kỹ năng cảm nhận và thể hiện cảm xúc của trẻ 5 tuổi ở một số trường mầm non tại thành phố hồ chí minh - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Ngô Thị Thạch Thảo

KỸ NĂNG CẢM NHẬN VÀ THỂ HIỆN CẢM
XÚC CỦA TRẺ 5 TUỔI Ở MỘT SỐ TRƯỜNG
MẦM NON TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM Tp. HỒ CHÍ MINH

Ngô Thị Thạch Thảo

KỸ NĂNG CẢM NHẬN VÀ THỂ HIỆN CẢM
XÚC CỦA TRẺ 5 TUỔIỞ MỘT SỐ TRƯỜNG
MẦM NON TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số

: 60 31 04 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:



CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG CẢM NHẬN VÀ THỂ HIỆN
CẢM XÚC CỦA TRẺ 5 TUỔI................................................................................... 9
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .......................................................................................... 9
1.1.1. Nghiên cứu ở nước ngoài ........................................................................................ 9
1.1.2. Nghiên cứu ở Việt Nam ........................................................................................ 11
1.2. Cơ sở lý luận về kỹ năng cảm nhận và thể hiện cảm xúc của trẻ 5 tuổi ............... 13
1.2.1. Một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu ......................................... 13
1.2.2. Đặc điểm phát triển xúc cảm – tình cảm của trẻ 5 tuổi ......................................... 29
1.2.3. Biểu hiện kỹ năng cảm nhận và thể hiện cảm xúc của trẻ. .................................. 31
1.2.4. Nội dung kỹ năng cảm nhận và thể hiện cảm xúc của trẻ 5 tuổi trong “Chương
trình giáo dục mầm non” và trong bộ “Chuẩn phát triển của trẻ 5 tuổi”. ....................... 34
1.2.5. Vai trò của kỹ năng cảm nhận và thể hiện cảm xúc đối với sự phát triển của trẻ 5
tuổi ................................................................................................................................... 37
1.2.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển kỹ năng cảm nhận và thể
hiện cảm xúc của trẻ 5 tuổi.............................................................................................. 39

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KỸ NĂNG CẢM NHẬN VÀ THỂ HIỆN CẢM
XÚC CỦA TRẺ 5 TUỔI Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TẠI THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH. ......................................................................................................... 43
2.1. Tổ chức nghiên cứu.................................................................................................... 43
2.1.1. Mục đích nghiên cứu ............................................................................................. 43
2.1.2. Nội dung nghiên cứu ............................................................................................. 43
2.1.3. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................... 43

2


2.1.4. Hệ thống bài tập / tình huống đánh giá kỹ năng cảm nhận và thể hiện cảm xúc của
trẻ 5 tuổi........................................................................................................................... 44

CTGDMN

: Chương trình giáo dục mầm non

EQ

: Chỉ số cảm xúc

GVMN

: Giáo viên mầm non.

IQ

: Chỉ số thông minh

KN

: Kỹ năng

MN TT

: Mầm non Tuổi Thơ

Tp. HCM

: Thành phố Hồ Chí Minh

UNESCO


người có được những tiêu chuẩn đạo đức tốt. Cho dù trí thông minh cảm xúc vẫn tiếp tục
được phát triển và hoàn thiện cho đến khi trưởng thành, song các nhà khoa học vẫn cho
rằng, thời điểm quyết định đối với nhân tố này là giai đoạn đầu tiên của cuộc đời.
Một số nghiên cứu cho thấy giai đoạn từ 3 đến 8 tuổi là giai đoạn quan trọng trong
suốt cuộc đời học tập của trẻ. Trẻ rất đam mê tìm hiểu các điều mới và mọi thứ xung
quanh. Chính vì vậy đây là giai đoạn cốt lõi để xây dựng nền tảng các kỹ năng cho trẻ
thông qua việc cung cấp kiến thức về thế giới xung quanh. Đặc biệt, lứa tuổi mẫu giáo 5
– 6 tuổi là lứa tuổi ngập tràn cảm xúc, độ tuổi mà trẻ có thể nói rõ ràng cảm xúc của
mình, bộc lộ cảm xúc ra lời nói, nét mặt, cử chỉ..., có thể thay đổi hành vi, cảm xúc cho
phù hợp với hoàn cảnh. Hơn nữa theo các nhà nghiên cứu gần đây, họ cho rằng chỉ số IQ
cao cũng không quyết định sự thành công trong cuộc sống của một con người mà sự
thành công đó dựa vào sự phát triển của chỉ số EQ : trí tuệ cảm xúc. Những trẻ có trí tuệ
5


