Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con người Một số vấn đề đặt ra cho Việt Nam - Pdf 25

OẠI HỌC QUOC GIA HA NỌI
TRƯỞNG ĐẠI HỌC KINH TÉ
QUAN HỆ GIỮA ĨÃNG TRƯỞNG KINH TỂ VÀ PHÁT TRIỂN CON NGƯ0 I:
MỘT SÔ VẤN ĐÊ ĐẶT RA CHO VIỆT NAM
■ ■ ■
M ã số: QK.05.Q1
C h ủ trì d ề tài: ThS. TRẦN ĐỨC HIỆP
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỒI
TRUNG TÀM THỔNG TIN THƯ VIÊN
- b r
í
2 4 4
HÀ NỘI - 2008
MỤC LỤC
LỎI MỞ ĐẨU
CHUONG 1:
LÝ LUẬN C O BẢN v i QUAN HỆ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ PHÁT TRIEN c o n NGƯÒI
1.1 Quan niệm
vê'
p h á t triển con người
1.1.1 Khái niệm
1.1.2 Một số đặc điểm chính của quá trình phát triển con người
1.1.3 Một số chỉ số cơ bản phản ánh trình độ phát triển con người
1 . 2
N hững nội dung cơ bản về' quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát
triển con người
1.2.1 Khái quát về tăng trưởng kinh tế
1.2.2 Các xu thê khác nhau trong tương quan giữa tàng trưởng kinh tế và
phát triển con người
1.2.3 Nhận diện mối tương quan giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con
người

38
38
39
41
41
49
59
2
người ở V iệt N a m hiện nay
2.4 M ộ t sô' định hướng chính sách và g iải pháp táng trưởng kinh tế vì mục
tiêu p h át triển con người ở Việt N am trong thời gian tới
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CPI
Chỉ số giá tiêu dùng
FDI
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài
GDI Chỉ số phát triển giới
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
HDI
Chỉ số phát triển con người
HDR
Báo cáo phát triển con người
HPI Chỉ số nghèo khổ tổng hợp
IMF Quỹ tiền tộ quốc tế
MDGs Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ

dai dẳng ở nhiều bộ phận dân cư khác nhau. X uất phát từ đây, m ục tiêu của m ọi
quá trình phát triển cần phải được nhìn nhận lại theo tư duy hướng tới con người
m ột cách trực diện hơn cho dù tăng trưởng kinh tế là những thành tựu cơ bản
khôn g th ể thiếu. V ậy phát triển con người là gì? G iữa tăng trưởng kinh tế và phát
triển con người có m ối quan hệ với nhau như th ế nào? Đ âu là nhân tố có khả
năng thúc đẩy tăn g trưởng kinh tế đồng thời hướng tới m ục tiêu phát triển con
người? Đ ây là nhữ ng vấn đề cần được lý giải m ột cách thấu đáo.
ở V iệt N am , con người từ lâu đã được đặt vào vị trí trung tâm của sự phát
triển. N hững thành tựu tăng trưởng kinh tế của V iệt N am trong suốt gần hai thập
kỷ qua đã giúp V iệt N am có những tiến bộ vượt bậc và liên tục trong việc nâng
cao thành tựu phát triển con người. Tuy nhiên, vẫn phải tự thừa nhận rằng, m ặc
dù có những nỗ lực n hư vậy, nhưng V iệt N am vẫn là m ột trong số những nước
nghèo nhất trên th ế giới, trình độ phát triển con người vẫn chỉ ở nhóm các nước
phát triển trung bình. R õ ràng, Việt Nam cần phải tiếp tục đẩy m ạnh tăng trưởng
kinh tế vì m ục tiêu phát triển con người. V ậy trong thời gian tới, V iệt N am phải
tập trung giải q u y ết vấn đề gì và bằng cách thức nào để đảm bảo các lợi ích từ
tăng trưởng kinh tế có thể chuyển hóa thành các thành tựu phát triển con người?
Trước những thách thức hội nhập quốc tế và m ột số dấu hiệu bất ổn vĩ m ô hiện
nay vấn đề đặt ra trên đây của V iệt N am trở lên bức thiết hơn bao giờ hết.
1. Sự cần thiết của đề tài:
5
Xuất phát tờ phương diện lý luận và thực tiễn ở Việt Nam như vậy, đề tài
“ Q u a n hệ g iữ a tă n g trư ở ng k in h tế và p h á t triển con n g ư ờ i: M ộ t s ố vân đê đ ặ t
ra cho V iệ t N a m
” đã được lựa chọn làm nội dung nghiên cứu.
2. T ình hình nghiên cứu:
Tãng trưởng kinh tế và phát triển con người là hai vấn đề trung tâm của sự
phát triển vì vậy hai vấn đề này đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu từ rất lâu
của nhiều nhà khoa học trên thế giới. Tuy nhiên, mối tương quan giữa tăng
trưởng kinh tê' và phát triển con người lại là một mảng vấn đề chưa có nhiều

