BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH VÕ MINH TRUNG
ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ NGHỀ QUẢN TRỊ NHÂN SỰ CỦA SINH VIÊN
NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH Ở MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI
TPHCM Chuyên ngành : TÂM LÝ HỌC
Mã số: 60 31 80 LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐỖ HẠNH NGA
Thành Phố Hồ Chí Minh - 2010
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
cống hiến tài năng cho DN, giúp họ gắn bó, tận tâm, trung thành với DN.
Con người là yếu tố cấu thành nên tổ chức DN, vận hành DN và quyết định sự thành
bại c
ủa DN. Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực không thể thiếu được của DN
nên QTNS là một lĩnh vực quan trọng của quản lý trong mọi tổ chức DN. Mặt khác, quản lý
các nguồn lực khác cũng sẽ không có hiệu quả nếu DN không quản lý tốt nguồn nhân lực, vì
suy cho cùng mọi hoạt động quản lý đều thực hiện bởi con người. Xét về mặt kinh tế, QTNS
giúp cho các DN khai thác các khả năng tiềm tàng, nâng cao nă
ng suất lao động và lợi thế
cạnh tranh của DN về nguồn nhân lực. Về mặt xã hội, QTNS thể hiện quan điểm rất nhân
bản về quyền lợi của người lao động, đề cao vị thế và giá trị của người lao động, chú trọng
giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa tổ chức, DN và người lao động.
Tầm quan trọng của QTNS tăng mạnh trên toàn thế gi
ới trong mấy thập kỷ gần đây
khi cả trình độ năng lực của nhân viên lẫn trang bị kỹ thuật ngày càng được nâng cao; khi
công việc ngày càng phức tạp, đa dạng và yêu cầu công việc ngày càng tăng; khi hầu hết các
doanh nghiệp đều phải đối đầu với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường, đặc biệt
là trong các nền kinh tế chuyển đổi. Việt Nam không phải là một trường hợp ngoạ
i lệ. Quá
trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đã bộc lộ nhiều yếu kém trong quản lý kinh tế.
Điều này được coi như một trong những nguyên nhân quan trọng nhất cản trở kinh tế phát
triển.
Thực tế công tác quản lý nguồn nhân lực ở các DN hiện nay vẫn còn gặp rất nhiều
thách thức lớn. Khó khăn và thách thức lớn nhất đối với các DN hiện nay không phải là thiếu
vốn hay trình độ kỹ thuật mà là làm thế nào để QTNNL có hiệu quả. Đội ngũ nhân sự cao
cấp tại các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay rất đa dạng về độ tuổi, kinh nghiệm và trình độ,
tuy nhiên lại thiếu chuyên môn sâu về nhân sự. Có sự khác biệt lớn về thông lệ quản lý ở các
loại hình tổ chức khác nhau. Các doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài đã xây dựng được một
đội ngũ có năng lực thực hiện vai trò nhân sự hiệu quả và chuyên nghiệp hơn so với các
ậy việc tìm hiểu
định hướng giá trị nghề QTNS của sinh viên ngành quản trị kinh doanh, những nhà quản trị
trong tương lai sẽ phản ánh được sự định hướng và chuẩn bị của họ cho nghề nghiệp. Điều
này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tìm kiếm các phương pháp hợp lý hơn trong công
tác giáo dục và đào tạo nên những nhà QTNS trong tương lai, những nhân tố quan trọng
trong công cuộc phát triển kinh tế và hội nhập của đất nước.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng định hướng giá trị nghề quản trị nhân sự của sinh viên ngành quản
trị kinh doanh ở một số trường đại học t
ại TPHCM, trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị
trong việc giáo dục giá trị nghề quản trị nhân sự và định hướng giá trị nghề quản trị nhân sự.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Nghiên cứu các vấn đề lý luận về giá trị, định hướng giá trị, định hướng giá trị nghề
quản trị nhân sự.