cảm xúc cao sẽ dễ dàng hòa nhập với bạn bè, thầy cô và mọi người xung quanh mà trẻ
tiếp xúc, trẻ có khả năng thay đổi hành vi phù hợp với hoàn cảnh, kiểm soát được hành
vi của mình trong giao tiếp. Ngược lại với trẻ có chỉ số EQ thấp, trẻ sẽ ít bạn bè, sống
thu mình, khó hòa nhập, đây là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc
học kém. Trong tương lai, những trẻ EQ thấp cũng khó tạo ra các mối quan hệ tốt để
phát triển sự nghiệp. Tình trạng thiếu xúc cảm còn có thể dẫn đến những chuyện tồi tệ
hơn, chẳng hạn như phạm tội. Các vụ hành hạ người khác hay giết người hàng loạt là
dẫn chứng của sự vô cảm.
Chính giai đoạn này cần có những tác động cần thiết của giáo dục để trẻ phát triển
chỉ số cảm xúc giúp hình thành những phẩm chất cần thiết cho cuộc sống tương lai, hình
thành tinh thần trách nhiệm và các cảm xúc dương tính với môi trường xung quanh.
Tuy nhiên ở trường mầm non, các giáo viên mầm non quan tâm nhiều đến lĩnh vực
phát triển thể chất, nhận thức cho trẻ mà ít chú ý đến việc phát triển kỹ năng cảm nhận
và thể hiện cảm xúc cho trẻ .
Chính vì những lý do trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “ Kỹ năng cảm nhận và thể

người khác (Cô giáo, bạn bè) trong hoạt động giáo dục trẻ ở trường mầm non.
6.2 Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu trẻ 5 tuổi tại trường mầm non
- Mầm non 19/5, Q1, Tp. HCM
- Mầm non TT, Q9, Tp. HCM
7. Phương pháp nghiên cứu
1.7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổ hợp sách, báo, tạp chí chuyên ngành có liên quan đến các vấn đề :
kỹ năng cảm nhận và thể hiện cảm xúc của trẻ 5 tuổi….từ đó xây dựng cơ sở lý luận
của đề tài.
1.7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
1.7.2.1. Phương pháp quan sát
- Mục đích: nhận định rõ hơn thực trạng kỹ năng cảm nhận và thể hiện cảm xúc
của trẻ ở trường mầm non.
7


- Đối tượng: 115 trẻ 5 tuổi.
- Cách thực hiện: Chúng tôi tiến hành quan sát việc thực hiện kỹ năng của trẻ
trong hoạt động giáo dục trong trường:


Quan sát trẻ từ khi trẻ bắt đầu đến trường và những hoạt động của trẻ trong

ngày.