vãn hóa, nguồn nhân lực và con người cũng được nghiên cứu trong mối liên hệ
với tãng trưởng kinh tế thông qua Chương trình khoa học công nghệ cấp nhà
nước K X- 05. Ngoài ra, thông qua các công trình khác nhau, một số khía cạnh
khác của mối tương quan này cũng được nhiều nhà kinh tế quan tâm nghiên cứu
như PGS.TS. Hổ Sỹ Quý, TS. Đỗ Hoài Nam, TS. Vũ Quốc Huy, TS. Võ Trí
Thành. GS.TS. Trần Ngọc Thơ, TS. Nguyễn Trung, TS. Jonathan Pincuss, TS.
David Dapice, TS Vũ Minh Khương Tuy vậy, các công trình này không chủ
trương đi sâu phân tích trực diện và toàn diện mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh
tế và phát triển con người ở Việt Nam thời gian qua. Các nhân tố tâng cường liên
kết giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con người ở Việt Nam cũng chưa được
tiếp cận một cách có hệ thống.
3. M ục đích nghiên cứu của đề tài:
• Xác định bản chất mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát
triển con người. Từ đó, tiếp tục đi sâu nghiên cứu chỉ ra một số nhân
tố cơ bản chi phối quan hệ giữa tãng trưởng kinh tế và phát triển con
người, đặc biệt là các nhân tố có khả năng tăng cường sự chuyển
hoá các thành tựu tăng trưởng kinh tế thành các tiến bộ về phát triển
con người.
• Phân tích làm rõ mối tương quan giữa tâng trưởng kinh tế và phát
triển con người ở Việt Nam trong thời gian qua, chỉ ra những vấn đề
mà Việt Nam gặp phải trong quá trình tăng trưởng vì mục tiêu phát
triển con người. Trên cơ sở đó, đề xuất các chính sách và giải pháp
tăng trưởng kinh tế hướng tới mục tiêu phát triển con người ở Việt
Nam trong thời gian tới.
4. Đ ôi tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
7
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và
phát triển con người. M ối quan hệ này được tiếp cận dưới góc độ kinh tế chính
trị học.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn ở việc xác định bản chất và

