LỰA CHỌN vấn đề dạy và PHƯƠNG PHÁP ôn tập CHO học SINH GIỎI QUỐC GIA KHI GIẢNG dạy PHẦN LỊCH sử VIỆT NAM GIAI đoạn 1919 – 1930 (2) - Pdf 31

Phần thứ nhất
ĐẶT VẤN ĐỀ
Môn lịch sử ở trường phổ thông là môn học được sự quan tâm của toàn
xã hội, vì nhân dân Việt Nam làm ra lịch sử bằng xương máu của mình, nên
vô cùng yêu quý lịch sử dân tộc. Mỗi con người Việt Nam chỉ có thể phát triển
mọi năng lực sẵn có trên nền tảng những tri thức về lịch sử và văn hoá dân
tộc. Giáo dục lịch sử là quy luật của giáo dục và đào tạo con người ở Việt
Nam, cũng như ở mọi quốc gia trên thế giới.
Môn lịch sử là môn học có nhiều cơ hội nhất và khả năng lớn nhất trong
nhiệm vụ “giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc”, giáo dục và rèn luyện
đạo đức con người Việt Nam. Do đó, vấn đề bồi dưỡng kiến thức môn lịch sử
là nhiệm vụ quan trọng của các trường Trung học phổ thông chuyên hiện nay
nhằm giúp học sinh củng cố kiến thức thi đại học, cao đẳng và các kì thi chọn
học sinh giỏi.
Cũng như các môn học khác, mục tiêu bồi dưỡng học sinh giỏi là mục
tiêu kép, tức là vừa phải thực hiện nhiệm vụ giáo dục toàn diện của học sinh
trung học phổ thông, vừa phải phát triển năng khiếu về một môn học để sau
khi vào đại học, các em sẽ trở thành những tài năng thực sự trong lĩnh vực
khoa học lịch sử.
Đặc điểm của học sinh chuyên là những học sinh xuất sắc ở các trường
trung học cơ sở của địa phương, nhiều em đã dự thi và đạt giải cao trong các
kì thi học sinh giỏi các cấp và trúng tuyển theo quy chế tuyển sinh vào các
trường Trung học phổ thông chuyên. Do đó, phương pháp dạy, phương pháp
học ở trường Trung học phổ thông chuyên phải tiên tiến nhất, phù hợp với đối
tượng học sinh của trường.
Dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng là quá trình truyền thụ
của giáo viên và tiếp thu kiến thức của học sinh. Cho nên, vai trò của người
giáo viên lịch sử ở trường chuyên là phải yêu cầu, hướng dẫn và tổ chức điều
1



thức của học sinh đi từ tri giác tài liệu đến tạo biểu tượng rồi phân tích, so
sánh đối chiếu …để tìm ra dấu hiệu bản chất, tức là hình thành khái niệm, rút
ra quy luật, bài học. Như vậy trong hoạt động nhận thức của học sinh, tư duy
có vai trò quan trọng, nếu không có tư duy thì học sinh không nhận thức được
bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử. Khi nói tới bản chất của hoạt động
độc lập, các nhà giáo dục và giáo dục lịch sử đều thống nhất là nó đặt ra sự
tìm kiếm, sáng tạo một điều mới, quan trọng và cần thiết đối với việc hình
thành kiến thức, nhân cách và phát triển tư duy của hoc sinh. Các dạng câu
hỏi và bài tập lịch sử mà giáo viên hướng dẫn cho học sinh giải trong quá
trình dạy học là một trong những hình thức kích thích hoạt động nhận thức,
phát huy trí sáng tạo của các em trong quá trình học tập.
Những thành tựu của lý luận dạy học hiện đại khẳng định rằng: Học sinh
dù ở bậc học nào cũng đóng vai trò chủ thể trong hoạt động dạy học, bằng
nhiều con đường khác nhau, phải tự mình chiếm lĩnh tri thức, hình thành và
phát triển năng lực tư duy, năng lực hành động qua những hoạt động tích cực,
tự giáo dục của bản thân. Cách học đó phù hợp với mục đích giáo dục - đào
tạo con người trong xã hội hiện nay đó là những con người có "bốn trụ cột
của nền giáo dục" mà UNESCO nêu ra "Học để biết, học để làm, học để
chung sống và học để khẳng định mình"
Đó là những cơ sở để xây dựng những nguyên tắc dạy học lịch sử nói
chung và thực hiện biên soạn hệ thống câu hỏi, bài tập cho việc luyện thi học
sinh giỏi các cấp môn lịch sử nói riêng.
3