3.2. Thực trạng đị
nh hướng giá trị nghề quản trị nhân sự của sinh viên ngành quản trị kinh
doanh ở một số trường đại học tại TPHCM
3.3. Kiến nghị một số vấn đề về giáo dục giá trị nghề quản trị nhân sự.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Định hướng giá trị nghề quản trị nhân sự.
4.2. Khách thể nghiên c
ứu: Sinh viên ngành quản trị kinh doanh.
5. Giả thuyết nghiên cứu
5.1. Phần lớn sinh viên ngành quản trị kinh doanh ở một số trường đại học tại TPHCM có
nhận thức, thái độ và hành vi nghiêm túc đối với nghề quản trị nhân sự.
hướng giá trị nghề quản trị nhân sự.
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Những vấn đề liên quan đến giá trị và định hướng giá tri
1.1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Trong những năm 1977 - 1978, Trung tâm nghiên cứu khoa học về thanh niên ở
Bungari nghiên cứu về vấn đề giáo dục đạo đức cho thanh niên, trong đó có đề cập đến vấn
đề giá trị, đặc biệt là sự khác biệt trong thang giá trị của thanh niên so với thế hệ cha ông
[dẫ
n theo 31, tr.20].
Năm 1985, Viện nghiên cứu thế giới của Nhật Bản đã chú trọng nghiên cứu thanh niên
của 11 quốc gia lứa tuổi từ 18 – 24 tuổi. Tiếp theo đó, Viện khảo sát xã hội Châu Âu nghiên
cứu trên thanh niên ở 10 nước Châu Âu. Cả hai cuộc điều tra này đều đề cập đến về vấn đề
“định hướng giá trị của thanh niên nhằm giúp họ chuẩn bị bước vào cuộc sống” [dẫn theo 31,
tr.20].
Năm 1986 - 1987, UNESCO đã đề nghị Câu lạc bộ Rome tiến hành điều tra quốc tế về
giá trị đạo đức của con người chuẩn bị bước vào thế kỷ 21 trong tình hình có nhiều biến đổi
đang ảnh hưởng đến xã hội vào những năm cuối thế kỷ 20 [dẫn theo 31, tr.20].
Hơn 10 năm trở lại đây, các nước Châu Á và Đông Nam Á đã có nhiều cuộc hội thảo
v
ề vấn đề nghiên cứu giá trị và giáo dục giá trị. Các chương trình giáo dục giá trị đã được
đưa vào trong trường phổ thông và cộng đồng ở một số nước như: Indonesia, Phillipin,
Đề tài KX - 07 - 10 do TS. Thái Duy Tuyên làm chủ nhiệm nghiên cứu: "Tìm hi
ểu
định hướng giá trị của thanh niên trong cơ chế thị trường".
Năm 1996, luận án phó tiến sỹ Triết học của Dương Tự Đam: “Định hướng giá trị của
thanh niên sinh viên trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam”. Luận án đã nêu ra một số biểu
hiện đặc trưng, xu hướng phát triển và sự chuyển đổi định hướng giá trị trong sinh viên. Trên
cơ sở đó đề
tài đưa ra những giải pháp nhằm giáo dục định hướng giá trị cho thanh niên sinh
viên theo yêu cầu của công cuộc đổi mới.
Cùng năm 1996, Nguyễn Thị Khoa với luận án phó tiến sỹ Tâm lý học: “Định hướng
giá trị chất lượng cuộc sống gia đình của nữ trí thức hiện nay”. Đề tài đã làm sáng tỏ cơ sở lý
luận về giá trị, định hướng giá trị và nêu ra những đặc trưng và xu thế
định hướng giá trị chất
lượng cuộc sống gia đình của nữ trí thức, từ đó xây dựng những chuẩn giá trị gia đình Việt
Nam hiện đại.
Đầu năm 2002, Đỗ Ngọc Hà với luận án tiến sỹ “Định hướng giá trị của thanh niên,
sinh viên hiện nay trước sự chuyển đổi về kinh tế, xã hội của đất nước”. Đề tài cho thấy
những giá trị nào đ
iều tiết được cuộc sống hàng ngày và hành vi xã hội của sinh viên, trên cơ
sở đó xây dựng biểu định hướng giá trị của sinh viên Việt Nam.
