Bức tranh kinh tế hộ nông dân hiên
nay và một số vấn đề đặt ra
Một động thái tích cực rất đáng được lưu ý của kinh tế hộ nông dân là sự xuất hiện ngày càng nhiều các hộ bứt phá khỏi tình trạng tự cung, tự cấp vươn lên sản xuất hàng hóa,
trong đó phương thức trang trại gia đình phát triển mạnh và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản.
1 - Đổi mới vị trí, vai trò của kinh tế hộ
Trong thời kỳ chiến tranh, hộ gia đình Việt Nam vừa cung cấp nguồn nhân lực, vừa là nguồn của
cải vật chất (chưa nói tới tinh thần) cho cuộc chiến, đồng thời lại là nơi sản xuất vật chất để bảo
đảm cuộc sống không những cho gia đình (chỉ với 5% quỹ đất canh tác được chia cho các hộ gia
đình làm kinh tế vườn theo lối tự túc, tự cấp), mà còn đóng vai trò là hậu phương lớn miền Bắc cho
tiền tuyến lớn miền Nam (trên cơ sở phát triển hợp tác xã theo kiểu cũ).
Vai trò của kinh tế hộ có nhiều thay đổi cả về phương thức quản lý lẫn lao động sản xuất, nhất là
kể từ khi phong trào hợp tác xã mất dần động lực phát triển. Mốc quan trọng của sự thay đổi đó là
sự ra đời của Chỉ thị 100, ngày 31-1-1981 của Ban Bí thư về cải tiến công tác khoán, mở rộng
khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã. Tiếp theo đó, Nghị quyết
10, ngày 5-4-1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý nông nghiệp đã tạo cơ sở quan trọng để
kinh tế hộ nông dân trở thành đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp. Ngoài ra, đối với khu vực
nông, lâm trường, nhờ có Nghị định số 12/NĐ-CP, ngày 3-2-1993 về sắp xếp tổ chức và đổi mới cơ
chế quản lý các doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước, các nông, lâm trường đã từng bước tách
chức năng quản lý nhà nước đối với quản lý sản xuất, kinh doanh, các gia đình nông, lâm trường
viên cũng được nhận đất khoán và hoạt động dưới hình thức kinh tế hộ. Tuy những đặc điểm
truyền thống của kinh tế hộ vẫn không thay đổi, nhưng việc được giao quyền sử dụng đất lâu dài
đã làm cho hộ gia đình trở thành đơn vị sản xuất, kinh doanh tự chủ, tự quản. Động lực mới cho sự
phát triển kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn đã xuất hiện.
2 - Những kết quả tích cực bước đầu
Chủ trương, chính sách về giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho kinh tế hộ (đất nông nghiệp
20 năm, đất lâm nghiệp 50 năm) đã nhanh chóng đi vào cuộc sống của hàng triệu hộ nông dân.
Và mặc dầu phong trào hợp tác xã không còn phát huy tính tích cực như xưa, nhưng diện mạo của
kinh tế hộ nông dân Việt Nam đã thay đổi một cách cơ bản, nhất là ngày càng có nhiều đóng góp
cho việc giải phóng sức sản xuất, nâng cao sản lượng nông nghiệp, mở mang ngành nghề mới,
nâng cao thu nhập. Theo số liệu điều tra, trên 74,5% số hộ đã có từ 2 - 4 loại hình hoạt động sản
xuất, kinh doanh để tạo thu nhập
công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp. Đây là một trong số các nguyên nhân chính đang làm
tăng thêm khoảng cách cả thu nhập lẫn mức chi tiêu giữa nông thôn và thành thị Thêm vào đó,
tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn tuy đã giảm mạnh, tới hơn một nửa trong khoảng thời gian 10
năm, năm 1993 - 2004, từ 66,4% xuống còn 25%. Hai năm gần đây, tỷ lệ hộ nghèo của cả nước
đã giảm từ 15,47% năm 2006 xuống còn 14,75% năm 2007, vượt kế hoạch đề ra (16%). Nhưng
trong nông thôn, cá biệt một số tỉnh miền núi, tại những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân
tộc ít người, số hộ nghèo vẫn còn chiếm tỷ trọng cao: ở Lai Châu hiện nay là 55,32%; Điện Biên
40,77%; Hà Giang 39,44% và Bắc Kạn 37,8%. Dù khu vực nông thôn chiếm tới 90% số hộ thuộc
diện nghèo của cả nước, nhưng tốc độ giảm nghèo ở nông thôn vẫn chậm hơn thành thị tới 20%.
Tính bền vững trong các trường hợp thoát đói nghèo trong nông nghiệp, nông thôn không chắc
chắn, do thiên tai, dịch bệnh, ốm đau Điểm xuất phát thấp, tốc độ phát triển chậm, rủi ro lớn,
thì khoảng cách khó có thể rút ngắn nếu không có những giải pháp mang tính đột phá.
Nếu chia toàn bộ dân số ra 5 nhóm bằng nhau về số người và theo các mức thu nhập từ thấp đến
cao để so sánh chênh lệch thu nhập giữa nhóm 20% dân số giàu nhất với nhóm 20% dân số có
mức thu nhập thấp nhất, thì nếu năm 1994, chênh lệch giữa nhóm giàu và nghèo là 6,50 lần, đến
năm 2006 đã tăng lên 8,34 lần. Nhưng nếu nhóm dân số càng nhỏ lại, 10%, hay 5%, thì sự chênh
lệch thu nhập giữa nhóm giàu và nhóm nghèo lại càng tăng lên đáng kinh ngạc. Theo một cách
suy luận khác, chênh lệch giàu nghèo là rất lớn khi đang tồn tại nghịch lý ở Việt Nam, rằng thu
nhập GDP đầu người còn rất thấp, nhưng giá nhà, đất lại cao, ngang với cả những nước có thu
nhập GDP cao gấp hàng chục lần.
- Hộ nông dân
thường rất dễ
bị tổn thương
trước sự chi
phối khắc
nghiệt của quy
luật thị trường. Cơ hội kiếm tiền đến với người có vốn, có điều kiện về thông tin, và kể cả điểm
xuất phát cao, sẽ nhiều hơn rất đáng kể so với các đối tượng khác, nhất là người nghèo. Về
nguyên lý, thị trường dường như mang lại cơ hội cho tất cả mọi người, nhưng không phải mọi
người đều có đủ khả năng như nhau để tận dụng cơ hội đó. Người nắm thông tin, người nhiều vốn,
đột xuất khác, chỉ 6% mong đợi lợi nhuận hay lãi suất.
