nghiệm dòng vô tính đời thứ hai tại
Đông H v Ba Vì v đã đợc Hội đồng khoa học chuyên ngnh của Bộ NN&PTNT xét
năm 2005 v đề nghị công nhận l giống tiến bộ kỹ thuật

Nm 1999, do yờu cu ly t lm khu cụng nghip cỏc kho nghim hu th Keo lỏ trm
v Keo tai tng Bỡnh Dng b yờu cu phi cht b. Nhm mc tiờu gi li nhng
ngun gen tt, trung tõm nghiờn cu ging cõy rng phi hp vi Trung tõm KHSX lõm
nghip ụng nam b v s h tr kinh phớ ca d ỏn ACIAR v thun húa cỏc loi cay
ca c ó tin hnh chn lc 150 cõy tri tt nht trong vn ging ca tng loi (50 gia
ỡnh, 3 cõy tt nht/gia ỡnh). Cỏc cõy tri sau ú c dn dũng bng phuwong phỏp
giõm hom, v tin hnh xõy dng kho nghim dũng vụ tớnh ti 3 a im i din cho 3
min bc, trung v nam (bng 10).

Cỏc kho nghim dũng vụ tớnh c xõy dng nhm xỏc nh cỏc dũng vụ tớnh cú trin
vng phc v cho trng rng, ng thi cú th chuyn húa thnh vn ging vụ tớnh bng
cỏch ta b cỏc gia ỡnh kộm v li 20 - 30 dũng vụ tớnh.
22
Bảng 10. Details of clonal tests of Keo lá tràm and Keo tai tượng

Địa điểm

Ba Vì Đồng Hới Bầu Bàng

0.2 kg NPK
Thiết kế
• Lặp 5 5 8
• Cây/ô 2 2 2
• Mật độ 3 m x 3m 3 m x 3m 4 m x 2m
Số dòng
• Keo lá tràm 102 114 120
• Keo tai tượng 100 100 23Hình 5. Khảo nghiệm dòng vô tính Keo lá tràm tại Bầu Bàng, 4.5 tuổi

5.3 Phát triển các dòng vô tính Keo lai

Quá trình phát triển các dòng keo lai giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm có năng suất cao
đã đóng góp rất lớn cho quá trình phát triển rừng trồng ở Việt nam. Quá trình nghiên cứu
và bộ giống keo lai đầu tiên đã được Lê Đình Khả (2001) công bố. Cho đến năm 2004 đã
có hơn 130000 ha keo lai được trồng tại Việt Nam (van Bueren 2005).

Một số thành tựu và ghi nhận trong quá trình phát triển keo lai ở Việt nam:

• Không phải tất cả các cây lai đều có thể phù hợp cho trồng rừng, do đó một chương
trình khảo nghiệm quy mô đã được tiến hành nhằm xác định các dòng dễ nhân
giống bằng hom, sinh trưởng tốt, có hình dạng thân đẹp, có khả năng chống chịu
sâu bệnh hại. Chỉ có những dòng đã qua khảo nghiệm mới được đưa vào trồng rừng
sản xuất.


• Các dòng vô tính có thể được lưu trữ bằng nuôi cấy mô để giữ được khả năng nhân
giống và chất lượng cây giống, các vườn vật liệu phải sử dụng cây mô. Hầu hết cây
giống cho trồng rừng được nhân giống bằng phương pháp giâm hom, sử dụng thuôc
kích thích ra rễ do Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng sản xuất có thể đạt tỷ lệ ra
rễ đến 80%.

• Tại nhiều tỉnh công nghệ giâm hom đã được ứng dụng rộng rãi để nhân giống keo
lai cho sản xuất có gía thành thấp và công nghệ nhân giống đơn giản, một số vườn
ươm ở tỉnh Quảng Bình có thể sản xuất hàng triệu cây hom một năm, với giá thành
khoảng US$0.03/cây.

• Bên cạnh các dòng keo lai đã được công nhận, một số cơ sở nghiên cứu đang tiếp
tục tiến hành nghiên cứu tạo thêm các giống keo lai mới cho sản xuất, bên cạnh đó
nghiên cứu lai tạo giống keo lai mới cũng đang được tiến hành, qua đó sẽ làm đa
dạng háo nguồn giống keo lai cho sản xuất, nâng cao tính bền vững cho rừng trồng.

25


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status