Nhìn chung các đề tài đã tập trung nghiên cứu vấn đề giá trị và đinh hướng giá trị đã
làm sáng tỏ nhiều vấn đề cả tích cực lẫn tiêu cực của những thay đổi về định hướng giá trị
của người Việt Nam nói chung và của thanh niên sinh viên nói riêng, trên cơ sở đó đề ra
những phương hướng và biện pháp để giúp thanh niên sinh viên hoàn thiện về mặt nhân
cách.
Ngoài những đề tài nghiên cứu, còn có một số bài viế
t và báo cáo về giá trị và định
hướng giá trị được đăng trên các tạp chí khoa học.
cả các yếu tố tâm sinh lý cũng ảnh hưởng đến năng suất lao động. Các yếu tố của điều kiện
môi trường làm việc như: Quan hệ nhóm, phong cách lãnh đạo... đã tác động mạnh mẽ đến
tình cảm, nhiệt tình của người lao động và là nguồn gốc nâng cao hiệu quả làm việc.
Từ cuối những năm 1970, Vấn đề quản trị con người trong tổ chức, doanh nghiệp
không còn đơn thuần chỉ là quản trị hành chính nhân viên. Tầm quan trọng của việc phối hợp
các chính sách và thực tiễn QTNS được nhấn mạnh. Nhiệm vụ quản trị con người là của tất
cả các quản trị gia, không còn c
ủa riêng trưởng phòng nhân sự hay phòng tổ chức cán bộ như
trước đây. Việc cần thiết phải đặt đúng người đúng việc là vấn đề quan trọng nhằm phối hợp
việc quản trị con người với mục tiêu phát triển của tổ chức và của doanh nghiệp. Con người
không chỉ đơn thuần là một yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh mà là một nguồn tài sản
quý báu của tổ chức và của doanh nghiệp.
– Nhân viên cần được đầu tư thỏa đáng để phát triển các năng lực riêng nhằm thỏa mãn các
nhu cầu cá nhân, đồng thời tạo ra năng suất lao động, hiệu quả làm việc cao và đóng góp
tốt nhất cho tổ chức.
– Các chính sách, chương trình và thực tiễn quản trị cần được thiết lập và thực hiện sao cho
có thể thỏa mãn cả
nhu cầu vật chất lẫn tinh thần của nhân viên.
– Môi trường làm việc cần được thiết lập sao cho có thể kích thích nhân viên phát triển và
sử dụng tối đa các kỹ năng của mình.
1.1.2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Tại Việt Nam, trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung, việc nghiên cứu, đào tạo về lĩnh
vực quản lý con người trong doanh nghiệp được thực hiện thông qua các môn: Tổ chứ
c lao
động theo khoa học, định mức lao động và tiền lương. Mặc dù có sự khác biệt lớn về lịch sử
phát triển và kinh tế, thực tiễn quản trị nhân sự của Việt Nam trong thời kỳ kế hoạch hóa tập
trung cũng tương tự như thực tiễn quản trị nhân sự của các nước Đông Âu, Liên Xô cũ và
Trung Quốc. Những thành phần cơ bản của quản trị
nhân sự như: Chế độ tuyển dụng, đào tạo
và phát triển, lương thưởng, thăng tiến, quan hệ lao động,... đều là các chính sách chung của
ứu nào nói về vấn đề nghề quản trị nhân sự và định hướng giá trị
nghề quản trị nhân sự. Tuy nhiên sự tham khảo các kết quả nghiên cứu của các tác giả có ý
nghĩa khoa học rất quan trọng, giúp ích rất nhiều cho luận văn này trong quá trình nghiên
cứu định hướng giá trị nghê quản trị nhân sự của sinh viên ngành quản trị kinh doanh.
1.2. Giá trị và định hướng giá trị
1.2.1. Giá trị
1.2.1.1.