- Trong kinh tế thị trường, việc tìm ra cây gì, con gì để cho sản xuất hàng hóa lớn đã khó, thì việc
tiếp cận đầu vào và đầu ra cho sản xuất nông nghiệp mấy năm gần đây cũng đang khó khăn
không kém. Đã thế, thị trường đầu vào của sản xuất nông nghiệp biến động rất bất lợi cho các hộ
nông dân, giá lên cao liên tục, giao thông khó khăn, vốn ít nên khó khăn trong việc mua giá thấp
với khối lượng lớn (mua buôn), mua lẻ thì giá lại rất cao, thiếu những nhà cung cấp tin cậy và ổn
định, và còn thiếu cả thông tin để có cơ hội lựa chọn phương án tối ưu.
- Khó khăn trong khâu sơ chế và chế biến sau thu hoạch cũng là một cản trở lớn đối với kinh tế hộ
nông dân. Phần lớn các hộ nông dân đều thiếu kỹ thuật và khả năng sơ chế nông sản sau thu
hoạch, thiếu thông tin thị trường, chi phí giao dịch cao Nên phần lớn nông sản chưa nâng được
thêm giá trị kinh tế đáng kể trong các khâu tiếp theo của quy trình sản xuất đến tay người tiêu
dùng, kể cả mẫu mã, tiếp thị và tiêu thụ, xuất khẩu.
- Nhiều hộ nông dân đang rất cần đến những sự trợ giúp có tính chất cộng đồng, hiệp hội ngành
hàng hay hợp tác trong các khâu, nhất là đầu vào và đầu ra của sản xuất, nhưng các hợp tác xã
(HTX) hiện nay trong nông nghiệp, nông thôn chưa đáp ứng đầy đủ, do chưa hoạt động thật hiệu
quả và thiết thực. Theo số liệu điều tra của Trung tâm Phát triển nông thôn (RUDEC) năm 2007,
thì HTX chỉ đáp ứng 6,9% nhu cầu phân bón và 13,8% nhu cầu giống, trong khi đó các đại lý tư
nhân cung cấp tới 59,2% phân bón và 43,1% giống (xem bảng).
Thực trạng chung của các HTX là, mức vốn hoạt động còn nhỏ, đặc biệt là các HTX trong nông
nghiệp, công nghiệp, xây dựng, thương mại. Tỷ lệ vốn cố định ở các HTX rất cao, từ trên 70% đến
95%. Tình trạng này làm cho HTX thường không đủ vốn lưu động để hoạt động, do đó cũng không
phát huy được vốn cố định, trong khi vay ngân hàng thì gặp nhiều khó khăn về tài sản thế chấp.
Ngược lại, trong lĩnh vực tín dụng thì tỷ trọng vốn cố định rất thấp (chưa đạt 5%), dẫn đến tình
trạng chung ở các quỹ tín dụng là cơ sở làm việc rất nghèo nàn, không bảo đảm an toàn cho việc
mở rộng hoạt động huy động và cho vay. Tỷ lệ HTX có quan hệ tín dụng với ngân hàng và các tổ
chức tín dụng khác chỉ bằng 11,3% số HTX được thống kê, điều đó cho thấy các HTX chưa phát
triển các quan hệ tín dụng với ngân hàng để có thêm vốn phát triển các dịch vụ phục vụ nhu cầu
sản xuất, kinh doanh của xã viên.
- Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt đối với quá trình sản xuất nông nghiệp. Nhưng khó khăn lớn
hiện nay là diện tích đất nông nghiệp đang mất vào các khu công nghiệp, khu đô thị và giao thông
hoạch định chính sách ở nước ta hiện
nay là làm sao sớm "thoát" khỏi
nông nghiệp. Đây là cách hiểu rất
thiển cận, thiếu tính bền vững, đối
với một nước phải bảo đảm có nguồn
lương thực ổn định cho gần 90 triệu
dân trong một vài năm tới như nước
ta.
kiếm thị trường "cần những cái mình có", như chè Nghệ An vào thị trường Trung Đông, gạo, hạt
tiêu, cà phê xuất khẩu ra thế giới.
Hơn nữa, cũng phải tính toán đến cả tình huống mới, khi đang có nhiều cảnh báo trên thế giới
(3)
đã
nói về một cuộc khủng hoảng mới về lương thực đang xuất hiện và sẽ trở nên nghiêm trọng hơn
bất kỳ cuộc khủng hoảng lương thực trước đây thế giới từng chứng kiến. Theo ông Đô-nan Cốc
(Donald Coxe), thách thức lớn nhất đối với thế giới không phải là 100 USD/thùng dầu, mà thế giới
phải có đủ lương thực cho các tầng lớp trung lưu mới và vì vậy đòi hỏi phải tăng sản lượng lương
thực. Chỉ riêng giá lúa mì đã tăng 92% trong năm 2007, và ngày 3-1-2008, giá đóng cửa giao dịch
là 9,45 USD cho 8 ga-lông tại sàn buôn bán Chi-ca-gô. Theo nhiều dự báo, trong những tháng tới
của năm 2008, giá lương thực vẫn tiếp tục tăng.
Những nước xuất khẩu lương thực trước đây như Nga và Ấn Độ hiện nay đang ngừng xuất khẩu
lương thực. Khu vực Trung - Tây của nước Mỹ cung cấp 54% sản lượng ngô của thế giới, nhưng
gần đây số lượng lương thực được tích trữ của Mỹ cho những vụ tiếp theo đã tụt xuống mức thấp
kỷ lục. Do vậy, những nước dư thừa lương thực sẽ có một lợi thế lớn.
Nếu không đánh giá đúng lợi thế này, không khéo chúng ta đang đánh mất những lợi thế đã có để
chạy theo những "lợi thế ảo" mà thế giới đang mạnh hơn ta rất nhiều lần. Trong khi đó, muốn làm
cho nền nông nghiệp nước nhà phát triển và hội nhập thành công trên đà của những thành tựu đã
đạt được trong hơn 20 năm đổi mới đã qua, không có cách nào khác là phải có thêm những chính
sách có tính chất đột phá để tạo động lực mới, thật sự mạnh mẽ cho kinh tế hộ phát triển. Đất
nước đang cần có nhiều hộ nông dân làm ăn mang tính chuyên nghiệp hơn, bởi vậy kinh tế hộ
*
Người nghèo thường thiếu nhiều nguồn lực, họ bị rơi vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói và thiếu
nguồn lực. Người nghèo có khả năng tiếp tục nghèo vì họ không thể đầu tư vào nguồn nhân lực của họ,
đồng thời nguồn vốn nhân lực thấp lại cản trở họ thoát khỏi nghèo đói. Người nghèo ở khu vực ngoại
thành thành phố Hồ Chí Minh đa số là sản xuất nông nghiệp, do thiếu vốn nên họ khó có khả năng
hướng tới sản xuất các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao. Thông thường họ lựa chọn phương
án sản xuất tự cung, tự cấp, họ vẫn giữ các phương thức sản xuất truyền thống với giá trị kinh tế thấp,
thiếu cơ hội thực hiện các phương án sản xuất mang lợi nhuận cao. Do vẫn theo phương án sản xuất
truyền thống nên giá trị sản phẩm và năng suất các loại cây trồng, vật nuôi còn thấp, thiếu tính cạnh
tranh trên thị trường và vì vậy đã đưa họ vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo khó. Thành phố Hồ Chí
Minh là một trung tâm kinh tế của khu vực phía Nam và của cả nước, đây là địa phương có tốc độ đô thị
hóa rất nhanh, không gian đô thị ngày càng được mở rộng đã làm thu hẹp diện tích đất canh tác nông
nghiệp.
