Hợp tác kinh tế Vịnh Bắc Bộ mở rộng và một số vấn đề đặt ra với Việt Nam - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*****

NGUYỄN QUỐC TRƢỜNG

HỢP TÁC KINH TẾ VỊNH BẮC BỘ MỞ RỘNG
VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỚI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế

Hà Nội – 2013

Hà Nội – 2013 1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
Chƣơng 1: KHÁI QUÁT VỀ HỢP TÁC KINH TẾ VỊNH BẮC BỘ
MỞ RỘNG 10
1.1. Khái quát về Vịnh Bắc Bộ và phạm vi hợp tác kinh tế Vịnh Bắc
Bộ mở rộng (VBBMR) 10
1.1.1.Vịnh Bắc Bộ 10
1.1.2. Khu vực hợp tác kinh tế VBBMR 11
1.2. Ý tƣởng, mục tiêu và các nội dung hợp tác chủ yếu 11
1.2.1. Sự ra đời của ý tưởng hợp tác kinh tế VBBMR 11
1.2.2. Mục tiêu và những nội dung hợp tác chủ yếu 12
1.2.3. Các lĩnh vực hợp tác chủ yếu 16
1.3. Bối cảnh và quan hệ hợp tác giữa các nƣớc trong khu vực 17
1.3.1. Bối cảnh chung 17
1.3.2. Quan hệ Trung Quốc – ASEAN 17
1.3.3. Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc 21
1.3.4. Quan hệ Việt Nam - ASEAN 23
1.4. Nhận định về cơ sở và triển vọng hợp tác 25
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG HỢP TÁC KINH TẾ VBBMR VÀ CƠ
HỘI, THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIỆT NAM 28
2.1. Lộ trình và các chƣơng trình hành động của Trung Quốc 28
2.1.1. Xây dựng Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ Quảng Tây 28
2.1.2. Mở rộng sự tham gia của các địa phương khác 32
2.1.3. Triển khai đồng bộ sáng kiến “một trục hai cánh” và đưa ra
Lộ trình cùng 7 chương trình hợp tác cụ thể 34
2.2. Sự tham gia của Việt Nam 36

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69 3

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ACFTA
:
Hiệp định thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc
ARF
:
Diễn đàn khu vực ASEAN
ASEAN
:
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ASEAN+3
:
Khuôn khổ hợp tác giữa ASEAN với 3 nước (Trung
Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc)
CAFTA
:
Hiệp định thương mại tự do Trung Quốc – ASEAN
DOC
:
Tuyên bố chung về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông
FTA
:
Hiệp định thương mại tự do
GMS

đạo Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây của Trung Quốc đưa ra trong sáng
kiến hợp tác phát triển “Một trục, hai cánh”, vào tháng 7 năm 2006. Theo đó,
“một trục” là Hành lang kinh tế từ Nam Ninh đến Singapore và “hai cánh”
gồm hai khu vực là Vịnh Bắc Bộ mở rộng và Tiểu vùng sông Mê Kông mở
rộng (GMS). Mặc dù VBB chỉ nằm giữa Việt Nam và Trung Quốc, song hợp
tác kinh tế VBBMR xác định phạm vi hợp tác bao trùm cả một số tỉnh phía
Nam, Tây Nam Trung Quốc và hầu hết các nước ASEAN như: Việt Nam,
Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Singapore.
Trong mấy năm qua, kể từ khi ý tưởng hợp tác nêu trên nhận được sự
tán đồng và ủng hộ của Chính phủ Trung Quốc, lãnh đạo các nước ASEAN, hợp
tác kinh tế VBBMR đã được chuyển từ nhận thức chung sang hoạt động thực
tiễn. Phía Trung Quốc đã phê chuẩn Quy hoạch Khu kinh tế VBB Quảng Tây;
đầu tư hàng trăm tỷ USD nâng cấp hạ tầng, phát triển các thành phố “đầu cầu”
cho HLKT Nam Ninh – Singapore; phát triển các vành đai kinh tế, các khu công
nghiệp, cảng biển quy mô lớn ở khu vực Quảng Tây; biến Quảng Tây thành
“cực tăng trưởng mới” của Trung Quốc. Bên cạnh đó, Trung Quốc thông qua
khuôn khổ hợp tác này lôi kéo ngày càng nhiều các nước ASEAN vào “quỹ đạo”
ảnh hưởng của mình. Trong khi đó, cho đến nay, Việt Nam và các nước ASEAN
hầu như lúng túng, bị động trước các đề nghị hợp tác của Trung Quốc, thiếu
thông tin, niềm tin và nguồn lực để hợp tác. Tại Việt Nam hiện mới có rất ít công
trình nghiên cứu về các vấn đề liên quan hợp tác kinh tế VBBMR.
Thực tế nêu trên đang đặt ra những thách thức lớn với Việt Nam không
chỉ về kinh tế, mà còn cả về an ninh, chính trị, đối ngoại, trong quan hệ với 6
Trung Quốc và ASEAN. Đồng thời, đặt ra yêu cầu cấp thiết thiết phải tiến
hành nghiên cứu hợp tác kinh tế VBBMR và ảnh hưởng của khuôn khổ hợp
tác này đối với nước ta. Đề tài này nhằm đánh giá thực trạng, phân tích, dự
báo tác động của khuôn khổ hợp tác kinh tế VBBMR đối với Việt Nam trên