CHUÔNG 1
LÝ LUẬN CO BẢN VỀ QUAN HỆ TANG trưởng kinh tẽ và PHÂT triển con người
1 . 1 Q U A N N IỆM V Ể PHÁT TRIỂN C O N NGƯ ÒI
1.1.1 K hái niệm
Gần hai thập kỷ gần đây, vào những năm 1990, các chuyên gia của
Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) đã khảo sát quá trình phát triển
con người kể từ năm 1960. Thành tựu tăng trưởng kinh tế và phát triển con người
trên thế giới trong suốt 30 năm ấy đã diễn ra theo những mô hình trái ngược
nhau khiến các chuyên gia nhận thấy cần phải có một cách tiếp cận rộng hơn bao
hàm tất cả các khía cạnh của phát triển con người. Nghiên cứu cho thấy, nhiều
quốc gia tăng trưởng khá cao nhưng điều kiện sống không được cải thiện tương
ứng. Đặc biệt hơn, nhiều quốc gia đạt chất lượng cuộc sống cao hơn mặc dù tốc
độ tăng trưởng kinh tế chỉ ở mức khiêm tốn. Ngay cả đối với những quốc gia có
sự đồng thuận giữa tăng trưởng và chất lượng cuộc sống thì đấy cũng chỉ là hệ
quả dẻ thấy từ việc chi tiêu cao hơn cho giáo dục, y tế và giảm đói nghèo. Cách
thức tăng trưởng vì chính cuộc sống con người chưa được coi trọng. Trước tình
hình này, các chuyên gia UNDP đã kế thừa, tổng hợp những quan niệm phát
triển con người trước đó và mở rộng chúng thành một quan niệm mang tính hộ
thống. Quan niệm này dần có ảnh hưởng sâu sắc đến toàn thế giới sau khi được
trình bày và hoàn thiện trong các Báo cáo phát triển con người từ năm 1990.
Theo UNDP,
p h á t triể n con ngư ời là m ộ t q u á trìn h m ở rộ n g n h ữ n g lựa
ch ọ n c ủ a con người,
về nguyên tắc, những lựa chọn này là vô hạn và thay đổi
theo thời gian. Nhưng ở tất cả các nấc thang phát triển, lựa chọn then chốt nhất
đối với con người là hướng tới một cuộc sống khỏe mạnh, trường thọ; có kiến
thức và có cơ hội tiếp cận các nguồn lực cần thiết để đạt được mức sống tử tế.
Nếu những lựa chọn cần thiết này không thể có được thì nhiều cơ hội khác
không thể đạt được. Nhưng phát triển con người khồng dừng ở đây. Dải lựa chọn
cần được mở rộng và được đánh giá cao đối với con người còn là một tập hợp từ

p h á t triển con người là
sự m ở rộn g p hạm vi lựa chọn của con người đ ể đạt đến m ột cuộc sống trường
thọ, khỏe m ạnh, có ý nghĩa và xứng đáng với con người. Q u a n điểm này bao
hàm h ai kh ía cạnh ch ính là: i) M ở rộn g các cơ hộ i lựa chọn và ii) N ân g cao
năng lực lựa chọn của con người nhằm hưởng thụ m ột cuộc sống h ạnh phúc,
bền vững.
Cũng trong Báo cáo, hai khía cạnh này đã được phân tích và thể hiện
là một sự tiến triển quan trọng trong quan niệm về phát triển con người.
10
P h át triển con người là m ật quá trình m ở rộng cơ hội lựa chọn
: Cơ hội
lựa chọn là điều kiộn hàng đầu quyết định quá trình phát triển con người. Rõ
ràng, khi nào hay ở đâu con người có nhiều cơ hội hơn để lựa chọn, thì khi đó, ở
chính nơi đó điều k iện phát triển con người sẽ tốt hơn. Đ áng lưu ý là, thu nhập là
m ột trong những lựa chọn quan trọng b ậc nhất của con người. T h ô ng qua tiêu
dùng thu nhập, con người có thể thỏa m ãn các nhu cầu m à họ coi trọng. Thu
nhập càng cao, hiển nhiên con người càng có điểu kiện để m ở rộ n g nhu cầu hiện
thực của m ình. T uy nhiên, thu nhập m ặc dù là rất quan trọng song không phải là
m ục đích duy nhất, sự lựa chọn đuy nhất của con người. Thu nhập chỉ là phương
tiện chính để gia tăng sự lựa chọn. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, bên cạnh việc
có được m ột mức thu nhập cao, người dân còn coi trọng nhiều lựa chọn khác nữa
bao gồm việc có đủ dinh dưỡng, nước uống vệ sinh, các dịch vụ y tế tốt hơn, có
trường học đủ và tốt hơn cho con em họ, có chỗ ở thoả đáng, đảm bảo sinh kế, và
có nhiều việc làm m ang tính sản xuất. V iệc tạo ra nguồn thu nhập tự thân có thể
giúp người dân thoả m ãn m ột số trong nhiều nhu cầu này, nhưng rõ ràng
không
p hả i là tất cả.
N goài những nhu cầu này, dân chúng còn coi trọng những lợi ích
m ang tính phi vật chất hơn như quyền tự do đi chuyển và phát ngồn, sự thoát
khỏi tình trạng áp bức, bạo lực và bóc lột. Dân chún g còn m uốn có được cảm