Xu hướng này tất yếu dẫn tới một bộ phận không nhỏ nông dân sống ở các huyện ngoại thành phải
chuyển đổi nghề nghiệp, nhưng trên thực tế không phải nông dân nào cũng biết cách thay đổi “phương
thức sản xuất” của mình, tức là phải tăng năng suất trên một đơn vị diện tích đất canh tác nhờ áp dụng
khoa học kỹ thuật nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, Do đó,
một bộ phận nông dân từ lâu đã gắn với sản xuất nông nghiệp bị đẩy vào cảnh khốn khổ vì thiếu nguồn
lực để sản xuất. Một số người khác sau khi nhận được số tiền đền bù từ mảnh ruộng của mình trong các
dự án quy hoạch không biết sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả dẫn đến hệ quả là:
Thứ nhất, chỉ thoát được cảnh đói nghèo trong một thời gian ngắn. Khi đã sử dụng hết số tiền mà họ có
được do bán đất và đền bù, giải tỏa thì họ lại tái nghèo.
Thứ hai, khi diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp một số lao động trong nông nghiệp không tìm được
việc làm mới, thất nghiệp gia tăng và vì vậy họ rất khó khăn trong việc tự mình thoát khỏi đói nghèo.
Thứ ba, khi giá đất tăng lên do tác động của đô thị hóa, người nông dân bán đất ồ ạt, nhiều ngôi nhà
mới được xây dựng nhưng đó là những ngôi nhà của những người ở nơi khác đến, có nhiều tiền còn
nông dân thì bị đẩy vào sâu hơn và đất canh tác cũng thu hẹp lại, vì vậy người nông dân khó có cơ hội
để duy trì hoạt động sản xuất nông nghiệp của mình nếu như họ không có kế họach sử dụng đồng vốn
kiếm được từ việc bán đất một cách có hiệu quả và cuối cùng cảnh đói nghèo vẫn tiếp tục ở lại với họ.
Bên cạnh đó, đa số người nghèo chưa có nhiều cơ hội tiếp cận với các dịch vụ sản xuất nông nghiệp như
Trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động phổ thông ở khu vực ngoại thành chiếm 92,9% trong
tổng số lao động, đối với khu vực nội thành thì tỷ lệ này là 81,3%. Ở ngoại thành chỉ có 3,1% lao động
có trình độ đại học, trong khi đó ở nội thành người có trình độ đại học và trên đại học chiếm tới 13,2%,
điều kiện học tập khó khăn là trở ngại lớn đối với người nghèo.
Trình độ học vấn thấp làm hạn chế khả năng kiếm việc làm trong các khu vực khác, trong các ngành phi
nông nghiệp, những công việc mang lại thu nhập cao và ổn định. Các khu công nghiệp, khu chế xuất và
khu đô thị mới ngày càng phát triển ở khu vực ngoại thành là cơ hội cho người dân sống nơi đây nhưng
đồng thời đây cũng là thách thức lớn đối với người nghèo, bởi lẽ do trình độ học vấn thấp họ khó có thể
tìm được việc làm tốt hơn trong các khu công nghiệp, khu chế xuất. Nếu tìm được chỗ làm cũng chỉ là
lao động phổ thông. Đây là thực tế không chỉ có ở khu vực ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh mà là
một thực trạng phổ biến trong cả nước.
3. Nguyên nhân về nhân khẩu học
Quy mô hộ gia đình là “mẫu số” quan trọng có ảnh hưởng đến mức thu nhập bình quân của các thành
viên trong hộ. Đông con vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của nghèo đói. Tỷ lệ sinh con trong các hộ
gia đình nghèo và khu vực nông thôn thường là rất cao. Đông con là một trong những đặc trưng nổi bậc
của các hộ gia đình nghèo. Tỷ lệ sinh của khu vực ngoại thành năm 2000 là 19,0
0
/
00
trong khi đó ở các
quận nội thành thì tỷ lệ này là 16,8
0
/
00
. Năm 2002 tỷ lệ này tương ứng ở ngoại thành thành là 17,2
0
/
00
và
nội thành là 16,3
nhiên người nghèo ở khu vực này khả năng tiếp cận được những dịch vụ, sản phẩm, thị trường, cũng
khó khăn hơn, khả năng thoát khỏi cảnh nghèo đói của họ trở nên phức tạp hơn. Do điều kiện tự nhiên
không thuận lợi như ở nội thành, việc đào tạo nguồn nhân lực hay quá trình thoát khỏi cảnh nghèo khổ
từ việc nâng cao nguồn nhân lực cũng khó khăn, mọi chi phí đều cao hơn so với khu vực thành thị, hàng
hóa của họ sản xuất ra kém sức cạnh tranh do quá trình vận chuyển. Nguy cơ dễ bị tổn thương do ảnh
hưởng của thiên tai và các rủi ro khác, các hộ gia đình nghèo rất dễ bị tổn thương bởi những khó khăn
hàng ngày và những biến động bất thường xảy ra. Đa số người nghèo của khu vực này sống bằng nghề
nông nên dễ bị ảnh hưởng bởi thiên tai, điều kiện thời tiết không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.
Bên cạnh đó, khả năng đối phó và khắc phục rủi ro này của người nghèo rất kém do nguồn thu nhập
thấp, bấp bênh và khả năng tích lũy kém nên họ khó có khả năng chống chọi với những biến cố xảy ra
trong cuộc sống (mất mùa, thiên tai, mất nguồn lao động, mất sức khỏe, ). Với năng lực kinh tế mong
manh của các hộ gia đình nghèo trong khu vực nông thôn, những đột biến này sẽ tạo ra những bất ổn
trong cuộc sống của họ và tất nhiên người nghèo thì càng nghèo hơn.