Khái niệm giá trị theo từ điển
Trong tiếng Anh, khái niệm giá trị thường được nhắc tới qua hai thuật ngữ có ý nghĩa
gần như nhau, đó là: "Value" - giá trị, ý nghĩa, và "Worth"[dẫn theo 31, tr.49] - vừa có nghĩa
là giá trị, giá cả, ý nghĩa, vừa có nghĩa là phẩm giá, phẩm chất. Tuy nhiên, ngày nay, thuật
ngữ "value" được dùng phổ biến hơn.
Theo từ điển Bách khoa Toàn Thư Xô Viết, “Giá trị là sự khẳng định hoặc phủ định ý
nghĩa của các đối tượ
ng thuộc thế giới xung quanh đối với con người, giai cấp, nhóm hoặc
toàn bộ xã hội nói chung. Giá trị được xác định không phải bởi bản thân các thuộc tính tự
nhiên, mà là bởi tính chất cuốn hút của các thuộc tính ấy vào phạm vi hoạt động sống của
con người, phạm vi hứng thú và nhu cầu, các mối quan hệ xã hội, các chuẩn mực và phương
thức đánh giá ý nghĩa nói trên được biểu hiện trong các nguyên tắc và chuẩn mực
đạo đức,
trong lý tưởng, tâm thế và mục đích” [dẫn theo 31, tr.51-52].
Theo từ điển Triết học do M.Rozental (Liên Xô) chủ biên (Nxb Tiến bộ Maxcơva,
1975), “Giá trị là những định nghĩa về mặt xã hội của các khách thể trong thế giới chung
quanh nhằm nêu bật tác dụng tích cực hoặc tiêu cực của khách thể ấy đối với con người và
xã hội (Cái lợi, thiện và ác, cái đẹp và cái xấu nằm trong những hiện tượng c
ủa đời sống xã
hội hoặc tự nhiên). Xét bề ngoài, các giá trị là các đặc tính của sự vật hoặc hiện tượng, không
phải đơn thuần do kết cấu bên trong của bản thân khách thể, mà do khách thể bị thu hút vào
độ và hành vi của con người. Không chỉ có hàng hoá vật chất
mà cả lý tưởng và những khái niệm đều có giá trị như: sự thật, công lý, lương thiện”.
Tác giả V.P. Tugarinov (Liên Xô) lại cho giá trị là những khách thể, những hiện tượng
và những thuộc tính của chúng mà tất cả đều cần thiết cho con người (ích lợi, hứng thú) của
một xã hội hay một giai cấp nào đó cũng như một cá nhân riêng lẻ với tư cách là phươ
ng tiện
thoả mãn những nhu cầu và lợi ích của họ, đồng thời cũng là những tư tưởng và ý định với tư
cách là chuẩn mực, mục đích hay lý tưởng.
L. Dramaliev (Bungari) coi “Giá trị là một thành tố khách quan của xã hội. Nó là một
loại hiện tượng xã hội đặc biệt (môt vật, một đối tượng, một liên hệ, một ý niệm), thoả mãn
được những nhu cầu nhất định của con ng
ười. Giá trị là một phẩm chất khách quan, một đặc
tính, một khả năng thoả mãn những nhu cầu đã trở thành rõ rệt trong quá trình quan hệ quan
lại có tính chất xã hội giữa người với người trong hành vi thực tế của họ. Với tính cách là
một khách thể xã hội, giá trị không thể tách khỏi những nhu cầu, những mong muốn, thái độ,
những quan điểm và những hành động của con người với tư
cách là một chủ thể của các
quan hệ xã hội” [28, tr.53-54].
Tác giả T. Makiguchi (nhà giáo dục Nhật bản) cho rằng "Giá trị là sự thể hiện có tính
định lượng mối quan hệ giữa chủ thể đánh giá và đối tượng của việc đánh giá" [13, tr.104].
Tại Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu về giá trị trong đó phải kể đến công trình
nghiên cứu của Giáo sư Trần Văn Giàu, giáo sư Phạm Minh Hạc, Giáo sư Trần Tr
ọng Thuỷ.
Giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng: “Giá trị xuất hiện từ mối quan hệ giữa chủ thể và đối
tượng, nghĩa là từ thực tiễn và chiến đấu của con người trong xã hội. Giá trị vì thế được xác
định bởi sự đánh giá đúng đắn của con người, xuất phát từ thực tiễn và được kiểm nghiệm
qua thực tiễn” [5, tr.11].
Theo giáo sư Phạm Minh Hạc: “Giá trị là tính có nghĩ
a tích cực, đáng quý, có ích của
Ngược lại, chủ nghĩa duy tâm chủ quan (chủ nghĩa chứng thực mới, cảm xúc luận) coi
giá trị là hiện tượng của ý thức, là biểu tượng của thái độ chủ quan của con người đối với
khách thể mà con người đang đánh giá.
Học thuyết tự nhiên chủ nghĩa coi giá trị là sự biểu hiện những nhu cầu tự nhiên của
con người. Đó là tiền thân của các quan đi
ểm xã hội và kinh tế thực dụng.
Với Chủ nghĩa Marx - Lênin, giá trị được coi là những hiện tượng xã hội đặc thù, mọi
giá trị đều có nguồn gốc từ lao động sáng tạo của con người. Giá trị là sự thống nhất giữa cái
chủ quan và cái khách quan.
Dưới góc độ Xã hội học, giá trị được quan quan tâm ở nội dung, nguyên nhân, điều
kiện kinh tế - xã hội cụ thể trong quá trình hình thành hệ thống giá tr
ị nhất định của một xã
hội [10, tr.74].
Dưới góc độ Xã hội học và Tâm lý học xã hội: giá trị và định hướng giá trị được
nghiên cứu trong cộng đồng để giải thích vai trò của chúng trong sự hình thành và phát triển
các hiện tượng tâm lý xã hội như nhu cầu, thị hiếu, tập quán của các nhóm xã hội.
Giá trị trong Đạo đức học luôn gắn liền với những khái niệm trung tâm như: cái thiện,
cái ác, công bằng, bình đẳ
ng, bác ái bởi vì khái niệm giá trị thuộc phạm vi đời sống đạo đức
của con người, các quan hệ xã hội và quá trình hình thành các chuẩn mực, quy tắc đạo đức
của xã hội [14, tr.19].
Dưới góc độ Tâm lý học, khái niệm giá trị được nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu
hành vi, hoạt động của con người và dự báo sự phát triển của nhân cách.
Nhìn chung, theo quan niệm của các nhà khoa học hay dưới góc độ của các ngành
khoa học khác nhau cũng nh
ư trong một số từ điển đã định nghĩa khái niệm giá trị đều có
chung một số đặc điểm như sau:
Là mức độ của một vật đáp ứng nhu cầu và thỏa mãn được khát vọng của con người,
là cái được chủ thể đánh giá, thừa nhận trên cơ sở mối quan hệ với sự vật đó.
Là mối quan hệ giữa lợ
– Giá trị tinh thần: giá trị khoa học, giá trị chính trị, giá trị đạo đức, giá trị pháp luật và
giá trị tôn giáo.
Theo J. H. Fichter, nhà xã hội học Mỹ, mỗi hiện tượng xã hội có thể coi được dùng
làm khởi đ
iểm cho sự phân loại các giá trị. Ông dùng các căn cứ để phân loại giá trị là
nhân cách, xã hội và văn hoá.
Nhà giáo dục học T. Makiguchi dựa trên hệ thống thang bậc giá trị đã sắp xếp theo thứ
tự Thiện, Ích, Mỹ chia giá trị thành 3 loại: Giá trị kinh tế; giá trị đạo đức; giá trị thẩm
mỹ [13, tr.112].
Dựa trên sự chi phối của giá trị trên hệ thống hành vi của con người, M.Robin và J.R.
William phân loại: hành vi c
ơ thể, hành vi nhân cách, hành vi văn hoá và các hành vi
xã hội. Từ đó có các giá trị:
– Giá trị tồn tại sinh học.
