kỹ năng sống của trẻ 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non tại thành phố hồ chí minh - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Cao Văn Quang

KỸ NĂNG SỐNG CỦA TRẺ 5 – 6 TUỔI
Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Cao Văn Quang

KỸ NĂNG SỐNG CỦA TRẺ 5 – 6 TUỔI
Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC
Mã số: 603180
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN THỊ PHƯƠNG

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012




Bé Ngoan

ĐTB

:

Điểm trung bình

ĐC

:

Đối chứng

HM

:

Hóc môn

KN

:

Kỹ năng

KNS

:


Thành phố Hồ Chí Minh

TN.S

:

Thực nghiệm – sau thực nghiệm

UNESCO

:

Tổ chức văn hóa, Khoa học và Giáo dục của
Liên Hợp Quốc

UNICEF

:

Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc

WHO

:

Tổ chức y tế thể giới


DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU


Bảng 2.6. Kết quả thực trạng kỹ năng sống của trẻ 5 – 6 tuổi ở kỹ năng Nhận
thức về bản thân ......................................................................................................

66

Bảng 2.7. Kết quả thực trạng kỹ năng Rửa tay của trẻ 5 – 6 tuổi ở các nhóm khảo
sát ............................................................................................................................

67

Bảng 2.8. Kết quả thực trạng kỹ năng Rửa mặt, đánh răng của trẻ 5 – 6 tuổi giữa
các nhóm khảo sát ...................................................................................................

68

Bảng 2.9. Kết quả thực trạng kỹ năng Che miệng khi ho, hắt hơi, ngáp, của trẻ 5
– 6 tuổi giữa các nhóm khảo sát ..............................................................................

69

Bảng 2.10. Kết quả thực trạng kỹ năng giữ đầu tóc, quần áo gọn gàng, của trẻ 5 –
6 tuổi giữa các nhóm khảo sát .................................................................................

70

Bảng 2.11. Kết quả thực trạng kỹ năng Nhận biết thông tin về bản thân và gia
đình của trẻ 5 – 6 tuổi ở các nhóm khảo sát ..........................................................

72

Bảng 2.18. Kết quả khảo sát biện pháp rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ...

81

Bảng 3.1: So sánh kỹ năng Chăm sóc vệ sinh cá nhân của trẻ 5-6 tuổi ở nhóm
Đối chứng trước và sau thử nghiệm ........................................................................

100

Bảng 3.2. So sánh kỹ năng Nhận thức về bản thân của trẻ 5-6 tuổi ở nhóm Đối
chứng trước và sau thử nghiệm ...............................................................................

102

Bảng 3.3. So sánh kỹ năng Chăm sóc vệ sinh cá nhân của trẻ 5-6 tuổi ở nhóm Thực
nghiệm trước và sau thử nghiệm ..............................................................................

104

Bảng 3.4. So sánh kỹ năng Nhận thức về bản thân của trẻ 5-6 tuổi ở nhóm Thực
nghiệm trước và sau thử nghiệm ...............................................................................

105

Bảng 3.5. So sánh kỹ năng Chăm sóc vệ sinh cá nhân ở trẻ 5-6 tuổi gcủa nhóm Đố
chứng và nhóm Thực nghiệm sau thử nghiệm ..........................................................

107

Bảng 3.6. So sánh kỹ năng Nhận thức bản thân ở trẻ 5-6 tuổi của nhóm Đối chứng

64

Biểu đồ 3.1. So sánh KNS của trẻ giữa nhóm Đối chứng và nhóm Thực
nghiệm ở điểm trung bình .............................................................................

