định hướng nghề nghiệp của sinh viên chuyên ngành tâm lý học ở một số trường đại học tại thành phố hồ chí minh - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Trần Thị Dương Liễu

ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CỦA SINH
VIÊN CHUYÊN NGÀNH TÂM LÝ HỌC Ở MỘT SỐ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Trần Thị Dương Liễu

ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CỦA SINH
VIÊN CHUYÊN NGÀNH TÂM LÝ HỌC Ở MỘT SỐ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: TÂM LÍ HỌC
Mã số: 60 31 04 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN THỊ QUỐC MINH


luận văn tốt nghiệp của mình.
Gia đình, bạn bè thân hữu đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Luận văn được hoàn thành với sự nỗ lực, cố gắng hết mình nhưng không tránh
khỏi những hạn chế, thiếu sót. Tôi xin chân thành cảm ơn và ghi nhận những ý kiến
đóng góp của quý Thầy Cô giáo và bạn bè!

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2014
Tác giả

Trần Thị Dương Liễu


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU .........................................................................................................................1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP .......................7
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu về định hướng nghề nghiệp .......................................7
1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài ....................................................................7
1.1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam .....................................................................10
1.2. Lý luận về định hướng nghề nghiệp ...................................................................16
1.2.1. Khái niệm định hướng ..................................................................................16
1.2.2. Khái niệm nghề nghiệp .................................................................................17
1.2.3. Khái niệm định hướng nghề nghiệp .............................................................29
1.3. Sinh viên và một số đặc điểm tâm lý của sinh viên ............................................34
1.3.1. Khái niệm sinh viên ......................................................................................34

3.2.2. Các biện pháp thuộc về giảng viên .............................................................112
3.2.3. Các biện pháp thuộc về nhà tuyển dụng .....................................................115
3.2.4. Các biện pháp thuộc về sinh viên ...............................................................116
3.3. Tổ chức nghiên cứu khảo nghiệm .....................................................................120
3.4. Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp ....................121
3.4.1. Khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp ...........................................121
3.3.2. Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp ..............................................124
Tiểu kết chương 3 ......................................................................................................127
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................................128
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Thứ tự

Chữ viết tắt

Nghĩa đầy đủ

1



Cao Đẳng

2

CNH - HĐH


Giáo dục nghề nghiệp

8

GV

Giảng viên

9

HS

Học sinh

10

KHXHNV

Khoa học xã hội nhân văn

11

N

Tần số

12

NN


Sinh viên

18

TT

Thứ tự

19

THPT

Trung học phổ thông

20

TLH

Tâm lý học

21

TPHCM

Thành phố Hồ Chí Minh

22

XB

Bảng 2.26. Kết quả khảo sát ĐHNN qua mức độ yêu thích nghề nghiệp cụ thể ..........82
Bảng 2.28. Kết quả chung biểu hiện hành vi ĐHNN của SV chuyên ngành TLH .......90
Bảng 2.30. Sự kiên định của SV đối với ngành TLH ....................................................93
Bảng 2.31. Mối tương quan giữa ba mặt nhận thức, thái độ và hành vi .......................95
Bảng 2.32. Các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng nghề nghiệp của SV ......................97
Bảng 2.34. Nguyên nhân của thực trạng ĐHNN của SV chuyên ngành TLH ............102
Bảng 3.1. Mức độ cần thiết các biện pháp nâng cao hiệu quả ĐHNN của SV ...........121
Bảng 3.2. Mức độ khả thi của các biện pháp nâng cao hiệu quả ĐHNN của SV .......124


1

MỞ ĐẦU
1.

Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, công tác định hướng nghề nghiệp (ĐHNN) cho bộ