– Các giá trị tính cách.
– Các giá trị xã hội.
Theo cách phân loại của Rokeach có hai loại giá trị: giá trị mục đích và giá trị công cụ:
– Các giá trị mục đích: thế giới hoà bình, an ninh quốc gia, tự do, bình đẳng, cuộc sống
ý nghĩa, tình bạn chân thành, tôn trọng người khác, thông minh sáng suốt, cuộc sống
sung túc.
– Các giá trị công cụ: Trách nhiệm, danh dự, lòng tin, thanh lịch, dũng cảm, hợ
p tác,
trong sạch, khoan dung, kỷ luật.
Theo cách tiếp cận hệ thống, hệ giá trị được cấp độ hoá theo các lát cắt sau:
Theo lát cắt thứ nhất
, có các hệ giá trị sau:
– Hệ giá trị phổ quát của nhân loại.
– Hệ giá trị của xã hội hiện đại.
– Hệ giá trị của xã hội thời kỳ quá độ.
độ nghiên cứu mà người ta sẽ chọn cách phân loại giá trị tương ứng và phù hợp. Dưới góc độ
Tâm lý học, trong nghiên cứu này, người nghiên cứu phân loại các giá trị dựa trên cách tiếp
cận thông thường khá phổ biến được quy về hai nhóm giá trị tiêu biểu như sau:
– Giá trị vật chất: bao gồm giá trị kinh tế và giá trị sử dụng
– Giá trị tinh thần: giá trị khoa học, giá trị chính trị, giá trị
đạo đức, giá trị pháp luật
và giá trị tôn giáo.
1.2.1.5. Một số khái niệm có liên quan đến giá trị
Hệ thống giá trị
Hệ thống các giá trị, đó là một tổ hợp giá trị khác nhau được sắp xếp, hệ thống lại theo
những nguyên tắc nhất định tạo thành một tập hợp mang tính toàn vẹn và hệ thống, thực hiện
các chức năng đặc thù trong việc đ
ánh giá của con người theo những phương thức vận hành
nhất định của giá trị [28, tr.62].
Các hệ thống giá trị có vị trí độc lập tương đối và tương tác với nhau theo những thứ
bậc khác nhau phù hợp với quá trình thực hiện các chức năng xã hội trong mỗi thời kỳ lịch
sử cụ thể. Hệ thống giá trị luôn mang tính lịch sử, chịu sự chế ước bởi lịch s
ử. Vì thế, trong
hệ thống giá trị luôn chứa đựng các yếu tố của quá khứ, hiện tại và tương lai, các giá trị
truyền thống, các giá trị thời đại, các giá trị mang tính nhận loại, các giá trị mang tính cộng
đồng, tính giai cấp, các giá trị mang tính lý tưởng và hiện thực.
Thang giá trị
Thang giá trị là một tổ hợp giá trị, một hệ thống giá trị được sắp xếp theo một trật tự
ưu tiên nhất định. Có thể coi thang giá trị là thước đo giá trị. Thang giá trị biến đổi theo thời
gian, theo sự phát triển, biến đổi của xã hội loài người và của cộng đồng cũng như của mỗi
cá nhân.
Thang giá trị, thước đo giá trị đang là vấn đề có tính nhân loạ
i, tính thời đại và tính
dấu hiệu của sự chín muồi nhân cách, là chỉ tiêu đo đạc tính xã hội của nhân cách [theo 28,
tr.66].
“Từ điển Tâm lý học tóm tắt” của Liên Xô do A.V.Petrovski và M.G.Iarosevski chủ
biên, cho rằng định hướng giá trị là phương thức chủ thể sử dụng để phân biệt các sự vật
theo ý nghĩa của chúng đối với chính mình, từ đó hình thành nội dung cơ bản của xu hướng,
động cơ hoạt động.
Như v
ậy, định hướng giá trị có liên quan đến mặt nhận thức, ý chí và tình cảm trong
sự phát triển nhân cách của chủ thể.