114


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xã hội hiện đại phát triển như vũ bão về khoa học công nghệ thông tin, biến
động về kinh tế, giao thoa về văn hóa, nhiều vấn đề xã hội phức tạp liên tục nảy
sinh nay,... đã và đang làm thay đổi cuộc sống của con người. Bên cạnh những tác
động tích cực, còn có những tác động tiêu cực gây nguy hại cho con người, đặc biệt
là trẻ em.
Nếu mỗi người - trong đó có trẻ em - không có những kiến thức cần thiết để
biết lựa chọn những giá trị sống tích cực, không có những năng lực để ứng phó, để
vượt qua những thách thức, mà hành động theo cảm tính, thì rất dễ gặp trở ngại, rủi
ro trong cuộc sống.
Đứng trước những yêu cầu của sự tiến bộ xã hội và những thách thức từ sự
đổi thay của đời sống xã hội hiện đại, từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX, các tổ chức của
Liên Hiệp Quốc như, tổ chức Y tế thế giới, Quỹ cứu trợ nhi đồng, Tổ chức giáo dục
văn hóa và khoa học và các nhà giáo dục thế giới đã cùng tìm cách giáo dục – hình
thành kỹ năng sống để tạo cho trẻ năng lực tâm lý xã hội, nhằm ứng phó với những
yêu cầu và thách thức của cuộc sống hằng ngày. Mặt khác, cũng theo UNESCO,
nếu khi trẻ em 8 tuổi mới giáo dục – hình thành kỹ năng sống cho trẻ thì đã là quá
trễ! [17] Vì đến độ tuổi này, trẻ đã hình thành cho mình phần lớn các thói quen –
nếp sống, những cơ sở nền tảng cho việc hình thành nhân cách cho trẻ về sau; trừ
phi có sự thay đổi sâu sắc về trải nghiệm trong đời, nếu không thì khó mà lĩnh hội
thêm giá trị sau độ tuổi này. Gần đây, một cuộc khảo sát được tiến hành ở Anh và

năng sống của trẻ 5 – 6 tuổi trong các sinh hoạt hằng ngày và hoạt động có chủ đích
ở một số trường mầm non tại TP. Hồ Chí Minh. Từ đó, xây dựng và thử nghiệm
một số biện pháp tác động nhằm rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Kỹ năng sống của trẻ 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non tại TP. Hồ Chí Minh.


3.2. Khách thể nghiên cứu
- Trẻ 5 – 6 tuổi và giáo viên chăm sóc và giáo dục trẻ 5 – 6 tuổi ở một số
trường mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh.

4. Giả thuyết nghiên cứu
Kỹ năng sống của trẻ 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non tại thành phố Hồ
Chí Minh đạt mức độ chưa cao. Nguyên nhân chính là do ở trường mầm non, giáo
viên chưa quan tâm đúng mức đến việc rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ. Nếu giáo
viên mầm non tìm ra các biện pháp rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ một cách hữu
hiệu, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 5 – 6 tuổi thì kỹ năng sống của trẻ sẽ
được nâng cao.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài: kỹ năng, kỹ
năng sống của trẻ mầm non.
5.2. Khảo sát thực trạng kỹ năng sống của trẻ 5 – 6 tuổi ở một số trường
mầm non tại TP. Hồ Chí Minh.
5.3. Xây dựng và thử nghiệm một số biện pháp rèn luyện kỹ năng sống cho
trẻ 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non tại TP. Hồ Chí Minh.

6. Giới hạn nghiên cứu

- Phỏng vấn một số giáo viên trường mầm non về việc tổ chức hoạt động
nhằm rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ 5 – 6 tuổi.
- Phỏng vấn một số hiệu trưởng trường mầm non trên địa bàn TP.HCM nhằm
tìm ra các biện pháp rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ 5 – 6 tuổi.
7.2.4. Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp này được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả tác động của
những biện pháp thử nghiệm nhằm rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ 5 – 6 tuổi.


- Xây dựng hệ thống những bài tập nhỏ theo hướng của mục đích thực
nghiệm đặt ra. Đối tượng thực nghiệm được chọn cách ngẫu nhiên với hai nhóm:
nhóm Thực nghiệm và nhóm Đối chứng. Tiến hành thử nghiệm đối với nhóm Thực
nghiệm; sau đó, so sánh mức độ nâng cao kỹ năng sống giữa nhóm Đối chứng và
nhóm Thực nghiệm, và so sánh mức độ nâng cao kỹ năng sống của trẻ sau thực
nghiệm so với trước thực nghiệm ở nhóm Thực nghiệm.
7.2.5. Phương pháp thống kê toán học
- Sử dụng kiểm nghiệm T-test cho hai mẫu độc lập để so sánh sự khác biệt ý
nghĩa về kỹ năng sống giữa trẻ nhóm Thực nghiệm và nhóm Đối chứng.
- Sử dụng kiểm nghiệm chi bình phương để kiểm nghiệm sự khác biệt ý
nghĩa trong việc rèn luyện kỹ năng sống của trẻ trong nhóm thử nghiệm.