Ngoài ra, người nghèo chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, năng suất thấp do không có trình độ để áp dụng
khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất. Khả năng nâng cao năng suất là rất khó khăn trong khi do áp lực
của đô thị hóa ngày càng mạnh, diện tích đất canh tác ngày càng thu hẹp. Khu vực ngoại thành thành
phố Hồ Chí Minh không chỉ giải quyết đối với những người nghèo tại địa phương mà còn phải hứng
chịu dòng người nhập cư ở nơi khác đến vốn dĩ là người nghèo không có việc làm ổn định. Do người
nghèo ở khu vực này chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, trong khi giá nông sản có xu hướng không tăng
hoặc tăng chậm hơn so với giá các sản phẩm công nghiệp, nên cánh kéo về giá cả sản phẩm nông
nghiệp và công nghiệp ngày càng doãn ra đã tác động tiêu cực đến mức sống của người nghèo.
5. Những tác động của chính sách vĩ mô đến người nghèo
Thành phố Hồ Chí Minh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định trong thời gian qua và đây là một
trong những nhân tố có ảnh hưởng tích cực đến chương trình xóa đói giảm nghèo của thành phố, tuy
nhiên do quá trình phát triển và mở cửa nền kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh cũng đã tác động tiêu
cực đến người nghèo. Cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, tỷ lệ đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn còn thấp.
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản ngành nông lâm thủy sản của thành phố năm 2003 chỉ chiếm 0,64% trong
tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn và chỉ chiếm 1% trong tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản
thuộc ngân sách địa phương. Chưa chú ý đến các ngành công nghiệp chế biến có quy mô nhỏ ở khu vực
nông thôn, thu hút nhiều lao động. Tăng trưởng kinh tế giúp xóa đói giảm nghèo trên diện rộng, song
sử dụng. Do vậy, cải thiện điều kiện sức khỏe cho người nghèo là một trong những yếu tố đảm bảo cho
họ thoát nghèo.
Để thực hiện được mục tiêu nâng cao mức sống của người dân nói chung cũng như xóa đói giảm nghèo,
tiếp tục phát huy ba vấn đề được đánh giá là chìa khóa thành công 10trong chương trình xóa đói giảm
nghèo của thành phố là: trợ vốn cho xóa đói giảm nghèo; có phương hướng trợ vốn và các chính sách
ưu đãi cho người nghèo. Đồng thời khắc phục những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo nêu trên, chính
quyền thành phố Hồ Chí Minh cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp cơ bản sau đây:
Thứ nhất, cần nhận thức quá trình đô thị hóa có tính hai mặt, do vậy trong quá trình quản lý đô thị cần
phải cân nhắc một cách thận trọng mang tầm chiến lược, đảm bảo có quy hoạch, có sự kiểm soát chặt
chẽ, có hệ thống chứ không phải tự phát như hiện nay. Mặt khác, cần thấy rằng quá trình đô thị hóa là
một tất yếu khách quan, phù hợp với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn,
đây là yếu tố thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tuy nhiên, để khắc phục mặt tiêu cực của
quá trình đô thị hóa, chính quyền thành phố cần phải có quy hoạch cụ thể khi thực hiện các dự án sử
dụng đất nông nghiệp để từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Có cơ cấu đầu tư hợp
lý cho phát triển nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt là cho đối tượng người nghèo để họ tự nâng cao
năng lực sản xuất của mình, đây là cơ sở để họ tự thoát khỏi đói nghèo.
Thứ hai, tăng cường đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn, đặc biệt là con em của những gia đình sản
xuất nông nghiệp nằm trong trong khu vực quy hoạch, giải tỏa để thực hiện dự án nào đó. Nếu làm
không tốt việc đào tạo nghề và tạo việc làm cho đối tượng này thì đây chính là nguy cơ tìm ẩn dẫn đến
đói nghèo, bởi vì họ không có đất để sản xuất nông nghiệp, không có việc làm ổn định và thất nghiệp
dẫn đến thu nhập thấp, đây chính là bạn đồng hành của sự đói nghèo. Làm tốt khâu dạy nghề cho thanh
niên nông thôn sẽ giảm áp lực dân số tăng nhanh ở khu vực nội thành, người nghèo không bỏ nông thôn
ra thành thị để kiếm việc làm. Đây là giải pháp có tính quyết định giúp cho người nghèo tự thoát khỏi
vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói.
Thứ ba, tuyên truyền giáo dục cho người nghèo tác dụng của vấn đề kế hóa gia đình, đặc biệt là phụ nữ
nghèo, khuyến khích bằng hiện vật cho những gia đình sinh ít con, giáo dục cho họ ý thức tự vươn lên
chính mình, có ý chí làm giàu, vì đây có thể nói là bản chất cố hữu của người nông dân. Nhà nước có
chế độ chính sách, chương trình cụ thể để chăm sóc sức khỏe cho người nghèo.
Thứ tư, cung cấp thông tin về thị trường nông sản cho người dân, hỗ trợ kỹ thuật nông nghiệp để giúp
những nông dân nghèo nâng cao giá trị sản lượng trên một đơn vị diện tích đất canh tác. Đầu tư cơ sở hạ
Bình quân hộ nghèo chỉ có 2771m
2
đất nông nghiệp. Khoảng 61% hộ nghèo thiếu
đất, ở khu vực có hợp tác xã thì có nhiều hộ không có khả năng thanh toán nợ cho hợp
tác xã nên địa phương rút bớt ruộng đất đã giao cho họ, càng thiếu ruộng. Ngược lại,
một số gia đình không có đủ khả năng thâm canh nên không dám nhận đủ ruộng được
giao.
5. Đông nhân khẩu, ít người làm:
Bình quân hộ nghèo có 5,8 nhân khẩu, chỉ có 2,4 lao động. Ít người làm, đông
người ăn, dẫn đến thu nhập thấp và đời sống gặp nhiều khó khăn.
6. Trình độ học vấn ít:
Không có cơ hội học hỏi thêm kiến thức và khó tiếp cận thông tin, tỷ lệ đến trường
thấp vì gặp kó khăn về tài chính và chi phí cơ hội con em đến trường cao, tỷ lệ nghèo đói
của những người chưa hoàn thành chương trình tiểu học là 40%.
7. Hạ tầng nông thôn còn hạn chế
Người nghèo chịu thiệt thòi do sống ở những vùng xa xôi hẻo lánh, giao thông
không thuận tiện, vận chuyển sản phẩm đến chợ chi phí cao, bán tại đồng thì bị tư
thương ép giá, giá nhu yếu phẩm lại cao, điện, đường, trường, trạm thưa và thiếu, thủy
lợi, tưới tiêu thấp kém.