Tuy nhiên, các báo cáo, nghiên cứu nói trên mới chỉ dành một phần đề
cập đến hợp tác kinh tế VBBMR, mà chưa có các phân tích, đánh giá thấu đáo
về tác động của khuôn khổ hợp tác này đối với Việt Nam. Bên cạnh đó, nhiều
công trình nghiên cứu nói trên ra đời từ năm 2009 trở về trước, chưa cập nhật
tình hình, những diễn biến mới trong hợp tác kinh tế VBBMR, nên chưa đánh
giá được toàn diện, chính xác về những tác động của hợp tác kinh tế VBBMR
đối với Việt Nam; những vấn đề đặt ra với Việt Nam hiện nay.
2.2.Tại Trung Quốc
Ở Trung Quốc hiện đã có nhiều công trình nghiên cứu về hợp tác kinh
tế VBBMR. Một số công trình chủ yếu như:
- Cổ Tiểu Tùng chủ biên (2010), Báo cáohợp tác phát triển VBBMR,
NXB Văn hiến KHXH Trung Quốc.
- Đỗ Bình (2011), Tiến vào Vịnh Bắc Bộ, NXB Văn hiến trung ương TQ.
- Lã Dư Sinh chủ biên (2011), Báo cáo hợp tác phát triển VBBMR
2011, NXB Văn hiến KHXH Trung Quốc.
-Văn phòng Ban quản lý quy hoạch và xây dựng Khu kinh tế VBB
Quảng Tây chủ biên và xuất bản (2010), Khái quát Khu kinh tế VBB Quảng Tây.
-Viện KHXH Quảng Tây (2010), Kỷ yếu Diễn đàn các cơ quan tham
mưu hợp tác kinh tế VBBMR, tại Nam Ninh, Trung Quốc, tháng 6/2010.
-Viện nghiên cứu phát triển VBB Quảng Tây (2010), Báo cáo tình
hình mở cửa, khai thác Khu kinh tế VBB Quảng Tây 2006-2010; NXB Văn
hiến KHXH Trung Quốc. 8
-Viện nghiên cứu phát triển VBB Quảng Tây và Viện KHXH Quảng
Tây (2011), Báo cáo tình hình mở cửa, khai thác Khu kinh tế VBB Quảng Tây
2006-2010, NXB Văn hiến KHXH Trung Quốc.
Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu giới thiệu tình hình hợp tác của
Trung Quốc; đánh giá tác động của khuôn khổ hợp tác này với Trung Quốc và