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG SỐNG CỦA TRẺ 5 – 6 TUỔI
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Nghiên cứu ở nước ngoài
Trên thế giới, việc nghiên cứu kỹ năng sống đã được nhiều tổ chức con người
quan tâm và tìm hiểu, vì đây là một trọng điểm trong việc nghiên cứu và phát triển
con người. Trước tiên, những khái niệm về kỹ năng sống đã được đề cập đến trong
những nghiên cứu của UNESCO khi cho rằng: “Kỹ năng sống là năng lực cá nhân

cần thiết không chỉ để có việc làm mà còn để tiến bộ trong tổ chức khi phát huy
tiềm năng của cá nhân và đóng góp các định hướng chiến lược của tổ chức.[39, tr.6]
- Tài liệu “Six steps to an emotionally intelligent teenager: Teaching social
skills to your teen” của tác giả James Windell đưa ra bài tập và những ý tưởng thực
tế để các bậc cha mẹ có thể rèn luyện và điều chỉnh một thiếu niên một cách vững
chắc cho một cuộc sống thành công.
- Sách “Life Skill Education and Currucylum” của tác giả Gracious Thomas
nhấn mạnh vai trò của giáo viên, nhằm giáo dục kỹ năng sống dựa vào hệ thống giá
trị cho công tác phòng, chống nhiễm HIV/AIDS. Ngoài việc phát triển một kế
hoạch khả thi của hành động, tác giả cũng đã phát triển một chương trình có thể
được điều chỉnh bởi một hệ thống giáo dục trong nước.
- Sách “The Indispensable Book of Parctical Life Skills” của tác giả Nic
Compton cung cấp cách để giải quyết những vấn đề làm bối rối và làm choáng ngợp
trước những thách thức của cuộc sống cho mọi lứa tuổi. Hướng dẫn này hỗ trợ
giảng viên, các bậc phụ huynh xử lý gồm tất cả các tình huống khó xử trong cuộc
sống. Sách được đề cập từng bước hướng dẫn, dễ thực hiện cho mọi lứa tuổi.
- Sách “Teaching Your Children Life Skills” của tác giả Deborah Carroll đề cập
đến 10 điều quan trọng cần lưu ý khi dạy con em; làm thế nào để công việc, các
chuyến đi mua sắm, các kỳ nghỉ và các tình huống khác trở thành cơ hội học tập
những kỹ năng thực hành quan trọng; chỉ ra cách để giúp các em rèn luyện cách cư
xử tốt và các giá trị tốt đẹp mà không cần giảng dạy dai dẳng, và hướng dẫn để phát
triển lòng tự trọng và kỹ năng sống lâu dài thông qua công việc hằng ngày.


- Sách “The Practical Life Skills Workbook” của Ester A. Leutenberg, John J.
Liptak cho rằng kỹ năng sống thực sự quan trọng hơn chỉ số thông minh. Kỹ năng
sống là những kỹ năng vô giá của người sử dụng hằng ngày, cho phép họ tạo ra
cuộc sống mà họ mong muốn. Chỉ số thông minh của một người có kỹ năng sống
gồm cả thể chất, tinh thần, sự nghiệp, tình cảm, xã hội, trí thông minh.
- Kế đến là sách “Early years play and learning: Developing social skills and

việc phải thích nghi nếu chuyển sang một nghề nghiệp mới.
Việc trang bị kỹ năng sống ở quốc gia này thường được ưu tiên tối đa cho học
sinh trung học và sinh viên cũng như những người đang chuẩn bị bước vào cuộc
sống một cách đúng nghĩa.
Năm 1998, ở khu vực Đông Nam Á cũng như Đông Dương, việc giáo dục kỹ
năng được ưu tiên một cách có trọng điểm.
Ở Lào (1997 – 2002), giáo dục kỹ năng sống được thực hiện với những nội
dung cơ bản như: Kỹ năng giao tiếp có hiệu quả; Kỹ năng tư duy sáng tạo; Kỹ năng
giải quyết vấn đề… Trong khi thực hiện, một số bài học kinh nghiệm đã được chỉ rõ
như: cần phải biên soạn, in ấn nhiều tài liệu hướng dẫn để phổ biến cho người dạy
và người học. Đồng thời cần tăng cường việc đào tạo giáo viên trực tiếp giáo dục kỹ
năng sống ở các trường về nội dung và phương pháp tích cực hơn.
Tại Campuchia, giáo dục kỹ năng sống với vấn đề nổi bật nhất là việc xác lập
các kỹ năng cần huấn luyện cho từng lứa tuổi cũng như phương pháp hiệu quả. Kỹ
năng sống được coi là năng lực mà con người cần phải có để nâng cao các điều kiện
sống có hiệu quả nhằm phát triển quốc gia. Kỹ năng tìm việc và kiếm tiền để nuôi
sống bản thân và gia đình là những kỹ năng sống quan trọng đối với thế hệ trẻ và
người lớn. Vì thế, kỹ năng sống ở đây được phân loại thành 3 nhóm chủ yếu:
- Nhóm kỹ năng chung bao gồm:
+ Những kỹ năng đơn giản trong đời sống gia đình như: Kỹ năng phòng ngừa
những bệnh lây lan qua đường tình dục; Kỹ năng an toàn thực phẩm; Kỹ năng hiểu
biết về dinh dưỡng…
+ Kỹ năng quản lý gia đình và các phương pháp học tập
+ Kỹ năng nâng cao đời sống hằng ngày như: Kỹ năng hiểu biết về những
công nghệ cơ bản trong đời sống hằng ngày
+ Kỹ năng hiểu biết về các giá trị đạo đức, tự chủ…