‘
Xoá đói giảm nghèo - Phương pháp tiếp cận mới (16/03/2009)
Trong những năm qua, nền kinh tế - xã hội của nước ta đạt được những thành tựu quan trọng, GDP
hằng năm tăng cao từ 7,5% - 8,5%, tuy nhiên ta vẫn là một nước nghèo. Công cuộc xóa đói, giảm nghèo
là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam,
tuy đã đạt được một số kết quả song vẫn còn những thách thức, tồn tại lớn. Bên cạnh đó các phương
pháp xoá đói, giảm nghèo hiện nay đã bộc lộ tính không phù hợp và kém hiệu quả. Để thành công trong
công cuộc xoá đói giảm nghèo phải có phương pháp tiếp cận mới. Vậy, phương pháp xoá đói giảm
nghèo hiện nay là gì? Tại sao cần có cách tiếp cận mới cho xoá đói giảm nghèo?
Định nghĩa về nghèo đói
Nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân, nghèo không chỉ đơn giản là mức
và cách xoá đói giảm nghèo hiện nay như thế nào?
Quan điểm về xoá đói giảm nghèo
Xoá đói giảm nghèo phải dựa trên cơ sở tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả và bền vững, đồng thời
chủ động tạo các nguồn lực cho các hoạt động trợ giúp người nghèo đói.
Quan điểm này dựa trên lô-gic biện chứng là muốn giúp đỡ, hỗ trợ có hiệu quả người nghèo đói thì
Nhà nước phải có đủ nguồn lực vật chất trong tay, bởi vì chính bản thân nhà nước là chủ thể có đầy đủ
các khả năng điều hoà thu nhập giữa các nhóm dân cư. Hơn nữa, các nguồn lực vật chất để thực hiện sự
điều hoà thu nhập ấy lại chỉ có thể có được khi nền kinh tế tăng trưởng nhanh, hiệu quả và bền vững.
Thực tế cho thấy, nhờ kinh tế phát triển mà Nhà nước đã có đủ tài chính để mở rộng các dự án, các
chương trình xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ cho hàng ngàn xã khó khăn phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế- xã
hội, trên cơ sở đó những người nghèo ở những vùng sâu, vùng xa có thêm cơ hội để vươn lên thoát
nghèo đói. Nhìn chung, ở đâu kinh tế phát triển, ngành nghề và hoạt động kinh tế đa dạng, việc làm đầy
đủ, thì ở đó số hộ nghèo đói giảm nhanh, số hộ giầu tăng lên và bộ mặt xã hội của cộng đồng thay đổi
nhanh chóng.
Xoá đói giảm nghèo không chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước, của toàn xã hội, mà trước hết là bổn phận
của chính người nghèo, phụ thuộc vào sự vận động tự giác của bản thân người nghèo, cộng đồng
nghèo.
Xóa đói giảm nghèo phải được coi là sự nghiệp của bản thân người nghèo, cộng đồng nghèo, bởi vì
sự nỗ lực tự vươn lên để thoát nghèo chính là động lực, là điều kiện cần cho sự thành công của mục tiêu
chống đói nghèo ở các nước.
Nhà nước sẽ trợ giúp người nghèo biết cách tự thoát nghèo và tránh tái nghèo khi gặp rủi ro. Bên
cạnh sự hỗ trợ về vật chất trực tiếp thì việc tạo việc làm cho người nghèo bằng cách hướng dẫn người
nghèo sản xuất, kinh doanh phát triển kinh tế theo điều kiện cụ thể của họ chính là điều kiện xoá đói
giảm nghèo thành công nhanh và bền vững.
Triển khai có hiệu quả các chương trình, dự án xoá đói giảm nghèo bằng các nguồn tài chính trợ giúp
của Nhà nước và các tổ chức trong và ngoài nước.
Trong những năm qua, Nhà nước đã giành nhiều kinh phí cho các chương trình xoá đói giảm nghèo.
Bên cạnh những thành tựu đáng kể của xoá đói giảm nghèo còn có vấn đề nổi cộm đó là tình trạng tham
nhũng, cắt bớt phần tài chính từ các dự án, chương trình mà lẽ ra người nghèo được hỗ trợ để giúp họ
thoát nghèo đói. Quan điểm này có tác dụng hạn chế tình trạng tiêu cực đang diễn ra trong triển khai
chế thị trường và phát huy nguồn lực, năng lực của cộng đồng tham gia lập dự án, xây dựng kế hoạch xóa đói
giảm nghèo, phát triển sản xuất.
Vì vậy, trước hết cần thay đổi tư duy về chương trình dự án xóa đói giảm nghèo theo 8 mục tiêu
thiên niên kỷ (xoá bỏ tình trạng cùng cực, thiếu đói; đạt phổ cập giáo dục tiểu học; tăng cường bình
đẳng giới và nâng cao vị thế phụ nữ; giảm tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh; tăng cường sức khoẻ bà mẹ; phòng
chống bệnh HIV, AISD, sốt rét và các bệnh khác; đảm bảo bền vững môi trường; thiết lập quan hệ đối
tác toàn cầu vì mục đích phát triển), trong đó tìm ra tác động ảnh hưởng của mỗi mục tiêu đến các mục
tiêu khác để tránh phân tán và trùng lặp nguồn lực.
Bên cạnh đó, các dự án cần được đánh giá thường xuyên và điều chỉnh kịp thời, kết hợp lồng ghép để duy
trì tác động của dự án đến xóa đói giảm nghèo. Đây là một kỹ năng có thể lấy ý kiến cộng đồng để chuyển
hướng đầu tư sao cho thiết thực. Cộng đồng biết ai trong đó là đối tượng nghèo và cộng đồng giám sát được
quá trình thực hiện, hoạt động chi tiêu. Bởi vậy, trong công tác xoá đói giảm nghèo cần chú ý đến chức năng
của cộng đồng.
Nhà nước cũng cần xác định rõ đối tượng, vùng dự án cần có chính sách rõ ràng đối với DN, đơn vị sự
nghiệp chuyển giao kỹ thuật, mô hình sản xuất tham gia xóa đói giảm nghèo, có thể đấu thầu theo nguyên tắc
giao nhiệm vụ rõ ràng cho DN xây dựng hạ tầng, hướng dẫn, hỗ trợ sản xuất kinh doanh cho hộ, sản xuất tập
trung, bao tiêu sản phẩm. Chính sách đó có thể là giảm thuế, giảm tiền thuê đất hoặc điều kiện khác cho DN đó
được thực hiện những dự án có lợi ở khu vực phát triển, hoặc tín dụng ưu đãi từ Quỹ hỗ trợ phát triển cho DN.