Quan sát trẻ trong các tiết học và khi vui chơi trong điều kiện bình thường để

đánh giá thực trạng một cách cụ thể

Nhà tâm lý học Isarel (Quốc tịch Mỹ) Reuven Bar – On là người đầu tiên đưa ra
thuật ngữ EQ (Emotional Intelligence Quotient) trong luận án tiến sĩ của mình năm
1985. Ông đặt trí tuệ cảm xúc trong phạm vi lý thuyết nhân cách, đưa ra mô hình
Well – being (1997) với ý định trả lời câu hỏi “Tại sao một người nào đó lại có khả
năng thành công trong cuộc sống hơn người khác”. Ông đã nhận diện được 5 khu vực
bao quát về mặt chức năng phù hợp với thành công trong cuộc sống:
- Các kỹ năng làm chủ cảm xúc của mình
- Các kỹ năng điều chỉnh cảm xúc liên cá nhân
- Tính thích ứng
- Kiếm soát stress
- Tâm trạng chung.
Peter – Salovey và John Mayer (1990) đã đưa ra lý thuyết “ Trí tuệ cảm xúc”
trong một bài báo. Thuật ngữ này được hiểu là năng lực làm chủ, điều khiển, kiểm
soát cảm xúc, tình cảm của mình và của người khác để sử dụng thông tin này định
hướng cách suy nghĩ và cách hành động của một cá nhân.
Năm 1997, John Mayer và Salovey chính thức định nghĩa: “ Trí tuệ cảm xúc là
năng lực nhận biết, bày tỏ cảm xúc, hòa cảm xúc vào suy nghĩ, hiểu, suy luận với xúc
cảm, điều khiển, kiểm soát cảm xúc của mình và của người khác.”
Daniel Golman, tiến sĩ tâm lý học của Đại học Havard – người phụ trách chuyên
9


mục của tờ tạp chí Times, tập hợp những kết quả nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc và đã
viết cuốn sách “Trí tuệ cảm xúc: Tại sao nó có thể quan trọng hơn IQ đối với tính
cách, sức khỏe và sự thành công trong suốt cuộc đời?”.
Ở các nước phương Tây, việc giáo dục kỹ năng sống vận dụng một cách tổng
hợp quan điểm của những nghiên cứu của các tổ chức như WHO, UNICEF để giáo
dục kỹ năng sống cho thanh thiếu niên. Nhiều áp dụng chuyên biệt đã định hướng rèn
luyện kỹ năng sống cho thanh thiếu niên dựa vào những nhóm kỹ năng như: kỹ năng
thuộc về tâm lý cá nhân, kỹ năng trong mối quan hệ với người khác, kỹ năng cộng

của tác giả Pat Broadhead cung cấp cho học sinh một bộ công cụ hoàn hảo cho việc
nhận xét và tham gia các trò chơi của trẻ. Sách giúp cho giáo viên, đặc biệt là giáo
viên trẻ hiểu được mối quan hệ giữa việc phát triển trí thông minh với sự phát triển về
ngôn ngữ - đạt được trạng thái tốt về cảm xúc. [56]
1.1.2. Nghiên cứu ở Việt Nam

Trên các tạp chí Tâm lý học và giáo dục học những năm gần đây đã có nhiều bài
viết về trí tuệ cảm xúc.
Đề tài KX – 05 – 06, các tác giả Trần Kiều, Nguyễn Huy Tú, Nguyễn Công
Khanh và nhiều tác giả đã tiến hành đo lường cả ba chỉ số trí tuệ: trí tuệ thông minh,
trí tuệ cảm xúc, chỉ số sáng tạo. Trong đó trí tuệ cảm xúc được xem là một trong ba
thành tố của trí tuệ.
Công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Dung (2002) đã tiến hành đo lường trí
tuệ cảm xúc của giáo viên trung học cơ sở để xem IQ hay EQ đóng vai trò quan trọng
hơn trong công tác chủ nhiệm.
Năm 2005, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của trường Đại học Sư phạm Hà
Nội do tác giả Nguyễn Trọng Thủy chủ nhiệm đã sử dụng công cụ trắc nghiệm để đo
chỉ số cảm xúc của sinh viên hai trường Đại học: Sư phạm Hà Nội và Sư phạm Thái
Nguyên. Bộ công cụ này được nhiều tác giả khác sử dụng trong quá trình nghiên cứu
mức độ biểu hiện trí tuệ cảm xúc của các nhóm khách thể khác nhau.
Năm 2008 tác giả Đỗ Thị Hiền đã nghiên cứu mức độ biểu hiện trí tuệ cảm xúc
của sinh viên trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội, trong đó tác giả có đề cập đến
bản chất của trí tuệ cảm xúc và cho rằng: Trí tuệ cảm xúc là một cấu trúc phức hợp
của nhiều năng lực khác nhau liên quan đến lĩnh vực cảm xúc. Trong đề tài này tác
11


giả đã nêu ra các bước giúp cá nhân nâng cao trí tuệ cảm xúc. Như vậy, theo tác giả
Đỗ Thị Hiền, trí tuệ cảm xúc có thể thay đổi theo thời gian và cá nhân có thể rèn
luyện nâng cao trí tuệ cảm xúc.