- Nhóm 2: Kỹ năng tiền nghề nghiệp: Kỹ năng giao tiếp; Kỹ năng tính toán; Tri
thức về quyền và trách nhiệm của người chủ và người làm thuê; Kỹ năng giải quyết

sống được thực hiện bởi những tổ chức phi chính phủ và cả những tổ chức giáo dục
của Bộ - Ban ngành trong nước. Tại đây họ quan niệm kỹ năng sống là những thuộc
tính hay năng lực tâm lý xã hội giúp cá nhân đương đầu với tất cả những tình huống
hằng ngày và đáp ứng được với hoàn cảnh tương lai để sống hạnh phúc. Nói cách
khác, kỹ năng sống là khả năng của cá nhân có thể giải quyết những vấn đề trong
đời sống hằng ngày để sống an toàn và hạnh phúc. Từ quan niệm này, họ cho rằng:
muốn con người trưởng thành và thích ứng cần hình thành cho con người ít nhất
mười kỹ năng sống cơ bản: Kỹ năng ra quyết định, Giải quyết xung đột, Sáng tạo,
Phân tích – đánh giá, Giao tiếp, Quan hệ liên nhân cách, Làm chủ cảm xúc, Làm
chủ được những cú sốc, Đồng cảm, Thực hành.
Cùng quan điểm này, tại Philippine kỹ năng sống được xem là năng lực thích
nghi và tính tích cực của hành vi giúp cá nhân có thể ứng phó một cách hiệu quả với
những yêu cầu, thay đổi, trải nghiệm và tình huống của đời sống hằng ngày, và vì
vậy những kỹ năng sống cần giáo dục cho con người bao gồm: Tự nhận thức, Đồng
cảm, Giao tiếp hiệu quả, Quan hệ liên nhân cách, Ra quyết định, Tư duy sáng tạo,
Tư duy phê phán, Ứng phó, Làm chủ cảm xúc, Kinh doanh.
Còn tại Indonexia, kỹ năng sống được tập trung nghiên cứu trên bình diện như
một khoa học giáo dục. Kỹ năng sống được xem như những kiến thức, kỹ năng, thái
độ giúp người học sống một cách độc lập. Việc giáo dục kỹ năng sống sẽ mang đến
những lợi ích nhất định: nâng cao cơ hội việc làm cho người học, nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực từ đó thúc đẩy việc thực hiện chính sách tự chủ của địa
phương, tạo ra chất lượng giáo dục cho người nghèo và người có hoàn cảnh đặc
biệt. Mặt khác, việc giáo dục kỹ năng sống tại nước này được thực hiện bởi các tổ
chức phi chính phủ cũng như những trung tâm chuyên biệt khá nổi bật và có đầu tư.
Như vậy ở các nước phương Tây và các nước thuộc khu vực Châu Á, kỹ năng
sống được nghiên cứu theo hướng tập trung tìm hiểu về khái niệm, phân loại cũng
như hướng huấn luyện kỹ năng sống cho trẻ em, sinh viên. Tuy nhiên, việc nghiên
cứu một cách rõ ràng về khái niệm theo hướng tiếp cận tâm lý học chưa thực sự rõ
ràng và sâu sắc. Mặt khác, các cách phân loại cũng còn có sự trùng lặp mà chưa thể