Gấp rút quy hoạch để xây dựng các cụm công nghiệp làng nghề mà người sản xuất được ưu đãi tối đa tiền thuê
đất.
Thứ ba, tiếp cận theo chuỗi giá trị gắn với thị trường thể hiện qua sơ đồ (1)
Phương pháp tiếp cận mới theo chuỗi giá trị và gắn sự tham gia của người nghèo vào các mắc xích
thị trường đó.
Nhà nước cũng cần phát triển, tổ chức lại các DNNVV như hợp tác xã, DN khu vực tư nhân ở vùng dự án,
ưu đãi theo kết quả sử dụng lao động thường xuyên, bao tiêu sản phẩm, cung ứng vật tư cho dân chúng. Chỉ có
hợp tác xã, DN hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ hỗ trợ mới gắn kết lâu dài bền vững những hoạt động
dân chúng vào những công việc cụ thể xóa đói giảm nghèo bằng hoạt động sản xuất ở hộ, và các cơ sở sản
xuất tập trung đồng thời, cần xây dựng các quỹ tín dụng khu vực để tiếp cận trực tiếp đến các hộ nghèo, giám
sát tín dụng để các hộ nghèo không phải vay nặng lãi. Quỹ tín dụng này gắn kết với các đoàn thể, hội quần
chúng để vận động, tác động đến việc sử dụng vốn hữu ích cho chăn nuôi, trồng trọt, làm nghề, học tập, xuất
Có rất nhiều kênh hỗ trợ CGCN vào địa bàn nông thôn, miền núi trong những năm qua, nhưng ở đây chúng tôi chỉ xin đề cập
tới 3 kênh quan trọng nhất, có tác động lớn nhất:
l Hỗ trợ theo kênh hệ thống khuyến nông, khuyến lâm Nhà nước: Ðây là kênh chính thức quan trọng nhất của Nhà nước
trong lĩnh vực khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư. Về mặt tổ chức, đến nay mạng lưới khuyến nông (bao gồm cả khuyến
lâm) đã được hình thành từ Trung ương đến địa phương (Cục khuyến nông - khuyến lâm, các trung tâm khuyến nông của 61
tỉnh, thành phố, các trạm khuyến nông huyện và cán bộ kiêm nhiệm công tác khuyến nông cấp xã). Hệ thống khuyến ngư thì
hạn chế hơn, mới có đến cấp tỉnh (trong đó nhiều tỉnh không có trung tâm khuyến ngư).
l Hỗ trợ qua kênh chương trình, dự án của Nhà nước: Từ năm 1990 lại đây, chúng ta đã triển khai nhiều chương trình
KH&CN trên phạm vi vùng kinh tế hoặc cả nước, tiêu biểu là: Chương trình hỗ trợ các hoạt động KH&CN tại các tỉnh miền
núi và vùng đồng bào dân tộc giai đoạn 1991-1995; Chương trình phát triển toàn diện kinh tế - xã hội (KT-XH) nông thôn Việt
Nam giai đoạn 1991-1995 (Chương trình KX-08) và Chương trình xây dựng mô hình ứng dụng KH&CN phục vụ phát triển
KT-XH nông thôn và miền núi giai đoạn 1998-2002 (Chương trình nông thôn, miền núi).
Các chương trình này thực sự đã góp phần tích cực làm thay đổi tập quán canh tác lạc hậu, thậm chí thay đổi được bộ mặt
nông thôn. Hầu hết các dự án thực hiện trong khuôn khổ các chương trình KH&CN đều chú trọng đến nội dung huấn luyện
đào tạo về kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ cho bà con nông dân và cán bộ địa phương nên đã góp phần không nhỏ trong
việc nâng cao dân trí, tăng cường trình độ chuyên môn và năng lực chỉ đạo sản xuất cho cán bộ quản lý và cán bộ khuyến
nông, khuyến lâm ở địa phương.
l Hỗ trợ thông qua các tổ chức phi chính phủ nước ngoài (INGO): Hoạt động CGCN của INGO rất đa dạng và linh hoạt bao
gồm cả trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, bảo quản nông sản, thú y, bảo vệ và trồng rừng Tuy vậy, nhìn chung nguồn kinh phí
của các dự án do INGO tài trợ còn hạn hẹp, phần nhiều là dự án nhỏ, thực hiện phân tán, lại do nhiều tổ chức tiến hành
trong thời gian ngắn nên việc đánh giá tổng kết còn gặp nhiều khó khăn.
b/ Các hình thức CGCN.
Các hình thức CGCN vào địa bàn nông thôn khá phong phú. Qua nghiên cứu tổng kết, chúng tôi tạm liệt kê một số hình thức
thường gặp dưới đây:
l Các lớp tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ, hội thảo đầu bờ: Hình thức này được dùng khá phổ biến ở nhiều nơi, nhiều vùng.
Hầu hết các mô hình xây dựng trong khuôn khổ Chương trình nông thôn, miền núi và các chương trình khác đều dùng hình
thức này. Ðiểm nổi bật của hình thức này là nông dân phải tự thực hành việc sản xuất theo công nghệ mới bằng kiến thức
tiếp thu được trên lớp và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất của chính mình.
l Cầm tay chỉ việc, hướng dẫn tận nơi: Hình thức này thường được áp dụng cho vùng sâu vùng xa, nơi mà trình độ tiếp thu
của người dân còn có hạn; hoặc áp dụng ở những dự án đưa cây trồng, vật nuôi hoàn toàn mới lạ vào sản xuất tại địa
mô hình ứng dụng KH&CN không được chuyển trực tiếp đến cơ quan khoa học, mà phải đi qua một con đường vòng từ Bộ
tài chính về sở tài chính, qua sở KH,CN&MT để đến cơ quan CGCN. Như vậy khi kinh phí đến được mô hình thường bị quá
thời vụ sản xuất. Việc không quy định các khoản chi tiêu cho cơ quan quản lý dự án mô hình ở địa phương đã dẫn đến
không thể phân công giám sát, hỗ trợ việc thực thi dự án và cũng không có kinh phí dự phòng; khi có sự cố, không thể ứng
phó kịp thời. Việc thanh quyết toán các khoản chi cho dự án theo hoá đơn tài chính cũng là một cản trở lớn. Xin đơn cử một
việc: Cơ quan khoa học tạo ra giống mới, công nghệ mới để chuyển giao cho nông dân, nhưng họ không có hoá đơn tài
chính nên việc chuyển giao rất khó khăn. Nếu chấp hành đúng quy định tài chính thì cơ quan CGCN không thể mua giống
cây trồng, vật nuôi của cơ quan khoa học này mà phải mua của đơn vị kinh doanh có hoá đơn đỏ và chấp nhận chất lượng
Žtù mùŽ; hoặc tìm cách hợp thức hoá chứng từ thanh toán, có khi vô tình đã vi phạm pháp luật; hoặc đành phải ngừng hoạt
động CGCN.