1.2.2. Xuất phát từ đặc trưng của việc dạy học lịch sử
Dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng ở trường THPT là một quá
trình. Đó là một quá trình nhận thức đặc thù trong đó giáo viên tổ chức, dẫn
dắt học sinh có mục đích, có kế hoạch sư phạm để học sinh nắm vững những
tri thức cơ sở về lịch sử quân sự, kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật

tập lịch sử ở trường THPT chuyên
Mục tiêu đào tạo của trường chuyên là mục tiêu kép, nhiệm vụ trường
chuyên vừa phải thực hiện nhiệm vụ giáo dục toàn diện để hoàn thiện cho học
sinh nền học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và
hướng nghiệp vừa phải thực hiện sự tác động đúng hướng để phát triển năng
khiếu của các em về một môn học.
Riêng về năng khiếu một môn học, khi mới tuyển vào học trường
chuyên thì học sinh mới chỉ là những em có kết quả học tập xuất sắc ở THCS,
có khả năng tiềm ẩn một năng khiếu (chứ chưa chắc đã có năng khiếu) Trong
quá trình học ở trường chuyên, nhà trường phải tiếp tục phát triển để đi tới
khẳng định năng khiếu. Trên cơ sở đó mà phát triển năng khiếu của các em,
giúp các em khi tốt nghiệp trường chuyên phải là những học sinh có năng
khiếu phát triển. Mục tiêu lâu dài sau của trường chuyên là các em phải tự đào
tạo thành những tài năng ở bậc đại học và sau đại học.
Học tập nói chung và học tập lịch sử nói riêng là sự tiếp thu tri thức. Tri
thức lại hết sức phong phú và đang tăng lên với tốc độ vô cùng nhanh chóng
mà trường chuyên cũng không sao truyền thụ hết được.Trong khi đó khả năng
hiểu biết và sự mong muốn của con người trong cả cuộc đời là vô cùng. Cho
nên, dạy học ở trường chuyên phải phù hợp với đặc điểm tâm lí và khả năng
nhận thức của học sinh năng khiếu, cần thiết phải làm cho quá trình học tập
của học sinh trở thành quá trình tự chủ động học tập, tiến dần lên quá trình tự
nghiên cứu độc lập. Muốn đạt được điều này, vai trò của người thầy là rất lớn,
5


phải yêu cầu, hướng dẫn và tổ chức điều khiển học sinh phát triển tư duy lịch
sử nhất là tư duy độc lập, sáng tạo.
Nhiệm vụ tư duy đặt ra cho học sinh chuyên phần lớn là những đề tài
tổng hợp, sâu rộng. Nếu không có vốn tri thức phong phú, không có một khối
lượng lớn những tri thức đã được thông hiểu và nắm vững, không có lòng ham

dục quốc tế. Cụ thể của xu hướng giáo dục định hướng năng lực là:
Thứ nhất, đối với giáo viên: Được thể hiện qua 4 nhóm năng lực bao
gồm: Năng lực dạy học, năng lực giáo dục, năng lực chẩn đoán và tư vấn,
năng lực phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học.
Thứ hai, đối với học sinh giáo dục định hướng năng lực nhằm mục tiêu
phát triển năng lực người học. Các thành phần năng lực năng lực của học sinh
phù hợp với bốn trụ cốt giáo dục theo UNESCO. Ta có thể hiểu theo mô hình
như sau:
Các thành phần năng lực

Các trụ cột giáo dục của UNESO

Năng lực chuyên môn

Học để biết

Năng lực phương pháp

Học để làm

Năng lực xã hội

Học để cùng chung sống

Năng lực cá thể

Học để tự khẳng định

Về năng lực chuyên môn (Professional competency): Là năng lực học tập
của học sinh. Thể hiện nắm vững các khái niệm, phạm trù, quy luật, mối quan

1()