phận học sinh THPT ngày càng trở nên quan trọng và được các lực lượng xã hội, các
cơ quan ban ngành quan tâm rất nhiều. Tuy nhiên, công tác ĐHNN cho sinh viên (SV)
chưa được quan tâm đúng mức, thậm chí bị bỏ quên. Chúng ta vẫn nghĩ rằng ĐHNN
chỉ là lựa chọn một ngành nghề yêu thích, chọn một trường đại học (ĐH) hoặc cao
đẳng (CĐ) là xong, ngành học tại trường sẽ quyết định nghề nghiệp (NN) sau này.
Chúng ta quên rằng lựa chọn NN mới chỉ là giai đoạn đầu trong tiến trình hướng
nghiệp của mỗi người và ĐHNN là một quá trình diễn ra liên tục, kéo dài từ năm nhất
đến năm cuối cùng của bậc học. Bên cạnh đó, do yêu cầu xã hội ngày càng phức tạp
dẫn đến hệ thống NN gắn với ngành đào tạo cũng ngày càng phong phú hơn. Trong
thực tế, nhiều SV chỉ chú ý đến những nét hấp dẫn bên ngoài của NN, không (hoặc
không biết cách) phân tích những đặc điểm bản thân, yêu cầu của NN, lựa chọn NN
không phù hợp dẫn đến chán nản, học tập không tiến bộ, bỏ học giữa chừng hoặc làm

nhóm nghề Khoa học xã hội có mã số 2445, thể hiện chủ yếu cho hai mã NN: nghiên
cứu và giảng dạy. Tuy nhiên, theo yêu cầu thực tiễn của xã hội và định hướng vị trí
việc làm của SV tốt nghiệp, thì TLH là ngành có đầu ra rất rộng. Những người được
đào tạo cơ bản về TLH có thể tham gia vào rất nhiều lĩnh vực: giảng dạy TLH tại các
trường CĐ, ĐH; nghiên cứu TLH tại các viện, trung tâm nghiên cứu TLH, các tổ chức
phi chính phủ; làm tư vấn viên, cán bộ trị liệu ở các bệnh viện, trung tâm tư vấn tâm
lý,... Mặc khác, ngành TLH có nhiều lĩnh vực và mỗi lĩnh vực đều đòi hỏi người làm
việc phải có những kỹ năng riêng biệt, chuyên sâu về nó. Do đó, ngoài những yêu cầu
đặc thù thì với yêu cầu đa dạng và không ngừng biến đổi của xã hội, SV chuyên ngành
TLH phải hình thành định hướng mới để đáp ứng mọi yêu cầu NN tương lai. Như vậy,
xác định hệ thống NN và ĐHNN cho SV chuyên ngành TLH là việc làm có ý nghĩa
quan trọng hàng đầu [11].
Bên cạnh đó, người nghiên cứu nhận thấy chưa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể
về hướng nghiệp và ĐHNN ở SV chuyên ngành TLH các trường ĐH tại TPHCM. Vì
lẽ đó, tìm hiểu cụ thể hệ thống NN và ĐHNN của SV chuyên ngành TLH ở các trường
ĐH tại TPHCM là rất cần thiết.
Từ những cơ sở trên, đề tài “Định hướng nghề nghiệp của sinh viên chuyên
ngành Tâm lý học ở một số trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh.” được xác
lập.


3

2.

Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng ĐHNN của SV chuyên ngành TLH ở một số trường Đại học

tại TPHCM, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác
ĐHNN cho SV chuyên ngành TLH.

2 trường ĐH tại TPHCM, gồm: ĐHSP TPHCM, ĐH KHXHNV TPHCM.
- 22 chuyên gia đang công tác trong ngành TLH, bao gồm: lực lượng giáo dục
chuyên ngành, các giảng viên đang giảng dạy các bộ môn TLH ở 2 trường trên,
chuyên viên hướng nghiệp.


4

6.

Giả thuyết nghiên cứu
- ĐHNN của SV chuyên ngành TLH còn chủ quan, cảm tính (vì sở thích muốn

khám phá tâm lý của bản thân và mọi người, vì thần tượng người trong ngành, vì ảo
tưởng ngành nghề,…), mà chưa dựa trên cơ sở đánh giá một cách khoa học sự phù hợp
về tính cách, năng lực nghề nghiệp của bản thân với ngành đang theo học.
- Có sự khác biệt ý nghĩa về nhận thức, thái độ, hành vi giữa SV năm thứ nhất và
SV năm thứ ba, giữa SV nam và SV nữ về ĐHNN ở hai trường ĐH tại TPHCM.
- ĐHNN của SV chuyên ngành TLH chịu sự tác động của các yếu tố chủ quan,
thuộc về bản thân SV như sở thích, hứng thú,… nhiều hơn các yếu tố khách quan.
7.