triển được, con người cần có thể lực, trí lực ở m ột m ức tối thiểu, cần thiết. Các
hoạt động chăm sóc sức khoẻ cơ bản, giáo dục cơ sở ở cả phạm vi gia đình và xã
hội có vai trò quan trọng trong việc hình thành các năng lực này[14,03].
Hộp 1. Quan niệm phát triển con người
Phát triển con người là quá trình mở rộng phạm vi lựa chọn của con người để đạt đến
một cuộc sống trường thọ, khỏe mạnh, giầu tri thức, có ý nghĩa và xứng đáng với con
người. Quá trình này chính là quá trình (i) mở rộng các cơ hội lựa chọn và (ii) nâng cao
nãng lưc lưa chon của con người nhằm hưởng thu một cuộc sống hanh phúc, bền vững.
Cơ hội lựa chọn là điều kiện hàng đầu quyết định quá trình phát triển con người. Khi nào
hay ở đâu con người có nhiều cơ hội hơn để lựa chọn, thì khi đó, ở chính nơi đó con
người sẽ có điều kiện phát triển tốt hơn. Thu nhập là một trong những lựa chọn quan
trọng của con người. Tuy nhiên, thu nhập không phải là lựa chọn duy nhất của con
người. Thu nhập là phương tiện để gia tãng sự lựa chọn. Năng lực lựa chọn là điều kiện
cần thiết để biến các cơ hội lựa chọn sẩn có thành hiện thực. Tăng cường nãng lực lựa
chọn của con người bao gồm việc gia tăng quyền được tự do iựa chọn của con người.
Đáng lưu ý là, trong nhiểu trường hợp, năng lực mới còn có thể tạo ra những cơ hội lựa
chọn mới và đo vậy, càng có ý nghĩa đối với phát triển con người.
12
1.1.2 M ột số đặc điểm chính của quá trình p hát triển con người
Phát triển con người là một quá trình bao hàm một số đặc điểm quan trọng
như là các hệ quả tất yếu. Cũng có thể coi đây là các
yếu tố cấu th ành vốn có
của quá trình phát triển con người. Vì vậy, không chỉ trở thành các đặc điểm
nhận diện, các đặc điểm này còn có chức năng dẫn dắt, ràng buộc các quá trình
tăng trưởng theo hướng phát triển vì con người [14-16,03].
Trước hết,
phát triển con người không phải chỉ đơn thuần là tăng trưởng
kinh tế hay gia tãng của cải vật chất. Mục tiêu của phát triển được nhấn mạnh là
vì con người, vì việc cải thiện chất lượng sống của con người một cách bền vững.
Tăng trưởng kinh tế là một điều kiện cần, là một phương tiện tối quan trọng của