Phương pháp dạy học lịch sử, tập II, Phan Ngọc Liên (chủ biên), NXBSP, tr 230
8


LỊCH SỬ VIỆT NAM 1919 – 1930
2.1. Mục tiêu
- Trình bày được những nét chính của tình hình thế giới sau chiến tranh
thế giới thứ nhất có ảnh hưởng tới Việt Nam (các nước tư bản thắng trận họp
tại Véc-xai phân chia lại thế giới; bước phát triển mới của phong trào cộng sản
và công nhân quốc tế).
- Trình bày được Nội dung Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai
của thực dân Pháp ở Đông Dương, cùng với các chính sách về chính trị, văn
hóa và giáo dục.
- Tóm tắt được sự biến đổi về mặt kinh tế và xã hội Việt Nam; phân tích
được địa vị kinh tế, thái độ chính trị và khả năng cách mạng của mỗi giai cấp,
tầng lớp trong xã hội Việt Nam thời thuộc địa; rút ra được mâu thuẫn chủ yếu
trong xã hội Việt Nam lúc đó.
- Trình bày được điều kiện lịch sử và các hoạt động tiêu biểu của phong
trào yêu nước: Hoạt động của người Việt Nam yêu nước ở nước ngoài (Trung
Quốc và Pháp), những hoạt động của tư sản và tiểu tư sản, phong trào đấu
tranh của công nhân.
- Nêu được những hoạt động và phân tích vai trò của Nguyễn Ái Quốc
đối với cách mạng Việt Nam.
- Trình bày được sự ra đời, hoạt động và vai trò của các tổ chức cách
mạng: Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Tân Việt Cách mạng đảng, Việt
Nam Quốc dân đảng.
- Phân tích được nguyên nhân thất bại và ý nghĩa lịch sử của khởi nghĩa
Yên Bái.



Nam, ảnh hưởng to lớn đối với phong trào cách mạng Việt Nam sau Chiến
tranh thế giới thứ nhất.
- Việc Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, truyền bá chủ
nghĩa Mác – Lê-nin, truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin, hoạt động trong
phong trào cách mạng thế giới là sự chuẩn bị toàn diện về tư tưởng, chính trị
và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930.
2- Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ năm 1919 đến năm
1925
- Phong trào yêu nước 1919 – 1925 của tư sản, tiểu tư sản: Dưới ảnh
hưởng của hoàn cảnh lịch sử mới, phong trào dân tộc dân chủ có bước phát
triển mới với sự tham gia của giai cấp tư sản và tiểu tư sản với hình thức đấu
tranh phong phú, sôi nổi, nhất là ở thành thị.
- Phong trào công nhân từ 1919 – 1925: Sau Chiến tranh phong trào công
nhân còn nổ ra lẻ tẻ, tự phát. Từ năm 1920, phong trào công nhân từng bước
có chuyển biến, nhất là cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son (8/1925), đánh
dấu bước tiến mới của phong trào công nhân Việt Nam, mở đấu thời kì đi vào
đấu tranh tự giác.
3- Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ năm 1925 đến năm
1930
- Các tổ chức cách mạng Việt Nam ra đời và hoạt động: Hội Việt Nam
Cách mạng Thanh niên (1925 – 1929); Tân Việt Cách mạng Đảng (1925 –
1929); Việt Nam quốc dân Đảng (1927 – 2/1930).
- Phong trào dân tộc dân chủ 1925 – 1930: được đánh dấu bằng sự phát
triển của Phong trào công nhân. Dưới tác động của Hội Việt Nam Cách mạng
Thanh niên, từ năm 1925 – 1929 phong trào này chuyển dần sang tự giác, đến
năm 1930 thì hoàn toàn tự giác. Đầu năm 1930, Việt Nam quốc dân Đảng
quyết định khởi nghĩa Yên Bái.
11