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận
7.1.1. Quan điểm hệ thống - cấu trúc
ĐHNN của SV chuyên ngành TLH được nghiên cứu trên nhiều mặt: nhận thức,

thái độ và hành vi. Các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác ĐHNN được nghiên cứu
trong mối liên hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau, chúng nằm trong một chỉnh
thể thống nhất, chịu ảnh hưởng lẫn nhau trong cùng một hệ thống.

nghiệm tính khả thi và tính cần thiết của các biện pháp.
- Sử dụng bảng hỏi chính thức và bảng khảo nghiệm biện pháp tiến hành khảo
sát trên mẫu nghiên cứu đã chọn để thu thập dữ liệu cho đề tài.
7.2.2.2. Phương pháp phỏng vấn
a. Mục đích
Thu thập những ý kiến cụ thể của một số nhà quản lý giáo dục, giảng viên, sinh
viên. Những ý kiến này sẽ là những dữ liệu quan trọng nhằm làm rõ hơn và mô tả cụ
thể hơn các kết quả thu được từ bảng hỏi.
b. Cách thức
- Người nghiên cứu chuẩn bị trước một số nội dung và tiến hành phỏng vấn 6
Thầy Cô giáo và 20 bạn SV chuyên ngành TLH ở 2 trường ĐH tại TPHCM.
- Ghi chép trung thực nội dung trả lời từ phía SV và các nhà chuyên môn để làm
tư liệu.
7.2.2.3. Phương pháp quan sát
a. Mục đích
Nhằm phát hiện, thu thập thêm những biểu hiện cụ thể về ĐHNN của SV.
b. Cách thức


6

Người nghiên cứu tham dự một số giờ học tập, thực hành, làm việc nhóm của
SV trên lớp và ngoại khóa. Trong quá trình quan sát, chúng tôi đảm bảo sự tự nhiên,
khách quan, trung thực những biểu hiện của SV. Quan sát được ghi nhận bằng biên
bản quan sát, có chụp hình làm tư liệu.
7.2.2.4. Phương pháp khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi
a. Mục đích
Nhằm tìm hiểu tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp ĐHNN cho SV
chuyên ngành TLH.
b. Cách thức

ngoài nước quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Dưới đây là một số
công trình nghiên cứu:
1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1.1. Những nghiên cứu ở Phương Tây
Tư tưởng ĐHNN cho thế hệ trẻ đã có từ thời cổ đại dưới dạng rất sơ khai và
biểu hiện thông qua việc phân chia lao động theo địa vị và xuất thân của mỗi người
trong xã hội. Đến thế kỷ XIX khi nền sản xuất phát triển cùng với những tư tưởng tích
cực về giải phóng con người diễn ra trên khắp thế giới thì khoa học hướng nghiệp
ha y ĐHNN mới thực sự trở thành một khoa học độc lập.
Năm 1908, Giáo sư đại học Pensylvania, Frank Parson là người đặt nền móng
các khái niệm cơ bản cho hoạt động tư vấn hướng nghiệp (career counseling) hay tư
vấn nghề (vocational guidance) ngày nay. Đồng thời năm 1908, ông cũng đã thành lập
hội đồng hướng nghiệp ở Boston (Mỹ) với nhiệm vụ nghiên cứu các yêu cầu của nghề
đối với con người, tìm hiểu chi tiết về năng lực của người học để giúp họ có được sự
ĐHNN phù hợp với năng lực và hứng thú cá nhân [41, tr.5].
Một năm sau, cũng chính Frank Parsons là người đầu tiên, trình bày khái niệm
hướng nghiệp trong cuốn sách “Lựa chọn một nghề nghiệp” (Choosing a Vocation,
1909). Những khái niệm này đã trở thành lý luận cơ sở cho những lý thuyết có liên
quan đến đặc điểm tính cách con người (trait) và yếu tố nghề (factor) - (Trait and
factor theory: lý thuyết đặc điểm người/nghề). Nhìn chung, cuốn sách là công trình
nền tảng trình bày cơ sở TLH của hướng nghiệp và chọn nghề, cũng như các tiêu chí
về sự phù hợp nghề của mỗi cá nhân để từ đó lựa chọn nghề cho phù hợp [10].
Vào những năm 1940, nhà TLH người Mỹ J.L Holland (1919 – 2008) đã nghiên
cứu và thừa nhận sự tồn tại của các loại nhân cách và sở thích nghề nghiệp. Tác giả đã
chỉ ra tương ứng với mỗi kiểu nhân cách là một số những nghề nghiệp tương xứng có
thể chọn để đạt được kết quả làm việc và thành công nghề nghiệp cao nhất. Lý thuyết
này của J. L Holland đã được sử dụng rộng rãi nhất trong thực tiễn hướng nghiệp trên
thế giới [90].



nghiệp. Cho đến khi cuốn “Áp dụng lý thuyết phát triển nghề nghiệp trong tư vấn”
(Applying Career Development Theory to Counseling) của Richard S. Sharf ra đời, đã
mở rộng phạm vi tư vấn tâm lý sang lĩnh vực mới – tư vấn ĐHNN cho các đối tượng
có nhu cầu trong xã hội [10].