Riêng tại Việt Nam, định hướng giá trị còn là một khái niệm mới mẻ chưa được đưa
vào trong từ điển Tiếng Việt. Do đó, tạm thời chúng ta hiểu khái niệm định hướng giá trị
theo các từ điển của nước ngoài.
1.2.2.2. Định hướng giá trị theo quan
điểm của các nhà khoa học trong và ngoài nước
Trong tài liệu “Những cơ sở nghiên cứu xã hội học”, các tác giả đã quan niệm: “Định
hướng giá trị là khuynh hướng chung đã được quy định về mặt xã hội, được ghi lại trong tâm
lý của cá nhân, nhằm vào mục đích và phương tiện hoạt động trong lĩnh vực nào đó” [13,
tr.56]. Ở đây, định hướng giá trị đóng vai trò là một thành tố trong cấu trúc nhân cách và là
sự
điều chỉnh hành vi của con người,
Một số nhà Tâm lý học xã hội quan tâm đến nhiều khía cạnh của vấn đề định hướng
giá trị, chẳng hạn [28, tr.68]:
Theo I. T. Lêvưkin cho là: “Định hướng giá trị là việc đánh giá các khả năng và tình
hình hiện có để xác định các phương tiện và phương pháp nhằm đạt những mục tiêu đã đề
ra”.
Tác giả Ladov cho rằng: “Định hướng giá trị là những biểu tượ
ng của con người về
những mục đích chủ yếu của cuộc đời và các phương tiên cơ bản đạt những mục tiêu ấy.
Nó có ý nghĩa thúc đẩy, điều chỉnh thái độ và hành vi của con người nhằm đạt tới nhữ
ng
giá trị đó”.
1.3. Nghề quản trị nhân sự và định hướng giá trị nghề quản trị nhân sự
1.3.1. Nghề và nghề quản trị nhân sự
1.3.1.1. Khái niệm nghề nghiệp
Cũng có nhiều định nghĩa về nghề nghiệp: theo E.A.Klimov thì “nghề nghiệp là lĩnh
vực sử dụng sức lao động, vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạ
n cần thiết
cho xã hội (do sự phân công lao động mà có), nó tạo ra khả năng cho con người sử dụng lao
động của mình để thu lấy những phương tiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển” [10,
tr.16].
Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học cũng xác định: “nghề nghiệp là một lĩnh vực mà
trong đó con người sử dụng sức lao động của mình để tạo ra những cái cần thiết cho xã hội,
nhờ đó con người có thể thoả mãn những nhu cầu cần thiết cho việc tồn tại và phát triển của
mình” [11, tr.68].
Theo từ điển Tiếng Việt “nghề là nghề nghiệp, việc làm chuyên môn
để sống”[29,
tr.570].
Như vậy khái niệm “nghề nghiệp” nhìn chung là thống nhất, nó bao hàm cả cái “nghề”
và cái “nghiệp” của con người. chúng ta có thể hiểu khái niệm nghề nghiệp với một số nội
dung cơ bản như sau:
Một là: nói tới nghề nghiệp trước hết phải nói nó là một nghề trong xã hội, đó là công
việc chuyên môn trong một lĩnh vực hoạt động nhất định, nó đòi hỏi ngườ
i làm nghề phải có
kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo để lao động có hiệu quả.
Hai là: hoạt động nghề nghiệp có mục đích rõ ràng, nó không những mang lại lợi ích
cho xã hội mà nhờ đó con người có thể thoả mãn những nhu cầu cần thiết cho việc tồn tại và
phát triển con người để có thể đạt được các mục tiêu của tổ ch
ức.
Đi sâu vào việc làm của QTNS, người ta có thể hiểu QTNS là việc tuyển mộ, tuyển
chọn, duy trì, phát triển, sử dụng, động viên và cung cấp tiện nghi cho nhân lực thông qua tổ
chức của nó. Song dù ở góc độ nào thì QTNS vẫn là tất cả hoạt động của một tổ chức để
thu hút, xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và giữ gìn một lực lượng lao
động phù hợp với yêu cầu công vi
ệc của tổ chức cả về mặt số lượng lẫn chất lượng [21,
tr.8].