- Đầu thế kỉ XX, phong trào yêu nước có khuynh hướng tư sản phát
triển mạnh mẽ, bị thực dân và phong kiến đàn áp rồi đi đến thất bại, đến
những năm Chiến tranh thế giới thứ nhất, những cuộc đấu tranh yêu nước của
nhân dân ta phát triển mạnh mẽ, nổi bật nhất là vụ bạo động do Việt Nam
Quang phục hội tổ chức, nhưng cuối cùng bị dập tắt. Cách mạng Việt Nam rơi
vào bế tắt “như trong đêm tối không có đường ra”.
- Đúng vào thời điểm đó, nhiều sự kiện của lịch sử thế giới và những
chuyển biến về kinh tế, xã hội trong nước đã tác động đến phong trào dân tộc
dân chủ Việt Nam.
2 – Diễn biến, đặc điểm của phong trào dân tộc dân chủ Việt Nam
1919 – 1930
- Phong trào diễn ra liên tục, sôi nổi, hình thức phong phú, đa dạng với
sự tham gia của đông đảo các giai cấp, các tầng lớp nhân dân.
- Phong trào dân tộc dân chủ 1919 – 1925, tạo ra những tiền đề cần thiết
cho việc tiếp thu tư tưởng cách mạng mới, thúc đẩy quá trình nhen nhóm
thành lập những tổ chức cách mạng sơ khai, làm xuất hiện những phần tử yêu
nước. Những phần tử này đại diện cho tầng lớp mới đang kiên trì con đường
cứu nước, cứu dân, hấp thu những tư tưởng cách mạng tiên tiến của thời đại.
- Phong trào dân tộc dân chủ 1925 – 1930, phong trào có bước tiến về
chất, thể hiện ở việc hình thành các tổ chức cách mạng, các chính đảng đại
diện cho hai khuynh hướng tư tưởng khác nhau: tư sản và vô sản.
3 – Hai khuynh hướng cách mạng tư sản và vô sản ở Việt Nam
- Từ năm 1925, ở Việt Nam xuất hiện những tổ chức cách mạng theo
khuynh hướng vô sản. Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và Tân Việt là
những tổ chức yêu nước, tuy chưa phải là đảng cộng sản, nhưng đường lối
chính trị, chủ trương hành động đã thể hiện rõ lập trường của giai cấp công
nhân. Sự phù hợp của con đường cách mạng theo khuynh hướng vô sản thể
hiện ở việc những người yêu nước và nhân dân Việt Nam tiếp thu lý luận giải



trong phong trào yêu nước, khiến họ đứng sang lập trường của giai cấp coogn
nhân.
- Như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp của ba yếu tố:
Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, phong trào yêu nước, phong trào công nhân Việt
Nam. Các yếu tố này kết hợp khăng khít với nhau, không thể tách bạch nhân
tố nào là quan trọng nhất hay đứng hàng đầu.
5 – Vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam trong
thời kì lịch sử từ năm 1920 đến năm 1930.
- Xác định một con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam
+ Từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX, diễn ra nhiều phong trào yêu
nước theo tư tưởng phong kiến (phong trào Cần vương, phong trào đấu tranh
tự vệ của nông dân), phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản
(phong trào Đông du, Đông kinh nghĩa thục, Cuộc vận động Duy tân....) đều
lần lượt thất bại. Nguyên nhân chủ yếu là thiếu một đường lối cứu nước đúng
đắn.
+ Từ năm 1911 đến năm 1920, quá trình khảo sát và lựa chọn đường lối
cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin và xác định con
đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản. Việc tìm thấy con
đường cách mạng vô sản đã giải quyết được tình trạng khủng hoảng về đường
lối cứu nước cho nhân dân Việt Nam.
- Truyền bá lý luận cách mạng, chuẩn bị điều kiện thành lập Đảng Cộng
sản Việt Nam
+ Trong những năm 20 của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc đã xây dựng và
truyền bá lý luận giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản vào
Việt Nam.
+ Nội dung lí luận đó được trình bày qua những bài viết cho các báo:
Người cùng khổ (Le Paria) của Hội Liên hiệp thuộc địa; Nhân đạo của Đảng
15

16


Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc).
+ Với uy tín tuyệt đối, Nguyễn Ái Quốc đã đưa Hội nghị đến thành công,
thống nhất được các tổ chức cộng sản thành một đảng duy nhất là Đảng cộng
sản Việt Nam.
- Soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, bao gồm Chính
cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, được Hội nghị thành lập Đảng thông qua.
+ Đó là cương lĩnh giải phóng dân tộc đúng đắn và sáng tạo. Độc lập, tự
do là tư tưởng chủ yếu của Cương lĩnh.
+ Với việc sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, một chính đảng cách
mạng có hệ thống tổ chức chặt chẽ và Cương lĩnh chính trị đúng đắn, Nguyễn
Ái Quốc có vai trò quyết định trong việc chấm dứt tình trạng khủng hoảng về
đường lối cứu nước kéo dài mấy chục năm đầu thế kỷ XX.
- Xây dựng mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế
giới, tranh thủ được sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản, Đảng Cộng sản Pháp,
Đảng Cộng sản Liên Xô, Đảng Cộng sản Trung Quốc và phong trào giải
phóng dân tộc đối với cách mạng Việt Nam.
3. PHƯƠNG PHÁP VÀ KỸ NĂNG ÔN TẬP
3. 1. Một số vấn đề chung
3. 1.1. Mức độ của đề thi học sinh giỏi môn lịch sử
Mục đích của các kỳ thi chọn học sinh giỏi địa phương và học sinh giỏi
quốc gia môn lịch sử là tuyển chọn những học sinh xuất sắc nhất để tiếp tục
đào tạo và phải phát triển năng khiếu về môn học cho các em sau khi vào đại
học, các em sẽ trở thành những tài năng thực sự trong một lĩnh vực khoa học
lịch sử, nên các đề thi chọn học sinh giỏi có tính phân loại rất cao.
Các đề thi học sinh giỏi ở cơ sở thường dành khoảng 30% đến 40% (có
nhiều địa phương dưới 30%) số điểm cho khả năng nhận biết, phần còn lại
17