10
Chƣơng 1

KHÁI QUÁT VỀ HỢP TÁC KINH TẾ VỊNH BẮC BỘ MỞ RỘNG

1.1. Khái quát về Vịnh Bắc Bộ và phạm vi hợp tác kinh tế Vịnh Bắc
Bộ mở rộng (VBBMR)
1.1.1.Vịnh Bắc Bộ

11
chiến lược quan trọng về quốc phòng - an ninh, đồng thời là căn cứ hậu cần
vững chắc để vươn ra khai thác biển khơi, phát triển kinh tế biển.
1.1.2. Khu vực hợp tác kinh tế VBBMR
Phạm vi không gian hợp tác kinh tế VBBMR được xác định không thật
sự rõ ràng. Ban đầu, khi Trung Quốc mới đưa ra sáng kiến hợp tác này, không
gian hợp tác được xác định là một số tỉnh, thành phố phía nam của Trung
Quốc và các nước ASEAN dọc theo Hành lang kinh tế Nam Ninh-Singapore,
như: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Singapore và Brunei.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai hợp tác cũng như các Diễn đàn hợp tác
kinh tế VBBMR, Trung Quốc đã mời thêm các nước Myanmar, Philippines
tham gia. Theo Lộ trình hợp tác kinh tế VBBMR mà Trung Quốc đưa ra
tháng 7/2012, không gian hợp tác còn được mở rộng trong thời gian tới, với
sự tham gia của Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan.
Theo tính toán của Nhóm chuyên gia hỗn hợp Trung Quốc và ASEAN,
thì ngay ở thời điểm Trung Quốc bắt đầu thúc đẩy hợp tác kinh tế VBBMR,
năm 2008, khu vực hợp tác kinh tế VBBMR đã có quy mô dân số 1,8 tỷ
người; tổng GDP khoảng 5,7 nghìn tỷ USD và tổng kim ngạch xuất nhập
khẩu 4,4, nghìn tỷ USD [1, tr.6].
1.2. Ý tƣởng, mục tiêu và các nội dung hợp tác chủ yếu
1.2.1. Sự ra đời của ý tưởng hợp tác kinh tế VBBMR
Hợp tác kinh tế VBBMR diễn ra trong bối cảnh những năm gần đây
Trung Quốc tập trung xây dựng điểm tăng trưởng mới Trung Quốc - ASEAN
nhằm khai thác vai trò của Quảng Tây làm cầu nối (cả trên bộ và trên biển)
trong giao lưu hợp tác giữa Trung Quốc và Đông Nam Á. Với chiến
lược "Một trục hai cánh", Trung Quốc chủ trương hình thành hai mảng hợp
tác lớn trong khu vực là hợp tác kinh tế trên biển (Hợp tác kinh tế xuyên Vịnh
Bắc Bộ) và hợp tác kinh tế trên bộ (Hợp tác tiểu vùng Mê Kông mở rộng và
13
- Về Chiến lược an ninh
+ Củng cố môi trường hòa bình, ổn định xung quanh, tạo vành đai an
ninh ở phía Nam, tăng sự hiện diện, nâng cao vị thế nước lớn của Trung Quốc
ở Đông Nam Á.
+ Ngăn chặn ảnh hưởng của các nước lớn, đặc biệt là Mỹ, Nhật ở khu
vực này, nhất là trong bối cảnh Mỹ đẩy mạnh thực hiện chiến lược “trở lại
châu Á” trong năm 2012.
- Đối với Biển Đông
Trung Quốc muốn thông qua hợp tác kinh tế VBBMR để khẳng định
chủ quyền, thúc đẩy hợp tác khai thác tài nguyên biển, mà trọng tâm là dầu
khí, cụ thể hóa phương châm “Gác tranh chấp cùng khai thác”; ngăn cản quốc
tế hóa vấn đề biển Đông và sự can thiệp của các nước lớn, nhất là Mỹ, Nhật
vào vấn đề Biển Đông.
- Về kinh tế
+ Mở rộng không gian phát triển, thị trường tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ,
nguồn cung cấp nguyên liệu, năng lượng, thu hút đầu tư, du lịch giành vị trí
có lợi nhất trong tiến trình liên kết kinh tế khu vực và tiểu vùng.
+ Cụ thể hóa và tận dụng tối đa lợi ích hợp tác toàn diện Trung Quốc -
ASEAN trong khung khổ Khu mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN
(CAFTA). Thúc đẩy hợp tác mang tính đa cấp, đáp ứng nhu cầu hợp tác của
khu vực; tạo điều kiện để phát triển hạ tầng xuyên Á: đường biển trên Vịnh
Bắc Bộ, Biển Đông và các tuyến đường bộ, đường sắt ven biển từ Hoa Nam
xuống Singapore.
Sáng kiến này phù hợp với Chiến lược quốc gia phát triển hướng Nam
của Trung Quốc. Trung Quốc coi Đông Nam Á và Nam Á là khu vực trọng
điểm thúc đẩy chính sách ngoại giao "láng giềng hoà mục, láng giềng cùng
giàu" và khu vực ổn định của Trung Quốc. Tương thích với Chiến lược phát
15
Phi, Châu Âu có thể tiết kiệm được từ 1/4 đến 1/3 chi phí so với trước đây.
Chính vì vậy một kế hoạch xây dựng hệ thống giao thông cả đường sắt,
đường bộ, hàng không và đường biển của các tỉnh Tây Nam Trung Quốc,
trong đó lấy các bến cảng làm nòng cốt đã được triển khai (dự kiến sẽ thực
hiện trong vòng 10 năm) nhằm mục đích làm cho khu vực Quảng Tây thực
sự đảm nhiệm được chức năng là con đường ra biển của cả vùng Tây Nam
Trung Quốc. Khi đó Quảng Tây sẽ thực sự trở thành nút giao thông đường
biển, đường bộ và đường không quan trọng nối liền Trung Quốc với Đông
Nam Á.
Vùng Vịnh Bắc Bộ đã được Chính phủ Trung Quốc rất chú ý. Trung
Quốc cho rằng Vịnh Bắc Bộ có địa thế quan trọng của toàn khu vực Tây Thái
Bình Dương; cần tận dụng ảnh hưởng của các trung tâm phát triển như Tam
giác phát triển Chu Giang, Đài Loan, Singapore , khai thác thế mạnh hợp tác
của không gian biển để mở rộng hợp tác toàn diện Trung Quốc - ASEAN và
vươn tới tầm hợp tác của cả khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Vì vậy từ
lâu Trung Quốc đã rất chú trọng phát triển vùng duyên hải Vịnh Bắc Bộ.
Ngay từ năm 1984, thành phố Bắc Hải và cảng Phòng Thành được Quốc
vụ viện Trung Quốc phê chuẩn là các thành phố mở cửa ven biển; đến năm
1988, quy định tương tự cũng đã được phê chuẩn cho các thành phố Khâm
Châu, Quế Lâm và các huyện Hợp Phố, Tương Ngô của Phòng Thành. Tháng
6/1992, thành phố Nam Ninh, thủ phủ của tỉnh Quảng Tây cũng được hưởng
quy chế thành phố mở cửa ven biển; các thị trấn Đông Hưng, Bằng Tường
đối diện với Việt Nam cũng trở thành thị trấn mở cửa ven biển.
Bước sang thế kỷ mới, mặc dù tình hình thế giới, nhất là ở khu vực
Châu Á - Thái Bình Dương có những diễn biến phức tạp, khó lường, nhưng
Hữu nghị - Hợp tác - Phát triển vẫn là xu thế chính của mối quan hệ giữa các
nước, trong đó: Phát triển là mục tiêu chung mà các nước cùng theo đuổi; hợp tác