1363/TTg về việc “đưa nội dung giáo dục môi trường vào hệ thống giáo dục quốc
dân”. Trong văn bản này có đề cập đến việc trang bị những kỹ năng ứng xử với môi


trường, thái độ sống như những biểu hiện ban đầu của kỹ năng sống. Tiếp đến chỉ
thị số 10/GD & ĐT năm 1995 hay chỉ thị 24/CT&GD năm 1996 của Bộ Giáo dục
và Đào tạo đã có những chỉ đạo về công tác phòng chống ma túy tại trường học.
Đây cũng là hướng đề cập đến những kỹ năng cần có của học sinh như: từ chối, bảo
vệ bản thân, ứng xử với ngưới có HIV…
Sau những năm 1990, một số dự án bắt đầu được thực hiện ở các tỉnh thành để
thử nghiệm việc giáo dục kỹ năng sống cho những đối tượng thiệt thòi. Trên cơ sở
đó, những nghiên cứu về kỹ năng sống cũng bắt đầu được phát triển từ những năm
1998 – 2000. Dưới sự phát triển cùng những thử thách của đời sống, kỹ năng sống
không chỉ là vấn đề cần thiết cho trẻ em mà vị thành niên, thanh niên cũng là những
đối tượng rất cần trang bị những kỹ năng sống. [30]
Một số tổ chức nước ngoài cũng đã có những nghiên cứu ban đầu về kỹ năng
sống tại Việt Nam dưới dạng huấn luyện và đào tạo thành những dự án. UNICEF là
một tổ chức tiên phong với chương trình “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức
khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường”.
Giai đoạn một được thực hiện cho những đối tượng trong ngành giáo dục cũng như
Hội chữ thập đỏ. Các kỹ năng được lồng ghép như: Kỹ năng tự nhận thức, Kỹ năng
giao tiếp, Kỹ năng kiên định, Kỹ năng xác định giá trị… Giai đoạn kế tiếp, kỹ năng
sống bắt đầu được đề cập rộng và sâu hơn như hành trang quan trọng con người cần
có trong cuộc sống. Sau đó, khái niệm kỹ năng sống được đề cập với đầy đủ nội
hàm sau hội thảo: “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNESCO tài trợ năm
2003. Thuật ngữ kỹ năng sống trở nên phổ biến và được quan tâm một cách rộng rãi
với nhiều nhà khoa học.

Có thể đề cập đến những nghiên cứu về kỹ năng sống thông qua một số nghiên
cứu sau đây xuất phát từ những dự án tài trợ tại Việt Nam:

sử, Địa lý, Sinh học, giáo dục công dân ở trường THPT. Trong đó các hình thức tổ
chức, cách tiếp cận và phương pháp giáo dục kỹ năng sống, nguyên tắc, kỹ thuật
dạy học hiện đại cũng được đề cập và hướng dẫn sử dụng vào các bài dạy để thực
hiện việc rèn luyện các kỹ năng sống cụ thể cần thiết cho học sinh. Cũng theo chiều
hướng này, năm 2011, nhóm tác giả Lưu Thu Thủy, Lê Minh Châu, Trần Thị Tố
Oanh, Phạm Thị Thu Phương, Đào Vân Vi (Vấn đề chung kỹ năng sống); Trần