hiện của nó trong phong trào yêu nước chống Pháp từ cuối thế kỉ XIX đến đầu
năm 1930. Từ kết cục của mỗi khuynh hướng, hãy rút ra kết luận về con
đường giải phóng dân tộc Việt Nam.
Vế 1 của câu này là Nêu các khuynh hướng chính trị và những biểu hiện
của nó trong phong trào yêu nước chống Pháp từ cuối thế kỉ XIX đến đầu năm
1930. Phần kiến thức cơ bản này phải tổng hợp các sự kiện từ nhiều bài học lịch
sử được trình bày trong sách giáo khoa lớp 11 (chương trình chuẩn và chương
trình nâng cao) và một số bài trong sách giáo khoa lớp 12 (chương trình chuẩn và
chương trình nâng cao).
Vế 2 của câu này: Từ kết cục của mỗi khuynh hướng, hãy rút ra kết luận
về con đường giải phóng dân tộc Việt Nam. Đây là yêu cầu vận dụng nâng cao,
đòi hỏi học sinh sau khi nêu được những biểu hiện của các khuynh hướng
chính trị trong phong trào yêu nước chống Pháp từ cuối thế kỉ XIX đến đầu
năm 1930, học sinh phải khẳng định được trong thời gian này, ở nước ta có hai
khuynh hướng chính trị xuất hiện và cùng tác động đến phong trào cách mạng,
song kết cục là sự thất bại của khuynh hướng dân chủ tư sản và khuynh hướng
vô sản ngày càng thắng thế, đánh dấu bằng sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt
Nam (1 – 1930). Từ kết cục của các khuynh hướng nói trên, nên con đường
cứu nước tất yếu để giành thắng lợi cho dân tộc ta là con đường cách mạng
vô sản.
Một số điểm đáng lưu ý:
1. Đặc điểm của đề thi là không tập trung vào một bài, một chương, một
phần hay một khóa trình lịch sử mà rải ra trong toàn bộ chương trình. Vì thế,
thí sinh không thể học tủ, học lệch.
2. Yêu cầu về kỹ năng của mỗi câu hỏi trong đề thi cũng khác nhau,
biểu hiện ở những từ dùng để hỏi khác nhau: nêu, trình bày, tóm tắt, khái quát,

19


và kỹ năng mà học sinh đã có. Do đó, mỗi giáo viên ôn luyện đội tuyển cần
phải tự xây dựng chương trình giảng dạy cụ thể, thực hiện chương trình bằng
những phương pháp thích hợp, biết tự đánh giá và điều chỉnh chương trình để
đạt kết quả ngày càng cao hơn.
Việc điều chỉnh chương trình giảng dạy đơn thuần là sự thêm, bớt nội
dung. Trong quá trình ôn luyện cho học sinh, không gò ép học sinh theo
những khuôn mẫu có sẵn, mà người thầy phải gợi mở, hướng dẫn, khuyến
khích tư duy sáng tạo, giúp học sinh vận dụng những kiến thức đã tích luỹ
được để ngày càng tự hoàn thiện, có khả năng tự đánh giá, tự điều chỉnh để
không ngừng vươn lên học tốt, thích ứng với mọi hoàn cảnh, chủ động ứng
phó với mọi tình huống.
3.1.3.2. Phương pháp và kĩ năng ôn tập cơ bản
Nội dung của đề thi học sinh giỏi lịch sử rất phong phú, đa dạng, chủ yếu
là câu hỏi lý thuyết, một số đề có câu hỏi thực hành. Do đó, việc xác định
phương pháp và kĩ năng ôn tập phải phù hợp với mục tiêu đặt ra là bồi dưỡng
học sinh giỏi, nên cũng cần phải tuân thủ những cơ sở lý luận về phương pháp
dạy học để không rơi vào kinh nghiệm chủ nghĩa; đồng thời cần sáng tạo
những biện pháp, thao tác sư phạm để khắc phục tình trạng lý thuyết suông.
- Phải xác định động cơ, hứng thú học tập lịch sử cho học sinh.
Đây là khâu đầu tiên có tác dụng đột phá trong việc giúp học sinh có sự
lựa chọn môn học ngay từ đầu năm học. Chính vì vậy, nên trong bài mở đầu
của của chương trình năm học, người thầy nêu ra một số vấn đề trong nội
dung học tập, những quyền lợi được hưởng của học sinh tạo ra hứng thú học
tập, khao khát muốn được biết, kích thích tính tích cực của học sinh, làm cho
học sinh tham gia tích cực vào môn học.
- Sớm hình thành ở học sinh năng lực tự học và làm bài thi môn lịch sử.