9

Ngoài những nghiên cứu ở các nước Mỹ, Pháp, Đức, các nhà nghiên cứu ở các
nước Phương Tây khác cũng đặc biệt quan tâm đến ĐHNN cho thế hệ trẻ, cụ thể như:
H. Perho, nhà TLH người Phần Lan đã tiến hành nghiên cứu “ĐHNN và nghệ thuật sư
phạm trong đào tạo giáo viên phổ thông”. Kết quả cho thấy, trong động cơ học tập của
SV, ước muốn nhận được điểm cao mạnh hơn ước muốn trở thành thầy giáo giỏi. Qua
đó, ông cảnh báo và kêu gọi tổ chức lại hệ thống (quy trình) tuyển sinh ngành Sư
phạm. Một nhà TLH Phần Lan khác, M.V. Volanen cũng nghiên cứu về ĐHNN và
thích ứng việc làm ở thanh niên. Kết quả cho thấy, những đánh giá chủ quan của thời
kỳ học nghề ảnh hưởng mạnh mẽ đến ĐHNN của thanh niên nhiều hơn so với thời kỳ
làm việc đầu tiên và phụ thuộc vào quá trình thích ứng nghề nghiệp của thanh niên.
Cùng lúc đó, Z. Ransenbakh cũng nghiên cứu về ĐHNN gắn với định hướng giá trị và
các kế hoạch cuộc sống của SV. Những công trình đó cho chúng ta góc nhìn cận cảnh
hơn về ĐHNN của thanh niên, SV trong giai đoạn lúc bấy giờ ở Phần Lan [18, tr. 17].
Như vậy, nhìn chung trọng tâm các nghiên cứu ĐHNN ở các nước phương Tây
chủ yếu sử dụng các phương tiện, thiết bị, công cụ chuyên môn nhằm tham vấn
chuyên sâu từng đối tượng với mục đích xác định xu hướng và sự phù hợp nghề
nghiệp của thanh niên đối với nghề này hay nghề khác, giúp đỡ thanh niên lựa chọn
và quyết định nghề nghiệp phù hợp.
1.1.1.2. Những nghiên cứu ở Liên Xô
Ở Liên Xô (cũ) vào những năm 29, 30 của thế kỷ XX, vấn đề hướng nghiệp
cho HS cũng được các nhà khoa học và lãnh đạo chính quyền Xô Viết đặc biệt quan
tâm. Nhà giáo dục học lỗi lạc N. K Crupxkaia đã từng nêu lên luận điểm “Tự do chọn

lại thích thú với các nghề lĩnh vực xã hội. Đặc biệt, giữa học HS nữ và HS nam có sự
khác biệt khi HS nam quan tâm nhiều đến lĩnh vực kỹ thuật trong khi HS nữ lại quan
tâm hơn với các nghề như: y tế, giáo dục, nghệ thuật [64, tr.3].
Như vậy, các công trình nghiên cứu ĐHNN ở Liên Xô đã vạch ra các yếu tố cơ
bản (đặc điểm cá nhân, tính chất ngành học, nghề nghiệp, nhu cầu xã hội) ảnh hưởng
đến quá trình ĐHNN. Đồng thời đưa ra những cơ sở, những luận cứ khoa học giúp
cho việc ĐHNN của thế hệ trẻ được chuẩn xác hơn. Qua đó, đề cao vai trò quan trọng
của công tác ĐHNN đối với xã hội nói chung và thế hệ trẻ nói riêng.
1.1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam
Nghiên cứu hướng nghiệp và ĐHNN ở Việt Nam, theo các chuyên gia đã có
những bước phát triển mạnh mẽ vào những năm 1970, 1980. Tiếp thu những thành
tựu của các nước trên thế giới và thực tiễn nghiên cứu trong nước. Thời gian gần đây
giáo dục hướng nghiệp và ĐHNN ở Việt Nam đã có rất nhiều các công trình nghiên
cứu với các cách tiếp cận khác nhau. Điều đó tạo nên một giai đoạn mới với sự đa
dạng trong nghiên cứu khoa học hướng nghiệp ở Việt Nam.
Đầu tiên phải kể đến những nhà khoa học đi tiên phong trong lĩnh vực này như
GS. Phạm Tất Dong, GS Phạm Huy Thụ, PGS. Đặng Danh Ánh, GS. Nguyễn Văn