17
6. Chương trình thúc đẩy tham gia của doanh nghiệp tư nhân vào hợp
tác kinh tế VBBMR;
7. Chương trình xây dựng các cơ sở hợp tác kinh tế và thương mại VBBMR [2].
1.3. Bối cảnh và quan hệ hợp tác giữa các nƣớc trong khu vực
1.3.1. Bối cảnh chung
Hơn mười năm qua, mặc dù tình hình thế giới có những diễn biến phức
tạp, song xu thế liên kết kinh tế khu vực, toàn cầu hóa vẫn diễn ra mạnh mẽ.
Trung Quốc và các nước thuộc khu vực Đông Nam Á về cơ bản vẫn duy trì
được sự ổn định và phát triển; các quan hệ hợp tác song phương và đa phương
trong khu vực phát triển mạnh và ngày càng mở rộng
Từ năm 2002, tức sau một năm gia nhập WTO, Trung Quốc rất tích
cực đẩy mạnh hợp tác kinh tế khu vực, đặc biệt với Việt Nam và các nước
ASEAN. Kết hợp với chính sách lớn về khai thác, phát triển miền Tây, Trung
Quốc nỗ lực đầu tư, phát triển kinh tế Quảng Tây, nhằm hình thành “cực tăng
trưởng mới”, biến Quảng Tây thành trung tâm kinh tế quan trọng, tạo cơ sở
thúc đẩy hợp tác giữa Trung Quốc và ASEAN. Việc Quảng Tây trở thành
“cực tăng trưởng mới” còn tạo tác động lan tỏa sang các tỉnh phía Tây khác.
Hợp tác kinh tế VBBMR được hình thành nằm trong bối cảnh này.
Ý tưởng hợp tác kinh tế VBBMR còn được đưa ra trong bối cảnh hợp tác
kinh tế Trung Quốc – ASEAN đã đi vào chiều sâu. Kim ngạch đầu tư, thương mại
song phương liên tục tăng mạnh. Hai bên đã hoàn tất đàm phán Hiệp định đầu tư
song phương (đã ký năm 2008) và đưa Hiệp định tự do thương mại song phương
(CAFTA) chính thức đi vào hoạt động kể từ năm 2010…Trung Quốc cho rằng,
khu vực VBB được liên kết bởi đường biển sẽ trở thành một cực tăng trưởng mới
giúp mở rộng mối quan hệ hợp tác chiến lược Trung Quốc – ASEAN.
1.3.2. Quan hệ Trung Quốc – ASEAN
Trung Quốc va
̀