phát triển, việc hình thành các thể chế thích hợp cho phép và khuyến khích sự
tham gia của mọi người dân có ý nghĩa quan trọng. Trong số các thể chế xã hội
tạo môi trường cho các cá nhân chủ động hoạt động, cơ chế thị trường thể hiện là
một thể chế phù hợp. v ề nguyên tắc, cơ chế thị trường dựa trên sự tự đo lựa chọn
các cơ hội kinh doanh, tiêu dùng và giao dịch tự nguyện của các cá nhân nhằm
tối đa hoá lợi ích của mình. Chính sự tự do này, trên cơ sở cạnh tranh, làm cho
thị trưòng trở thành một cơ chế kinh tế hiệu quả. Trước tác động của quá trình tự
do hóa thương mại, những tiến bộ của khoa học công nghệ, toàn cầu hóa đã tạo
ra những thể chế mới, một nền kinh tế thị trường toàn cầu, một thế giới phảng.
Với những nguyên tắc mới, giá trị mới, công cụ mới, thể chế thị trường toàn cầu
này đã đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng năng lực hay quyền lựa chọn
của người dân. Tuy nhiên, thị trường nói chung khống phải là một cơ chế hoàn
hảo. Thị trường có thể "thất bại" do thông tin không hoàn hảo, tình trạng độc
quyền kinh doanh. Điều đó có thể tác động tiêu cực đến sự phát triển con người.
Do vậy, can thiệp, điều chỉnh hay tìm kiếm một thể chế mới phù hợp hơn là một
đòi hỏi vì nhu cầu phát triển con người.
T h ứ ba
, phát triển con người phải được
tiếp cận trên quan điểm toàn thể.
Cách tiếp cận này đề cập đến sự mở rộng không gian lựa chọn của con người trên
tất cả các khía cạnh của đòfi sống xã hội bao gồm các lĩnh vực kinh tế, chính trị,
văn hoá, giáo dục, y tế, môi trường trong mối liên hệ và tác động qua lại, chứ
không chỉ giới hạn trong phạm vi kinh tế. Khi người dân được hưởng thụ các
dịch vụ giáo dục và y tế tốt hơn, tham gia tích cực hơn vào các quá trình chính
trị, thì ngoài giá trị tự thân, người dân còn nâng cao được chính năng lực lựa
chọn của mình góp phần nâng cao mức sống cho bản thân và phúc lợi chung cho
cả xã hội và cộng đổng.
Quan niệm phát triển con người còn tính đến chất lượng cuộc sống của tất
cả mọi người một cách
bình đ ẳng

sự khốn khó trong tương lai, không thể bỏ qua những người hiện nay đang bị
khốn khó. “Không hành động để đảm bảo các nãng lực cơ bản cho thế hệ tương
lai có thể coi là điều đáng xấu hổ, còn không hành động để đem các năng lực cơ
bản đó cho những người bị bần cùng trong thế hộ hiện nay có thể coi là vô nhân
15
đạo”. Kết hợp hai mục tiêu này là tư tưởng cơ bản khi tiếp cận phát triển con
người một cách toàn thể[19,08].
1.1.3 M ột số ch ỉ số cơ bản phản ánh trình độ phát triển con người
Phát triển con người là quá trình mở rộng sự lựa chọn của con người nhằm
hướng tới một cuộc sống mà họ coi trọng. Cùng với thời gian, các giá trị được
con người đánh giá cao chắc chắn sẽ thay đổi và mở rộng không ngừng. Để đánh
giá những nỗ lực phát triển này, ngoài các chỉ tiêu thành phần phản ánh các giá
trị trên, một loạt các chỉ số tổng hợp đã được xây đựng mà phổ biến nhất từ
những năm 1990 là Chỉ số phát triển con người. Có thể thấy, việc đo lường các
tiến bộ trong lĩnh vực phát triển con người đã nhận được một sự quan tâm hết sức
đặt biệt. Khồng ngừng hoàn thiện các chỉ số đã có về mặt kỹ thuật, nhiều chỉ số
mới đã ra đời nhằm phản ánh đa chiều và sâu sác hơn những khía cạnh khác
nhau của tiến trình phát triển:
1. C hỉ số phát triển con người (H D I) [16-17,03]
H D I là thước đo tổng hợp vé sự phát triển con người trên ba phương diện
sức khỏe, tri thức và thu nhập:
o Cuộc sống trường tổn và khỏe mạnh được đo bằng tuổi thọ trung
bình từ lúc sinh - (Chỉ số tuổi thọ),
o Kiến thức được đo bằng tỷ lệ người lớn biết chữ (với quyền số 2/3)
và tỷ lệ nhập học của các cấp giáo dục tiểu học, trung học và đại
học (với quyền số 1/3) - (Chỉ số giáo dục).
o Mức sống được đo bằng GDP thực tế đầu người theo sức mua tương
đương tính bằng đôla M ỹ (PPP USD) - (Chỉ số thu nhập)
Quy tắc chung để tính các chỉ số này là sử dụng các giá trị tối thiểu và tối đa
(các giá trị biên) cho từng chỉ số theo công thức:

và phản ánh chân thực hơn tính mục tiêu của nó. Theo thời gian, H DI không chỉ
phản ánh trạng thái và những tiến bộ về phát triển con người, mà còn là một căn
cứ để xác định và lựa chọn các mục tiêu và chính sách phát triển. Tuy nhiên HD I
là một chỉ số còn tương đối giản đơn, không bao quát hết tính phong phú, nhiều
mặt của sự phát triển con người. Nó chỉ phản ánh gián tiếp, do đó chưa đầy đủ và
còn bỏ qua một số khía cạnh có liên quan đến chất lượng sống của con người
như chính trị, văn hoá, mồi trường hay mức độ tham gia của người dân. HD I của
một quốc gia chỉ là một chỉ số trung bình, do đó cũng như GDP, nó có thể che
lấp các quá trình phân phối, tình trạng bất bình đẳng, hay sự khác biệt về phát
triển con người giữa các vùng và các nhóm dân cư. Nó có thể không làm nổi bật
được những thách thức cần được ưu tiên giải quyết của một quốc gia trong tiến
trình phát triển. Các
k h ía cạnh chất lượng
của các yếu tố cấu thành H DI cũng
khó có thể phản ánh đầy đủ: trình độ giáo dục thật ra không chỉ thể hiện bằng tỉ
lệ biết chữ hay số năm đi học mà phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác mà như chất
lượng giáo dục, khả năng và cơ hội lựa chọn của người học, đạc biệt với giáo dục
bậc cao. Nhận xét này cũng có thể áp dụng cho các yếu tố khác của HDI.
2. Chỉ số Nghèo khổ tổng hợp (H P I) [167,08]
ĐAI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TẨM THỐNG TIN THU VIỆN
17
¿ T / % 4 -4 -
Nếu phát triển con người là nhằm mở rộng khả năng lựa chọn của con
người thì nghèo khổ là sự thiếu thốn các cơ hội và sự lựa chọn cơ bản nhất để
phát triển. Sự thiếu thốn này vượt qua ý nghĩa của sự nghèo khổ về thu nhập bởi
nó phản ánh nguyên nhân của nghèo khổ và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lựa
chọn cũng như các hành động khác nhầm cải thiện các cơ hội cho mọi người. V ì
vậy, cải thiện vấn đề nghèo khổ phải tiến hành trên tất cả các khía cạnh chứ
không chỉ dừng lại ở việc cải thiện thu nhập. Trên cơ sở đó, UNDP trong Báo cáo