11

Hộ,…và một số các tác giả trẻ khác, với các công trình nghiên cứu chuyên sâu về
nhiều khía cạnh và lĩnh vực khác nhau của hướng nghiệp và ĐHNN [2], [3], [42].
Trong số đó, có thể nói GS. Phạm Tất Dong là người có đóng góp rất nhiều cho
giáo dục hướng nghiệp (GDHN) Việt Nam, ông đã dày công nghiên cứu các vấn đề lí
luận và thực tiễn cho GDHN như: xác định mục đích, ý nghĩa, vai trò của hướng
nghiệp; hứng thú, nhu cầu, động cơ nghề nghiệp; hệ thống các quan điểm, nguyên tắc
hướng nghiệp; các nội dung, phương pháp, biện pháp GDHN,…Điều này được thể
hiện ở rất nhiều bài báo cáo, bài báo, sách, giáo trình của ông như: bài “hướng nghiệp
cho thanh niên”, đăng trên tạp chí thanh niên (số 8, 1982); Báo cáo “Một con đường

sinh viên [9], [14].
Tiếp theo đó, năm 2003 -2004, Viện Khoa học Lao động và Xã hội đề xuất và tổ
chức nghiên cứu độc lập đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu thị trường lao động và
ĐHNN của thanh niên Việt Nam hiện nay”, do TS. Nguyễn Hữu Dũng làm chủ nhiệm.
Qua đó, cho thấy sự cần thiết và cấp bách là phải tạo điều kiện và thực hiện những
biện pháp tối ưu góp phần giúp đỡ thế hệ trẻ ĐHNN tương lai [18, tr. 24].
Năm 2004, hai tác giả Nguyễn Công Khanh, Nguyễn Văn Lê nghiên cứu ĐHNN
với công trình “Xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh lớp 12 trường THPT
dưới ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường”, kết luận: Đa số học sinh THPT chưa
được ĐHNN phù hợp. Sau khi tốt nghiệp phổ thông một bộ phận lớn HS sẵn sàng
tham gia vào thị trường lao động mà không tiếp tục học lên. ĐHNN của HS THPT phụ
thuộc rất nhiều vào công tác GDHN ở từng trường. Tuy nhiên, các hoạt động GDHN
có vai trò mờ nhạt. Nguyên nhân một phần là do bản thân người làm công tác hướng
nghiệp chưa có sự phát triển phù hợp cả về thái độ lẫn năng lực hiểu biết nghề nghiệp
[47, tr.11-18].
Vào năm 2005, tại Sở KHCN TPHCM tác giả Nguyễn Ngọc Tài chủ nhiệm đề tài
“Xu hướng chọn nghề của học sinh TPHCM hiện nay và các giải pháp giáo dục có
định hướng”. Đề tài đã phân tích thực trạng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh THCS,
THPT, các yếu tố thúc đẩy việc chọn nghề và khẳng định HS vẫn rất lúng túng khi lựa
chọn nghề vì lượng thông tin ít ỏi, thiếu nội dung chính thống [70].
Ngoài ra còn một số công trình khoa học khác cũng nghiên cứu về vấn đề
ĐHNN: năm 2005-2006, Trần Thị Thu Mai với công trình nghiên cứu khoa học cấp
Bộ “Ứng dụng trắc nghiệm hướng nghiệp của Jim Barrett và Geoff Williams vào
ĐHNN cho học sinh THPT”, mã số: B2005.23.67; hay nghiên cứu của Đào Thị Vân
Anh, Nguyễn Ngọc Tài (2010), “ĐHNN cho học sinh tại các trường dân tộc nội trú
nhằm đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triến kinh tế - xã hội tại các tỉnh
Tây Nguyên”, Đề tài cấp Bộ B2007.19.34 [3], [53].
Tiếp nối những công trình khoa học cấp cao là những luận án, luận văn, khóa
luận nghiên cứu về hướng nghiệp và ĐHNN với một số tác giả cụ thể như:


đình tạo điều kiện tác động tích cực lên nhận thức nghề nghiệp nhưng lại tác động tiêu
cực đến hành vi chọn nghề của HS. Tương tự là Luận văn về “Vai trò của cha mẹ trong
việc định hướng bậc học và nghề nghiệp cho con ở các gia đình đô thị hiện nay” khảo
sát tại phường Tràng Tiền, thành phố Hà Nội cũng đã nêu rõ vai trò quan trọng của cha
mẹ trong việc ĐHNN cho con em. Đa phần cha mẹ theo hướng cho con học ĐH hoặc


14

những ngành nghề có địa vị cao trong xã hội mà không quan tâm đến năng lực, sở
thích của con cái [12], [50].
Năm 2013, Đỗ Thị Ngọc Chi với luận văn “ĐHNN của HS THPT trên địa bàn
TP Hải Phòng”. (Nghiên cứu trường hợp tại trường THPT Mạc Đĩnh Chi, TP Hải
Phòng) - ĐH Quốc gia Hà Nội – trường Đại học KHXHNV. Kết quả cho thấy những
bất cập trong việc giáo dục và triển khai các biện pháp ĐHNN cho HS tập trung không
chỉ về phía nhà trường mà còn chịu sự chi phối mạnh mẽ từ gia đình và các phương
tiện truyền thông đại chúng. Sự ảo tưởng ngành nghề và thiếu thông tin chính xác là
những yếu tố chính khiến HS chọn lầm nghề [9].
Bên cạnh đó, một số Khóa luận cũng nghiên cứu về ĐHNN như: Tác giả Lê
Nguyên Long với đề tài “Thái độ của cha mẹ đối với việc học của con và ĐHNN cho
con ở gia đình ngoại thành Hà Nội” (2006) đã chỉ ra trình độ học vấn, nghề nghiệp
của cha mẹ, mức sống của gia đình có ảnh hưởng mạnh mẽ tới lựa chọn nghề nghiệp
của HS một cách nhất định. Trong đó, nghề nghiệp của bố mẹ có sự tương quan
nhiều với hiểu biết nghề nghiệp của con nhưng lại không có sự khác biệt nhiều với
thái độ nghề nghiệp của HS; hay tác giả Nguyễn Văn Thành với đề tài “ĐHNN cho
con cái của các gia đình nông thôn ở đồng bằng Bắc Bộ trong thời kỳ đổi mới” cũng
đã cho thấy trọng tâm ĐHNN cho con cái của các gia đình ở nông thôn là những nghề
có thu nhập cao hoặc có vị trí cao trong xã hội [50], [72].
Như vậy, các tác giả nêu trên đã có những nghiên cứu thực tiễn về thực trạng, xu
hướng, động cơ lựa chọn nghề và chỉ ra những nguyên nhân, đặc biệt là vai trò của

12 THPT một số tỉnh miền núi phía Bắc”, Tạp chí TLH (số 8), Hà Nội đã nhắc đến đến
tầm quan trọng của việc ĐHNN, nhận thức về nghề nghiệp, xu hướng chọn nghề và
những nhân tố ảnh hưởng đến sự định hướng giá trị nghề nghiệp của HS. Trong đó,
vai trò của gia đình, bạn bè và các giá trị vật chất về nghề nghiệp có xu hướng được
đề cao trong quá trình ĐHNN của thế hệ trẻ. Cùng năm 2002, Phạm Thị Đức với bài
“Những nguyên nhân ảnh hưởng tới sự định hướng trong việc học tập, chọn nghề ở
học sinh THPT” đăng trên Tạp chí giáo dục [50].
Đến năm 2004, Nguyễn Văn Lê, Hà Thế Truyền có bài viết “Để nâng cao chất
lượng giáo dục hướng nghiệp trong tình hình mới” đăng trên Tạp chí giáo dục. Tiếp
sau đó, năm 2008, Nguyễn Thị Lan với bài viết “Về dự định nghề nghiệp cho con của
các bậc cha mẹ trong bối cảnh phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta” đăng trên Tạp chí
TLH cho thấy các bậc cha mẹ sẵn sàng cho con mình tham gia vào những công việc
thuộc lĩnh vực kinh tế và mong muốn con mình trở thành một nhà kinh doanh tư nhân
trong giai đoạn hiện tại cũng như trong tương lai [42].
Gần đây, năm 2012, các tác giả Vũ Cao Đàm, Nguyễn Văn Kim, Đào Thanh
Trường nghiên cứu về “Định hướng việc làm của SV khối KHXHNV trước khi tốt
nghiệp ra trường” được Nhà xuất bản thế giới in trong “Lựa chọn giải pháp nhằm thu