Hiền Lương, Hoàng Hòa Bình, Nguyễn Thị Phương Thảo (Tiếng Việt); Lưu Thu
Thủy, Nguyễn Việt Hà (môn Đạo đức); Nguyễn Tuyết Nga, Phan Thanh Hà (Tự
nhiên và xã hội) đã biên soạn Bộ sách “Giáo dục kỹ năng sống trong các môn học ở
tiểu học”. Trong thời gian này, một nhóm tác giả khác cũng đã biên soạn một bộ
sách về kỹ năng sống với từng chủ đề như sau: Phạm Thanh Hiệp: Kỹ năng sống –
một số kỹ năng cần thiết, Kỹ năng sống – Bạn là ai?; Nguyễn Minh Anh: Kỹ năng
sống – Rèn luyện bản thân; Nguyễn Minh Anh – Nguyễn Thị Chung: Kỹ năng sống
– Hoàn thiện chính mình; Trần Văn Nghĩa: Kỹ năng sống – Sơ cấp cứu và an toàn;
Đỗ Hồng Ngọc: Kỹ năng sống – Những bệnh - tật ở tuổi học trò và cách phòng
tránh. Bộ sách cung cấp những kiến thức cơ bản về kỹ năng sống, giúp học sinh
hoàn thiện nhân cách và định hướng cho cuộc sống và sự nghiệp trong tương lai;
nội dung mang tính thực tiễn và có hướng dẫn cụ thể giải quyết những vấn đề trong
cuộc sống thường ngày.
Trong những năm gần đây, một số giáo trình, tài liệu và một số bài báo về kỹ
năng sống bắt đầu được quan tâm, điển hình như bài báo viết về kỹ năng sống dưới
góc nhìn tâm lý học của GS.TS. Nguyễn Quang Uẩn được đăng tải trong tạp chí
Tâm lý học [47, tr.1-4], các chương trình huấn luyện kỹ năng sống được thử nghiệm
ở khu vực TP. Hồ Chí Minh của TS. Huỳnh Văn Sơn và các cộng sự dưới sự tài trợ
hai năm liền của bảo hiểm DAIICHI LIFE, nhiều chuyên đề về huấn luyện hay
trang bị kỹ năng sống cho sinh viên được thực hiện. Cũng có thể đề cập đến một vài
tài liệu đề cập đến khái niệm kỹ năng sống, phân loại và nội dung cơ bản của kỹ
năng sống như quyển Nhập môn kỹ năng sống, Bạn trẻ và kỹ năng sống, Mô hình

nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế. [48, tr.517]
Từ điển Oxford định nghĩa “skill” – kỹ năng là khả năng tìm ra giải pháp cho
một vấn đề nào đó và có được nhờ rèn luyện. [38, tr.15 – trích theo]
Theo Từ điển Giáo dục học, kỹ năng là “khả năng thực hiện đúng hành động,
hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy,
cho dù đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ.”[13, tr.220]
Theo Từ điển Tâm lý học do tác giả Vũ Dũng (Chủ biên), kỹ năng là “năng
lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể
lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng. Ở mức độ kỹ năng, công việc


được hoàn thành trong điều kiện hoàn cảnh không thay đổi, chất lượng chưa cao,
thao tác chưa thuần thục và còn phải tập trung chú ý căng thẳng, kỹ năng được hình
thành qua luyện tập”. [11]
Trong Từ điển Tâm lý học của A. M. Colman, “Kỹ năng là sự thông thạo, hiểu
biết chuyên môn sâu, là khả năng đạt được thành tích cao trong một lĩnh vực nhất
định; cụ thể là một cách thức thực hiện hành vi có sự phối hợp, có tổ chức, đạt được
thông qua sự huấn luyện và thực hành”. [49, tr.681]
Như vậy, có thể thấy khái niệm kỹ năng được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác
nhau. Việc làm rõ những điểm chung và những điểm khác biệt trong từng khái niệm
nhằm đi đến một cách hiểu nhất quán về kỹ năng được sử dụng trong đề tài này.
Quan điểm khác về kỹ năng
 Quan niệm thứ nhất: xem kỹ năng như là kỹ thuật thao tác
Tác giả Trần Trọng Thủy cho rằng: kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, con
người nắm được cách hành động tức là có kỹ thuật hành động, có kỹ năng. [40, tr.49]

Từ điển Tâm lý học (1983) của Liên Xô (cũ) định nghĩa: “Kỹ năng là giai đoạn
giữa của việc nắm vững một phương thức hành động mới – cái dựa trên một quy tắc
(tri thức) nào đó và trên quá trình giải quyết một loạt các nhiệm vụ tương ứng với tri
thức đó, nhưng còn chưa đạt đến mức độ kỹ xảo”. [25, tr.376].

tri thức hay kinh nghiệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc
tính bản chất của các sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ lý luận hay
thực hành xác định, được gọi là kỹ năng”. [31]
Cùng quan điểm này, các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết,
Trần Thị Quốc Minh cũng cho rằng, kỹ năng là một mặt của năng lực con người
thực hiện một công việc có kết quả.
Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng, kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả
một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã
có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép. [37, tr.6]
Như vậy, với những quan điểm trên, chúng tôi nhận thấy, kỹ năng không chỉ là
thao tác mà còn là biểu hiện của năng lực. Rõ ràng kỹ năng là sự thực hiện có kết
quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách áp dụng hay
lựa chọn những cách thức đúng đắn có tính đến những điều kiện nhất định. Nói



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status