thước đo nghèo khổ này. Tuy nhiên, HPI cũng có những giới hạn nhất định. HPI
đo lường mức độ nghèo khổ hay thiếu thốn mang tính nhân văn của một nhóm
người yếu thế nhất trong xã hội, vì vậy, không thể gắn mức nghèo khổ của xã hội
nói chung với sự bần cùng của một nhóm người yếu thế này được.
3. Chỉ số phát triển Giới (GDI)[18,03]
Liên quan đến khía cạnh công bằng trong phát triển, sự bất bình đẳng giữa
phụ nữ và nam giới là điều rất đáng được quan tâm. Tại hầu hết các quốc gia,
phụ nữ thường bị thiệt thòi so với nam giới trong việc tiếp cận các cơ hội và nâng
cao năng lực phát triển. Họ thường có ít quyền lực hom, được hưởng thụ ít hơn
các lợi ích phát triển so với những cống hiến của họ. Nhiều hoạt động lao động
của phụ nữ có vai trò to lớn trong phát triển con người, trong quá trình tái sản
xuất xã hội như việc nuôi dạy con cái, chăm sóc người già và những người ốm
đau, làm các công việc nội trợ trong gia đình. Tuy nhiên các hoạt động này
thường không được đánh giá, đo lường đúng đắn và không được trả cồng. V ì vậy,
thúc đẩy bình đẳng đòi hỏi trước hết phải quan tâm đến sự bình đẳng về cơ hội
phát triển giữa phụ nữ và nam giới. Để đánh giá thành tựu về vấn đề này, UNDP
năm 1995 đã đưa ra
C h ỉ số p h á t triển giới tính (G en d e r Developm ent
-
G D I).
G D I cũng phản ánh các yếu tố cơ bản của phát triển con người như sức khoẻ,
giáo dục, thu nhập, nhưng gắn chúng với sự bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam
giới. Nói khác đi, G D I chính là H D I bị chiết khấu theo mức độ bất bình đẳng về
giới tính. Mức độ bất bình đẳng giới tính càng cao thì mức chênh lệch giữa GDI
và H D I càng lớn.
Chỉ số G D I điều chỉnh thành tựu H D I để phản ánh sự bất bình đẳng giới
theo các thước đo sau:
19
o Một cuộc sống trường thọ và khỏe mạnh được đo bằng tuổi thọ
trung bình từ lúc sinh (tính riêng cho nam và nữ).

(tuyệt đối và tương đối) của các chỉ tiêu tổng hợp là Tổng sản phẩm quốc dân
(GNP), Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và Thu nhập bình quân đầu người.
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là giá trị tổng sản phẩm hàng hóa và dịch
vụ cuối cùng được sản xuất ra trên một phạm vi lãnh thổ quốc gia trong một thời
gian nhất định (thường là một năm).
Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là giá trị tổng sản phẩm hàng hóa dịch vụ
cuối cùng được tạo ra bởi công dân của một nước trong một thời gian nhất định
(thường là một năm).
Thu nhập bình quân đầu người (PCI) là giá trị tổng sản phẩm hàng hóa và
dịch vụ tính bình quân theo đầu người của một quốc gia trong một thời gian nhất
định. Chỉ tiêu này cho thấy bản chất mức sống của người dân vì vậy là chỉ tiêu
được sử dụng bổ sung hữu hiệu cho hai chỉ tiêu tổng hợp GDP và GNP ở trên.
Tãng trưởng kinh tế phản ánh thành tựu mà nền kinh tế đạt được trong
việc khai thác các nhân tố sản xuất, các nguồn lực trong nước và nước ngoài. Vì
vậy, tăng trưởng kinh tế trước hết phụ thuộc sâu sắc vào các nhân tố đầu vào như
lao động, đất đai, vốn hay công nghệ sản xuất. Bên cạnh đó, tăng trưởng kinh tế
còn phụ thuộc và chịu tác động mạnh mẽ của môi trường tăng trưởng trong đó
các yếu chính trị hay văn hóa có một vị trí quyết định.
1.2.2 Các xu thế khác nhau trong tương quan giữa tăng trưởng kinh tẽ và
phát triển con người
Theo quan niệm phát triển con người, tăng trưởng kinh tế là phương tiện
cơ bản nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống. Với cách tiếp cận như vậy thì
đương nhiên tăng trưởng kinh tế sẽ là biến số quyết định tiến trình phát triển con
người(?). Giả thuyết này liệu có nhận được sự hậu thuẫn từ thực tiễn (?).
Quá trình khảo sát tình hình tăng trưởng kinh tế và phát triển con người
của 177 nước theo số liệu báo cáo của UNDP năm 2007 đã được thực hiện. Bằng
mô hình hồi quy tương quan đơn trong đó chỉ số H D I là biến phụ thuộc và thu
nhập bình quân đầu người (USD PPP) là biến độc lập, hàm xu thế phi tuyến tính
21
đã được thiết lập với hệ số tương quan đủ chặt chẽ (xem phụ lục 6) cho thấy, ở