Long, tác giả đã đi tìm hiểu thực trạng kỹ năng sống và bước đầu thử nghiệm tác
động tâm lý để nâng cao một số kỹ năng của học sinh: Kỹ năng tự nhận thức bản
thân, kỹ năng ứng xử trong giao tiếp, kỹ năng chia sẻ và hợp tác, kỹ năng phân biệt
hợp lý và hành vi cho hợp lý.
Cũng nghiên cứu về kỹ năng sống, nhưng tác giả Mai Hiền Lê lại hướng đến đối
tượng là trẻ mầm non, với đề tài: “Một số biểu hiện kỹ năng sống của trẻ lớp mẫu
giáo lớn trường mầm non Thực hành Thành phố Hồ Chí Minh”. Tác giả đã khảo sát
được kỹ năng sống của trẻ mẫu giáo tại một trường mầm non và bước đầu thử
nghiệm nâng cao kỹ năng sống của trẻ và tác giả cũng chỉ dừng lại ở một kỹ năng
giao tiếp.
Như vậy, cũng có nhiều tác giả đã nghiên cứu về các vấn đề trí tuệ cảm xúc, kỹ
năng sống của trẻ mẫu giáo, các tác giả tập trung nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của
trí tuệ cảm xúc đối với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, và một số kỹ năng chủ
yếu như: ý thức bản thân, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác….hầu như chưa có tác
giả nào nghiên cứu về kỹ năng cảm nhận và thể hiện cảm xúc của trẻ 5 tuổi.
1.2. Cơ sở lý luận về kỹ năng cảm nhận và thể hiện cảm xúc của trẻ 5 tuổi
1.2.1. Một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1.1. Kỹ năng, kỹ năng sống

a. Kỹ năng
Có nhiều tác giả trong nước và ngoài nước đã đưa ra những quan niệm khác
nhau về kỹ năng. Với mỗi quan niệm, các tác giả đã chứng minh một cách sinh động
nhất về khái niệm kỹ năng.
Theo từ điển Tiếng Việt, kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu
nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế.[53, tr.517]
Từ điển Oxford định nghĩa “skill” – kỹ năng là khả năng tìm ra giải pháp cho
một vấn đề nào đó và có được nhờ rèn luyện.[55, tr.15 – trích theo]
Theo từ điển Tâm lý học do tác giả Vũ Dũng chủ biên, kỹ năng là “năng lực vận
dụng có kết quả những tri thức về hành động đã được chủ thể lĩnh vực để thực hiện
13

 Quan niệm xem kỹ năng là một năng lực của con người
14


Tác giả A.V. Petrovxki cho rằng “Kỹ năng là cách thức cơ bản để chủ thể thực
hiện hành động, thể hiện bởi tập hợp những kiến thức thu lượm được, những thói
quen và kinh nghiệm”. Cụ thể hơn, tác giả viết: “năng lực sử dụng các sự kiện, các tri
thức và kinh nghiệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những bản chất của
các sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ lý luận hay thực hành xác định,
được gọi là kỹ năng”.[28]
Các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết, Trần Thị Quốc Minh cũng
cùng quan điểm trên cho rằng, kỹ năng là một mặt của năng lực con người thực hiện
một công việc có kết quả.
Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng, kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một
hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để
hành động phù hợp với những điều kiện cho phép.[34, tr.6].
Như vậy, với các quan điểm trên, chúng ta thấy rằng, kỹ năng không chỉ là thao
tác mà còn biểu hiện ở năng lực. Một người có kỹ năng hành động là phải nắm bắt
được cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có hiệu quả. Kỹ năng của một
người không phải tự nhiên mà có, nó phải thông qua rèn luyện, luyện tập thường
xuyên thì mới có được.
 Đặc điểm của kỹ năng
- Ý thức đóng vai trò tích cực và thường trực. Trong quá trình thực hiện một
hành động, chủ thể thực hiện một kỹ năng nào đó thì chính chủ thể luôn sử dụng ý
thức để nhận biết được các thao tác và hành động cụ thể.
- Khi thực hiện kỹ năng, chủ thể phải sử dụng các loại tri thức khác nhau để
kiểm tra các thao tác thực hiện.
- Tùy vào từng mức độ kỹ năng của mỗi chủ thể mà các thao tác được thực hiện
đầy đủ, chính xác đến mức độ nào. Tuy nhiên, khi thực hiện kỹ năng, thường những
động tác thừa, động tác phụ chưa được loại trừ.