Chính sách cán bộ như hiện nay chưa khuyến khích được đội ngũ khoa học tình nguyện về nông thôn công tác; chưa
khuyến khích được cơ quan, tổ chức, nhà nghiên cứu đầu tư cho nghiên cứu và phổ biến khoa học vào địa bàn nông thôn,
cho nên rất khó đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư cho CGCN và các hoạt động khác để áp dụng nhanh các thành tựu
KH&CN vào sản xuất.
l Vướng mắc về nguồn nhân lực KH&CN:
Nguồn nhân lực tại chỗ của nông thôn hiện nay rất lớn, nhưng tỉ lệ lao động được đào tạo nghề lại quá thấp. Theo thống kê,
năm 2000 cả nước có gần 30 triệu người trong độ tuổi lao động ở nông thôn, nhưng số người được đào tạo chỉ chiếm
9,27%. Hệ thống khuyến nông của Nhà nước thì đội ngũ quá mỏng, ở cấp xã thường có 1 người, có khi chưa đủ 1 người và
phải kiêm nhiệm. Trong khi đó, các cơ quan khoa học, kể cả cơ quan nghiên cứu về khoa học nông nghiệp (viện nghiên cứu,
trường đại học) thường có trụ sở tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh.
3/ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC NHỮNG VƯỚNG MẮC NHẰM NÂNG CAO HIÊåU QUẢ CGCN VÀO ÐỊA BÀN NÔNG THÔN,
MIỀN NÚI.
l Nâng cao hiệu quả của các chương trình KH&CN:
Ðể tăng cường CGCN vào địa bàn nông thôn, miền núi, trước hết cần có các giải pháp nâng cao hiệu quả các chương trình
KH&CN. Cụ thể như sau: Một là, cần qui định lại thời gian thực thi dự án cho phù hợp, riêng đối với trồng rừng và các loại
cây lâu năm có thể đến 5 năm (trước đây qui định thời gian 2 năm là chưa đủ để kiểm chứng kết quả). Hai là, địa bàn được
chọn để xây dựng mô hình phải tiêu biểu cho một vùng sinh thái và có điều kiện khả thi để nhân rộng kết quả; đồng thời phải
là địa bàn ưu tiên trong hướng phát triển KT-XH của địa phương. Ba là, trước khi triển khai chính quyền và người dân phải
cam kết tự nguyện thực hiện và chủ động huy động các nguồn vốn đối ứng để thực hiện dự án, không trông chờ vào sự bao
cấp hoàn toàn của cấp trên; trong dự án nhất thiết phải có nội dung về đào tạo, tập huấn. Bốn là, nên phân thành hai cấp
CGCN, xuất phát từ lợi ích thiết thực của người tham gia và của người thụ hưởng.
Căn cứ vào các mặt hàng nông sản đã được định hướng thị trường của Nhà nước để nghiên cứu định hướng thị trường cho
các mặt hàng nông sản trên địa bàn của mình trước khi triển khai sản xuất đại trà.
Xác định rõ nhiệm vụ ưu tiên của từng tiểu vùng, từng khu vực để có biện pháp tăng cường hỗ trợ KH&CN, phối hợp, lồng
ghép với các chương trình, dự án khác trên địa bàn, cả về nội dung cũng như nguồn tài chính.
Trách nhiệm cao nhất trong chỉ đạo thực hiện các dự án trình diễn ứng dụng KH&CN tại địa phương nên thuộc về lãnh đạo
chính quyền các cấp. Lãnh đạo địa phương phải có trách nhiệm chỉ đạo các ngành có liên quan và phối hợp các nguồn lực
để triển khai thực hiện các dự án trình diễn ứng dụng KH&CN.
- Ðối với cơ quan khoa học. Rút kinh nghiệm điều chỉnh phương pháp phổ biến khoa học và CGCN, xuất phát từ những thực
tế khó khăn của địa bàn nông thôn miền núi.
- Ðối với bản thân người nông dân (doanh nghiệp, chủ trang trại, chủ hộ sản xuất kinh doanh, hộ gia đình). Là đối tượng
trung tâm, là người thụ hưởng của các dự án mô hình, bản thân người dân phải có mong muốn vươn lên làm giầu. Từ đó sẽ
có ý thức tìm tòi thông tin, học hỏi, tiếp nhận công nghệ mới, áp dụng vào sản xuất nhằm nâng cao đời sống của gia đình,
góp phần xây dựng và phát triển nông thôn bền vững
Chuyển giao công nghệ cho nông dân: Bao giờ “cờ” mới đến “tay”?
Ngày cập nhật: 8/11/2004
Nguồn tin: SGGP, 7/11/2004
Theo đánh giá của các nhà khoa học, trong vòng 5 năm gần đây, công nghệ đã đóng góp
khoảng 30% trong giá trị tăng trưởng của nông nghiệp ở nước ta. Thế nhưng, những công nghệ
đã được áp dụng hiện nay vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và nhu cầu.
Ít thuận lợi, nhiều rào cản
GSTS Võ Tòng Xuân đưa ra một thông tin ấn tượng: “Hàng năm, các nước trên thế giới chi gần
50 tỷ USD cho các nhà khoa học, viện nghiên cứu… để phát triển con người, nhưng trên trái đất
vẫn còn gần 1 tỷ người sống trong nghèo đói. Ở nước ta, thành quả KHCN không ít, thậm chí có
thể nói là phải “trùm mền” ở các viện, trường, nhưng nông dân vẫn đói công nghệ là một nghịch
lý khó chấp nhận”.
Sản xuất lúa hiện nay ở ĐBSCL dựa vào kinh nghiệm truyền thống là chính.
Tiến sĩ Nguyễn Bảo Vệ (Khoa Nông nghiệp – ĐH Cần Thơ) đã làm một nghiên cứu nhỏ về
những rào cản. Theo ông, 5 yếu tố ảnh hưởng đến “đường đi” của công nghệ xuống đồng
Quận, huyện nào cũng có phòng KH-CN, nhưng biên chế thấp, chính sách không rõ ràng, nên
cán bộ ở đây chỉ đảm đương được công việc quản lý nhà nước.
Trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, nhu cầu của sản xuất đối với KHCN là rất lớn và rất
đa dạng nhưng thường mang tính thời vụ, sức mua của người dân có hạn, do vậy, lựa chọn
công nghệ nào để phổ biến có hiệu quả là một bài toán khó. Vấn đề đặt ra là làm thế nào mở
cửa thị trường và mạng lưới thông tin để nông dân tiếp cận thiết bị công nghệ mới hiệu quả
nhất.
Tiến sĩ Lê Quốc Doanh – Viện Khoa học nông nghiệp cho rằng các nhà khoa học trưng bày, giới
thiệu công nghệ ở các hội chợ triển lãm, trên phương tiện thông tin đại chúng, nhưng thường
dừng lại ở mức độ chung chung, không nói rõ bán công nghệ ở đâu, giá bao nhiêu, làm hiệu
quả thông tin rất thấp, khả năng bán công nghệ bị hạn chế nhiều. Vì vậy, mở rộng dạng lưới
thông tin đến tận hộ nông dân là hết sức cần thiết.
Tuy nhiên, do trình độ của nông dân ĐBSCL nói chung còn thấp, nên việc đào tạo nâng cao kiến
thức KHCN cho nhà nông là việc làm cần thiết. Ai sẽ làm việc này? Giám đốc Sở NN-PTNT An
Giang Huỳnh Thế Năng đề xuất phương án khuyến nông 4 thành phần như liên kết 4 nhà đối
với sản xuất, đó là sự kết hợp giữa nhà quản lý, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học và… nhà báo.
Ông Năng cho rằng, hiện nay, các chương trình khuyến nông, phổ biến kiến thức KHKT trên
truyền hình quá ít, mà chương trình giải trí thì nhiều, trong khi ở các nước trong khu vực, truyền
hình đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển giao công nghệ cho người dân…
TRẦN MINH TRƯỜNG
Giải pháp phát triển kinh tế trang trại
( Thời gian đăng : 16:51:03 24/02/2009 )
Xin cho biết những giải pháp chủ yếu về quản lý kinh tế trang trại của nhà nước. Những chính sách này
có ảnh hưởng thế nào tới sự phát triển của mỗi trang trại?
Câu trả lời
Sau một thời gian nhất định (thường là ừt 2 đến 10 năm trở lên) mỗi địa phương và trên phạm vi toàn quốc nên
tổng kết quá trình phát triển hệ thống trang trại “tự phát” theo kinh tế hàng hoá chủ yếu nhờ chính sách đổi mới và
sự tác động của các quy luật kinh tế vốn có của nó tạo ra. Trên cơ sở đó, các cấp lãnh đạo sẽ chỉ ra những ưu điểm
để phát huy và những khuyết điểm để khắc phục với những chủ trương và chính sách kinh tế – xã hội tương ứng.
Đó chính là sự đổi mới chính sách vĩ mô của nhà nước trên cơ sở thực tiễn kinh tế.
Cùng với đó, chính sách của nhà nước cần phải hướng vào thực hiện yêu cầu nông lâm kết hợp, xây dựng nông thôn
mới và bảo vệ, phát triển môi trường mới ngày càng tốt hơn. Do đó, nhà nước cần đổi mới, tổ chức các viện nghiên
cứu khoa học vừa đủ mạnh, vừa gắn với tổ chức kinh doanh trên cơ sở xây dựng các trung tâm khoa học cho từng
vùng sao cho sát và đúng với yêu cầu phát triển cây, con ở đó.
Đặc biệt, nhà nước cùng các cấp các ngành cần có chính sách khen thưởng trọng dụng và biết sử dụng những cán
bộ khoa học kỹ thuật có năng lực thực lực, có những sáng tạo và đóng góp cho sự nghiệp khoa học kỹ thuật và
công nghệ trong nông nghiệp – nông thôn.
+ Chính sách ruộng đất và chính sách thuế sử dụng các loại đất, thuỷ lợi phí, điện, thuế thu nhập.
Có thể nói, đây là những chính sách có quan hệ tực tiếp đến lợi ích của các nhà kinh doanh – các chủ trang tại.
Thứ nhất là chính sách ruộng đất, ở nước ta, nhà nước thực hiện chính sách giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài
cho nông dân theo luật đất đai. Khi đã được giao ruộng đất, người nông dân có quyền sử dụng, chuyển đổi, chuyển
nhượng, thừa kế, thế chấp, cho thuê. Tất nhiên, đồng thời với đó là nghĩa vụ nộp thuế, bồi dưỡng, bảo vệ,cải tạo,
phát triển môi trường… như chính sách đã quy định.
Thứ hai, nhà nước thay thế nông nghiệp bằng thuế sử dụng đất, đồng thời dành toàn bộ thuế sử dụng đất để đầu tư
lại cho nông nghiệp và phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, thực hiện chiến lược xây dựng nông thôn mới.
Ba là, nhà nước miễn hoặc giảm thuế đất đối với một số vùng cao, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, gia đình thuộc hộ
chính sách và hộ nông dân nghèo có khó khăn.
Bốn là, nhà nước có giải pháp để giảm giá dịch vụ thuỷ lợi và giá điện cho nông dân trên cơ sở đổi mới quản lý,
giảm giá thành dịch vụ của các xí nghiệp, công ty thuỷ nông và điện.
+ Chính sách này thể hiện ở việc tổ chức khuyến nông thành hệ thống mạnh và đa dạng từ trung ương xuống đến
cơ sở, giống như ở An Giang và một số nơi khác đã cho kết quả tốt. Khuyến khích thành lập các tổ chúc khuyến
nông tự nguyện. Có chính cách thu hút sự đóng góp của các tổ chức trong nước và tài trợ của nước ngoài cho công
tác khuyến nông.
Hơn nữa, kinh nghiệm cho thấy, một trong những đặc điểm mang tính chất đổi mới của dự án khuyến nông là việc
sử dụng các phương tiện đại chúng để phổ biến thông tin về công nghệ mới cho mỗi vùng. Gắn nó với việc nâng cao
trình độ dân trí nhất trí là ở vùng cao, vùng xa, vùng sâu… Các chủ trang trại thường đã có trình độ văn hoá cao
hơn nên có thuận lợi hơn.
+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn – một giải pháp để phát triển kinh tế trang trại trong thời gian tới.
Mặc dù kinh tế trang trại ở một số điạ phương đã phát triển tương đối nhanh nhưng nhìn chung phát triển không
đều và chậm, nhất là những vùng và tiểu vùng đất hẹp người đông, bình quân diện tích thấp như ở đồng bằng Sông