Đặc điểm nghề quản trị nhân sự
Mục tiêu cơ bản của bất kỳ tổ chức nào cũng là sử dụng một cách có hiệu suất nguồn
nhân lực để đạt được mục tiêu của tổ chức đó. QTNS nhằm củng cố và duy trì đầy đủ
số
lượng và chất lượng lao động cần thiết cho tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra. QTNS giúp
tìm kiếm và phát triển những hình thức, những phương pháp tốt nhất để người lao động có
thể đóng góp nhiều sức lực cho việc đạt được các mục tiêu của tổ chức, đồng thời cũng tạo
cơ hội để phát triển không ngừng chính bản thân người lao
động.
Không một hoạt động nào của tổ chức mang lại hiệu quả nếu thiếu “Quản trị nhân sự”.
QTNS là bộ phận cấu thành và không thể thiếu của quản trị kinh doanh. QTNS thường là
nguyên nhân của thành công hay thất bại trong các hoạt động sản xuất hoặc kinh doanh. – Quản trị nhân sự là một khoa học.
Quản trị nhân sự là một hệ là một hệ thống các kiến th
ức, các nguyên tắc và các
phương pháp khoa học đã được đúc rút và kiểm nghiệm qua thực tế để thực hiện các chức
năng quản lý con người, tạo động lực và thúc đẩy hoạt động của họ, liên kết và phối hợp các
hoạt động của con người. Lãnh đạo và kiểm tra các hoạt động của con người để thực hiện
Năng lực
QTNS là quản lý con người, làm việc với con người. Trong nội dung làm việc với con
người: nhà quản trị cần phải biết rõ phương hướng hoạt động của mình trong thời gian trước
mắt và thời gian lâu dài, đậy gọi là định hướng quản trị. Việc xác định mục đích, mục tiêu,
kế hoạch, chỉ
tiêu tức là trả lời nhanh hiệu quả quản trị. Việc định hướng quản lý còn thể
hiện ở chiến lược, sách lược quản lý con người. Nó được thể hiện ra ở các nguyên tắc quản
lý hay còn gọi là đường lối quản lý:
– Trước hết xác định vị trí của mỗi người trong tập thể, để khai thác nguồn dự trữ tinh
thần của họ. Làm cho mỗi thành viên trong tập thể nhận thức được mục đích, mục tiêu
của đơn vị, cũng như nhi
ệm vụ, chỉ tiêu hoạt động của bản thân và cách thức hoàn
thành nhiệm vụ chỉ tiêu đó. Tạo điều kiện cho các thành viên trong tập thể làm việc để
họ thực hiện vị trí xã hội của mình trong cuộc sống cũng như trong công việc.
– Phải tìm các biện pháp làm cho nhân viên làm việc tích cực, tự giác trong tập thể.
– Bồi dưỡng, đào tạo nhân viên để họ đủ sức
đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của tập thể.
– Kiểm tra, định hướng, uốn nắn hoạt động của nhân viên.
– Làm cho mỗi thành viên thấy rõ sự phát triển tương lai của tập thể và của bản thân.
– Làm cho mỗi cá nhân gắn bó vơi tập thể, làm việc lâu dài với tập thể. Xây dựng tập
thể phát triển lành mạnh.
Vì vậy, nếu như năng lực quản lý được xác
định là tổ hợp các thuộc tính của nhân
cách, đáp ứng yêu cầu của hoạt động quản lý và đảm bảo cho hoạt động quản lý có hiệu quả
thì theo chúng tôi:
Năng lực QTNS là tổ hợp các thuộc tính của nhân cách, đáp ứng các yêu cầu của hoạt
động QTNS và đảm bảo cho hoạt động quản lý nhân sự đạt hiệu quả.
Năng lực được thể hiện trong hoạt động. Hoạt độ
ng QTNS cũng được diễn ra theo một