lãnh đạo các bên tiếp tục khẳng định và đề xuất các biện pháp tăng cường hợp
tác, xây dựng quan hệ đối tác chiến lược theo tinh thần của Tuyên bố chung
về quan hệ đối tác chiến lược ASEAN - Trung Quốc. 19
Về hợp tác kinh tế
- Cùng với việc tăng cường quan hệ chính trị song phương, hai bên
cũng đã tích cực xây dựng các khuôn khổ hợp tác kinh tế. Trên cơ sở
Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc, hai
bên đã ký một loạt các Hiệp định quan trọng như: Hiệp định Thương mại
hàng hóa và Hiệp định về cơ chế giải quyết tranh chấp (tháng 11/2004),
Hiệp định Thương mại dịch vụ (1/2007), Hiệp định Đầu tư (8/2009), hoàn
tất và thực hiện CAFTA Việc thực hiện CAFTA từ tháng 1/2010 có ý nghĩa
rất lớn. Với Trung Quốc, ASEAN rộng lớn có hơn 600 triệu dân nằm ngay sát
Trung Quốc là thị trường thuận lợi để tiêu thụ hàng hoá của Trung Quốc,
đồng thời là địa bàn đầu tư và cung cấp nguyên liệu lý tưởng cho các nhà sản
xuất nước này. Còn với ASEAN, việc thắt chặt quan hệ với Trung Quốc cũng giúp
mỗi thành viên ASEAN tìm được cơ hội phát triển kinh tế của đất nước mình.
- Kim ngạch thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN đã tăng nhanh
trong thập kỷ qua. Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của
ASEAN vào năm 2009. Năm 2011, kim ngạch thương mại hai chiều giữa
ASEAN và Trung Quốc tăng 20,9% so với năm 2010. Vào năm 2011,
ASEAN trở thành đối tác thương mại lớn thứ ba của Trung Quốc và lần đầu
tiên ASEAN xuất siêu sang Trung Quốc với tổng giá trị 11 tỷ USD. Cũng
trong năm này, đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Trung Quốc vào ASEAN đã
tăng một cách ấn tượng (hơn 100%) so với năm trước đó. Tổng kim ngạch
đầu tư 2 chiều năm 2010 đã đạt 738 tỷ USD (vốn FDI từ ASEAN vào Trung
Quốc là 630 tỷ USD và từ Trung Quốc ra các nước ASEAN là 108 tỷ
USD) và năm 2012, chỉ tính đến tháng 7, kim ngạch đầu tư song phương đã

480
570
1.050
5
Malaysia
23.810
50.410
74.220
6
Myanmar
3.480
960
4.440
7
Philippines
11.540
16.210
27.750
8
Singapore
32.350
24.710
57.060
9
Thái Lan
19.750
33.200
52.950
10
Việt Nam
Liên quan đến vấn đề Biển Đông và khu vực Vịnh Bắc Bộ, tháng
12/2000 hai nước có chung Vịnh Bắc Bộ là Việt Nam và Trung Quốc đã
ký kết Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định Hợp tác nghề cá trên
Vịnh Bắc Bộ. Tiếp đó, tháng 11/2002 Trung Quốc và các nước thành viên
ASEAN đã ký kết Tuyên bố chung về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông
(DOC), trong đó nhấn mạnh nguyên tắc giải quyết các tranh chấp bằng biện
pháp hoà bình. Đây là những văn kiện hết sức quan trọng, đặt cơ sở pháp lý
cho việc duy trì sự ổn định trong khu vực để phát triển hợp tác giữa các bên ở
Biển Đông nói chung và khu vực Vịnh Bắc Bộ nói riêng. Tuy nhiên tình hình
trong khu vực hiện nay vẫn còn nhiều phức tạp, nhất là vấn đề an ninh và chủ
quyền quốc gia trên biển. Việc Trung Quốc tuyên bố về “đường lưỡi bò” của
nước này trên Biển Đông (chiếm gần 80% diện tích Biển Đông), đồng thời
tăng cường các hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên ở các khu vực ngoài 21
vùng biển chủ quyền của mình, cùng với những diễn biến phức tạp của các tội
phạm trên biển… đang làm gia tăng sự bất ổn định trong khu vực.
1.3.3. Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng có nhiều nét tương
đồng và có lịch sử quan hệ hữu nghị lâu đời. Ngay sau khi nước CHND Trung
Hoa ra đời, ngày 18/01/1950 hai nước đã chính thức thiết lập quan hệ ngoại
giao. Trải qua những thăng trầm, bước sang thập kỷ 90 mối quan hệ Việt Nam
- Trung Quốc đã được khôi phục. Việt Nam và Trung Quốc ký Thông cáo
chung về việc chính thức bình thường hoá quan hệ hai nước (ngày
10/11/1991). Kể từ đây mối quan hệ hợp tác Việt Nam - Trung Quốc chuyển
sang thời kỳ phát triển mới.
Từ năm 1991 đến nay quan hệ Việt - Trung đã phát triển mạnh mẽ trên