21


của từng người mà kế hoạch và phương pháp đọc sách khác nhau. Một nhà
giáo dục học đã đưa ra một quy trình đọc sách khái quát với các giai đoạn, các
khâu như sau:
Đối với học sinh, việc nghiên cứu các chương, mục trong sách tham khảo là
để hiểu sâu sắc, mở rộng, nâng cao kiến thức đã được học trong sách giáo
khoa nhằm giải quyết những bài tập mà thầy, cô giao cho.
Ví dụ khi dạy chuyên đề “Vai trò của Hồ Chí Minh đối với thắng lợi của
cách mạng tháng Tám năm 1945”, có thể hướng dẫn các em đọc những tài liệu
sau:
1. Lịch sử Việt Nam từ 1885 đến nay, Trần Bá Đệ, NXB Đại học Quốc
gia, Hà Nội, 2001.
2. Bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử trung học phổ thông, Trịnh Đình
Tùng (Chủ biên), NXB Giáo dục Việt Nam, 2012.

23


3. Hồ Chí Minh với tiến trình lịch sử dân tộc,GS.TS Phan Ngọc Liên,
NXB Chính trị Quốc gia, H, 2008.
Để việc đọc sách có hiệu quả, giáo viên cần nêu rõ yêu cầu và hướng dẫn
học sinh cách đọc cũng như cách ghi chép khi đọc sách: tên tác giả, tên sách,
thời gian đọc, nội dung chủ yếu của sách, những vấn đề rút ra sau khi đọc sách
(những vấn đề liên quan đến bài học, vấn đề thích nhất, những thắc mắc cần
giải quyết...).
Ngoài ra, việc rèn luyện cho học sinh các kĩ năng khác như kĩ năng
nghe giảng kết hợp với ghi chép trên lớp, kĩ năng phát hiện vấn đề và giải
quyết vấn đề, kĩ năng tự kiểm tra đánh giá... cũng góp phần nâng cao hiệu quả
ôn tập cho học sinh giỏi.
Năng lực tự học là năng lực tự mình chiếm lĩnh kiến thức lịch sử một
cách hiệu quả dưới sự điều khiển hướng dẫn của thầy. Muốn như vậy học sinh

Sau khi phân tích đề bài, cần lập dàn ý. Hãy coi mỗi câu hỏi như một bài
viết ngắn, xác định những ý chính và trình tự của các ý, không nên chỉ hình
dung đại khái và viết ngay trong giấy thi. Khi lập dàn ý cần thực hiện các
bước:
- Bước 1: Kiểm tra lại yêu cầu của câu hỏi về kiến thức và kĩ năng.
- Bước 2: Khoanh vùng kiến thức (các sự kiện, quá trình lịch sử gắn với
thời gian và không gian cụ thể). Điều này rất quan trọng vì có khoanh đúng
vùng kiến thức mới tránh được tình trạng bị thừa hoặc thiếu trong bài làm.
Chú ý mối liên hệ đồng đại (trong cùng một thời gian), hoặc lịch đại (theo
trình tự thời gian trước, sau) giữa các sự kiện.
- Bước 3: Viết dàn ý. Trước hết viết dàn ý sơ lược, ghi các ý chính, đồng
thời tư duy chi tiết hoá mỗi ý đó. Căn cứ vào mục tiêu kỹ năng để lập dàn ý
cho sát, không bỏ sót những ý lớn.
* Làm bài
25


Trích đoạn Nguyên nhân thất bại và ý nghĩa lịch sử
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status