16

hẹp khoảng cách giữa đào tạo ĐH trong lĩnh vực KHXHNV với nhu cầu của thị
trường lao động”, đã nêu rõ vấn đề ĐHNN của SV ngành KHXHNV rất đặc thù và
chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố, đặc biệt là yêu cầu cấp thiết của xã hội và thị
trường lao động lúc bấy giờ. Cùng vấn đề trên, ĐHNN với thực trạng, giải pháp,
phương hướng cũng được đề cập trong tác phẩm “Các sản phẩm dự án hợp tác giữa
trường ĐH KHXHNV Hà Nội và Viện Rosa Luxemburg, CHLB Đức triển khai trong
10 năm”, (2012) được viết bởi nhiều tác giả và được xuất bản bởi Trung tâm nghiên
cứu và phát triển chính sách [22].
Như vậy, trong các công trình nghiên cứu hiện có, ĐHNN được tiếp cận theo các

cảnh nào đó [17, tr. 161].
Tóm lại, định hướng trong đề tài này được hiểu là hành động để xác định, đưa ra
một hướng đi cụ thể cho hoạt động nào đó trên cơ sở cân nhắc kỹ đặc điểm của từng
đối tượng. Mục đích cuối cùng của định hướng là có được một hướng đi phù hợp với
mọi điều kiện, hoàn cảnh khách quan và chủ quan của chủ thể [9, tr. 10].
1.2.2. Khái niệm nghề nghiệp
1.2.2.1. Định nghĩa nghề nghiệp
Thuật ngữ “Nghề nghiệp” được sử dụng phổ biến và định nghĩa dưới nhiều góc
độ khác nhau trong nhiều lĩnh vực khoa học: xã hội học, tâm lý học, giáo dục học,
kinh tế học,... Nhìn chung, có những quan niệm cơ bản sau về nghề nghiệp:
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, “nghề nghiệp” là một hiện tượng xã hội có
tính lịch sử. Nghề nghiệp có quá trình ra đời, phát triển và suy vong theo tiến trình lịch
sử. Điểm xuất phát và cơ sở để xuất hiện nghề nghiệp là lao động. Lao động là loại
hoạt động sáng tạo ra con người và là cơ sở cho sự phát triển xã hội loài người. Lao
động chính là tiền đề cơ bản làm xuất hiện nghề nghiệp.
Theo quan điểm của kinh tế học, “nghề nghiệp” là tri thức và kỹ năng lao động
mà người lao động có được trong quá trình huấn luyện chuyên môn hoặc qua thực tiễn,
cho phép người đó có thể thực hiện được một loại hoạt động nhất định trong hệ thống
phân công lao động xã hội.
Theo quan điểm Giáo dục học, “nghề nghiệp” là công việc chuyên môn được
định hình một cách hệ thống, là dạng đòi hỏi một trình độ học vấn nào đó để thực hiện
hoạt động cơ bản, giúp con người tồn tại và phát triển. Từ điển Larousse của Pháp định
nghĩa: “Nghề là hoạt động thường ngày được thực hiện bởi con người nhằm tự tạo
nguồn thu nhập cần thiết để tồn tại” [13].
Theo quan điểm ngôn ngữ học, có rất nhiều tác giả đã đề cập đến quan điểm
“nghề nghiệp” như: Tác giả Nguyễn Tiến Đạt quan niệm, từ “nghề” ghép với từ
“nghiệp” thành từ “nghề nghiệp”. “Nghề nghiệp” nên hiểu là “các nghề phức tạp thiên
về trí tuệ, có trình độ cao hơn, bao giờ cũng đòi hỏi phải được đào tạo, nhiều khi lâu
dài, luôn gắn với các cơ hội thăng tiến trong nghề của con người, vì trong thành phần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status