30,7% so với năm 2010 trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 11,1 tỷ USD, tăng
52,2% và nhập khẩu đạt 24,6 tỷ USD, tăng 22,8%.
Tám tháng đầu năm 2012, kim ngạch thương mại song phương đã đạt
27 tỷ USD. Trong chuyến thăm Việt Nam tháng 12/2011, Phó Chủ tịch Trung
Quốc Tập Cận Bình đề nghị hai bên thúc đẩy hợp tác, xác định mục tiêu
thương mại hai chiều đạt 60 tỉ USD vào năm 2015 Hiện nay Trung Quốc
đang là một trong số 10 nước bạn hàng lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch
xuất nhập khẩu chiếm hơn 16,8% tổng kim ngạch ngoại thương của Việt
Nam (xuất khẩu chiếm 10,12%; nhập khẩu chiếm 23,61%).
Bảng 2: Trao đổi ngoại thƣơng giữa Việt Nam với Trung Quốc
TT
Chỉ tiêu
2005
(Tr.USD)
2010
(Tr.USD)
Tăng BQ
(%/năm)
1
Tổng giá trị XNK
9127.8
27327,6
17,41

% so cả nước
13.19
16.81

2
Tr.đó: - Xuất khẩu

phát triển du lịch trong khuôn khổ hai hành lang, một vành đai kinh tế. Các
công ty du lịch lữ hành của hai nước, nhất là của Hà Nội, Hải Phòng, Quảng
Ninh với Quảng Tây (Trung Quốc) và gần đây với tỉnh Hải Nam đã phối hợp khá
chặt chẽ nên lượng khách du lịch ngày càng tăng. Năm 2005 số khách du lịch Trung
Quốc vào Việt Nam đạt 717.400 lượt người và năm 2010 đạt 905.400 lượt người,
chiếm 17,9% số khách quốc tế đến Việt Nam. Năm 2011, số du khách Trung Quốc
đến Việt Nam đã vượt mốc 100 nghìn lượt người và theo Tổng cụ Thống kê, trong 9
tháng đầu năm 2012, Trung Quốc vẫn là quốc gia dẫn đầu về lượng khách đến Việt
Nam với 992 nghìn lượt người, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm 2011.
* Hợp tác trong các lĩnh vực khác: Hợp tác trong các lĩnh vực khác như
nông nghiệp, thủy sản, điều tra cơ bản, khoa học công nghệ, y tế, giáo dục đào
tạo… giữa các địa phương thuộc khu vực Vịnh Bắc Bộ mở rộng cũng luôn
được củng cố và phát triển.
1.3.4. Quan hệ Việt Nam - ASEAN
Ngày 28/7/1995 Việt Nam mới chính thức gia nhập Hiệp hội các nước
Đông Nam Á (ASEAN). Từ đó đến nay, Việt Nam đã nhanh chóng hội nhập
và khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong tổ chức này. Với những nỗ
lực trong việc tham gia vào Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) và từng bước
tiến nhanh, hội nhập vào Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN; Việt Nam đã góp

Trích đoạn Một số công trình, dự án lớn đã và sẽ được triển khai tại các nước Về phương hướng triển khai hợp tác của Trung Quốc Một số tác động đối với ASEAN Hợp tác về thương mại, thuận tiện hóa thông quan Các giải pháp chủ yếu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status