o Thứ tư, không có tăng trưởng hay tăng trưởng thấp, (vì vậy) thành
tựu phát triển con người thấp.
Trong các xu thế này, hai xu thế sau dường như là hợp lý, là tất yếu vì đó
là những quan hệ mang tính hệ quả - một sự cân xứng theo như đồ thị xu hướng
đã chỉ ra. Trong trường hợp không có tăng trưởng hay tăng trưởng thấp, rõ ràng
khi này xã hội không có gì hay không có gì nhiều để phân phối hay phân phối
lại. Ngược lại, một nền kinh tế tăng trưởng cao là tiền đề vật chất quan trọng để
nâng cao chất lượng cuộc sống người dân nhất là xét trong đài hạn. Điều này thật
dễ chấp nhận đi liền với một sự tò mò về cách thức để tiền đề vật chất ấy trở
thành các cơ hội hiện thực đối với người dân. Sự tương phản đáng lưu ý giữa tâng
trưởng và phát triển con người nằm ở xu thế thứ nhất và thứ hai. Liệu đây có phải
là các xu thế hiện thực và quả vậy thì điều gì chi phối sự tương phản này (?). Sự
tổn tại của hai xu hướng này nếu được minh chứng sẽ đưa ra những gợi mở quan
trọng cho các nhà nhiên cứu cách thức xây dựng và nhận diện mối tương quan
giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con người.
Bắt đầu từ những suy luận đơn giản nhất, nếu các xu thế trái ngược như
vậy là hiện hữu, thì có thể nhận định, tăng trưởng kinh tế và phát triển con người
không phải bao giờ cũng ăn khớp với nhau (?).
Sự thực, số liệu thực tế về tăng trưởng kinh tế và phát triển con người
thông qua các chỉ số cơ bản trong nhiều năm qua đã minh chứng cho tính sát
thực của suy luận trên. Theo Báo cáo Phát triển con người của UNDP năm 1993,
thế giới có 50 nước có thứ tự xếp hạng thu nhập bình quân đầu người cao hơn
23
h o ặ c thấp hơn thứ tự xếp hạng theo chỉ số H D I hơn 20 bậc. Mặc dù giảm theo
thời gian, năm 2001 thế giới vẫn ghi nhận 29 quốc gia có mức chênh lệch tương
tự. Sau đó 6 năm - năm 2007, con số này là 24 quốc gia (xem bảng 1).
B ả n g i . S ố nước có ch ê n h lệch thứ h ạ n g theo m ứ c thu n h ập b ìn h q u â n đ ầ u người v à
th ứ h ạ n g H D I từ 2 0 b ậ c trở lẻn tr o n g k h o ả n g 1 5 n ă m q u a
19 9 3 19 9 7 2 0 0 1 2 0 0 7
S ố nước có chênh lệch thu nhập bỉnh quân đầu người

B ả n g 2 . M ộ t sô nướ c đ iển hìn h v ề ch ên h lệch thứ h ạ n g thu n h ậ p bìn h q u ản đ ầ u người
v à th ứ h ạ n g H Đ I th eo b áo c á o n ă m 2 0 0 7
24
X ế p h ạ n g
G D P /n g ư ờ i
(1)
X ế p h ạ n g
H D I
(2)
C h ê n h
lệch
(l)-(2)
N h ó m nư ớc p h á t triể n co n người ca o
o Cu ba
94 51 43
o A lbatti
98 68 30
N h ó m nước p h á t triể n c o n người tr u n g b ình
o U zebekistan
138 113 25
o T unisia
68
91
-23
o South A frica
56 121 -65
o M ya nm a
167 132 35
N h óm nướ c p h á t triể n co n người th ấ p
o Guinea 130 160


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status