3

Mức độ 3

4

Mức độ 4

5

Mức độ 5

Biết cách thực hiện hành động nhưng không đầy đủ
Có những kỹ năng chung nhưng còn mang tính chất
rời rạc riêng lẽ
Có những kỹ năng chuyên biệt để hành động
Vận dụng sáng tạo những kỹ năng trong các tình
huống khác nhau.

Theo quan điểm của V.B. Bexpalko, có 5 mức độ kỹ năng : từ những kỹ năng
ban đầu đến những kỹ năng đạt mức độ hoàn hảo.
- Mức độ 1: Kỹ năng ban đầu
Người học đã có những kiến thức về nội dung một dạng kỹ năng nào đó, và
trong những tình huống cụ thể khi cần thiết, sẽ có thể tái hiện thành những thao tác,
hành động nhất định. Tuy nhiên, ở mức độ kỹ năng ban đầu này người học thường
chỉ thực hiện yêu cầu của kỹ năng này dưới sự hướng dẫn của người dạy.
- Mức độ 2 : Kỹ năng thấp
Khác với mức độ 1, ở mức dộ kỹ năng thấp, người học có thể tự thực hiện các
thao tác, hành động cần thiết theo một trình tự đã biết. Song ở mức độ kỹ năng này,

mạnh về tinh thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với
người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh. Năng lực tâm lý xã hội có
vai trò quan trọng trong việc phát huy sức khỏe theo nghĩa rộng nhất về thể chất, tinh
17


thần và xã hội. Kỹ năng sống là khả năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lý xã hội
này.
Tác giả Xkomni thì cho rằng: Kỹ năng sống là khả năng con người thực hiện
hành vi thích ứng với những đòi hỏi và thách thức trong cuộc sống. Kỹ năng sống thể
hiện năng lực sống của con người trong cuộc sống cá nhân, trong mối quan hệ xã
hội…
Từ góc độ tâm lý học tác giả Nguyễn Quang Uẩn khẳng định: Kỹ năng sống là
một tổ hợp phức tạp của một hệ thống kỹ năng nói lên năng lực sống của con người,
giúp con người thực hiện công việc và tham gia vào cuộc sống hằng ngày có kết quả,
trong những điều kiện xác định của cuộc sống. [48,tr .1-4]
Ở trên là các quan niệm khác nhau về kỹ năng sống, tuy nhiên, chúng ta có thể
thấy các quan niệm trên đều có những điểm chung khi nói về kỹ năng sống đó là kỹ
năng sống giúp con người vượt qua những trở ngại thách thức của cuộc sống, giúp
con người thích nghi hơn với cuộc sống. Từ đó, chúng tôi đưa ra quan niệm kỹ năng
sống như sau:
Kỹ năng sống là những năng lực tâm lý – xã hội cơ bản giúp cá nhân thích ứng
và tồn tại trong cuộc sống. Những kỹ năng này giúp cá nhân thể hiện năng lực của
mình thích nghi với những thách thức trong cuộc sống và phát triển.
c. Phân loại kỹ năng sống
Tùy theo quan niệm khác nhau về kỹ năng sống mà số lượng và tên gọi của
những kỹ năng sống sẽ khác nhau. Có thể đề cập đến những cách phân loại sau.
 Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO)
Theo WHO, danh sách kỹ năng sống có thể rất dài, nhưng các kỹ năng có thể
chấp nhận ở những nền văn hóa khác nhau được xác định là các kỹ năng cơ bản sau:

chúng ta có thái độ phù hợp với những người cần sự giúp đỡ, chăm sóc chúng ta.
- Ứng phó với cảm xúc
Nhìn nhận các cảm xúc nơi ta và nơi người khác, ý thức được cảm xúc ảnh
hưởng đến hành vi như thế nào và khả năng ứng phó với cảm xúc một cách phù hợp
- Ứng phó với stress
Biết nhận ra các nguyên nhân gây ra stress trong đời sống chúng ta, nhận ra
stress tác động đến chúng ta như thế nào và hành động để giảm bớt các nguồn gây ra
19


stress, giữ stress ở mức độ chấp nhận được, hoặc học cách thư giãn để giữ sự căng
thẳng không hại sức khỏe.
 Theo tổ chức Văn hóa, Khoa học, và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO)
Theo tổ chức UNESCO thì kỹ năng phải phân chia dựa trên những kỹ năng cơ
bản cũng như những kỹ năng chuyên biệt trong đời sống cá nhân của con người ở
những mối quan hệ khác nhau cũng như ở những lĩnh vực khác nhau. Theo đó, có thể
có những nhóm kỹ năng sống như sau:
1. Nhóm kỹ năng chung
Bao gồm những kỹ năng cơ bản của mỗi cá nhân đều có thể thích ứng với cuộc
sống chung, bao gồm các kỹ năng nhận thức, kỹ năng liên quan đến cảm xúc và các
kỹ năng cơ bản về xã hội
2. Nhóm kỹ năng chuyên biệt
Bao gồm các kỹ năng thể hiện trong các lĩnh vực cụ thể khác nhau của đời sống
xã hội như: Các kỹ năng về sức khỏe và dinh dưỡng, kỹ năng liên quan đến giới và
giới tính, các kỹ năng liên quan đến các vấn đề xã hội như ma túy, HIV- AIDS, các
kỹ năng liên quan đến môi trường thiên nhiên, các vấn đề bạo lực, rủi ro, những kỹ
năng liên quan đến đời sống gia đình, môi trường cộng đồng, hòa bình và giải quyết
xung đột, phòng tránh buôn bán trẻ em và phụ nữ.
d. Theo quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF)
Tổ chức này nghiên cứu sâu về kỹ năng sống dưới góc độ tồn tại và phát triển

tương lai. Những kỹ năng cần thiết cho các mối quan hệ, các hoạt động khác nhau
trong cuộc sống mà trẻ cần phải học tập ngay lúc này, giai đoạn trẻ 5 – 6 tuổi, những
kỹ năng hướng tới sự phát triển toàn diện cho trẻ: kỹ năng phát triển thể chất, kỹ năng
phát triển nhận thức, kỹ năng phát triển tình cảm, xã hội, kỹ năng phát triển ngôn ngữ
- giao tiếp. Kỹ năng cảm nhận và thể hiện cảm xúc cũng là một kỹ năng cần rèn luyện
cho trẻ.
1.2.1.2. Cảm xúc

a. Định nghĩa
Có nhiều ý kiến khác nhau khi bàn về khái niệm cảm xúc.
Theo tác giả Vũ Dũng: “ Cảm xúc là sự phản ánh tâm lý về mặt ý nghĩa rung
động của các hiện tượng và hoàn cảnh, tức các mối quan hệ giữa các thuộc tính khách
21


quan của chúng với nhu cầu của chủ thể, dưới hình thức những rung động trực
tiếp”.[8, tr. 24]
Theo từ điển “ Random House Dictionary of the English Language” định nghĩa:
Cảm xúc chính là những phản ứng mạnh mẽ của ý thức được thể hiện bằng sự vui
mừng, đau khổ, sợ hãi, yêu, ghét, và khác biệt với những phản ứng của ý chí và tư
duy.” [54, tr.19]
Theo từ điển Tâm lý học của tác giả Nguyễn Khắc Viện định nghĩa về cảm xúc
như sau: Cảm xúc là phản ứng rung chuyển của con người trước một kích động vật
chất hoặc một sự việc gồm hai mặt: những phản ứng sinh lý do thần kinh thực vật
như tim đập nhanh, toát mồ hôi, nội tiết tăng hay giảm, cơ bắp co thắt, hoặc run rẩy,
rối loạn tiêu hóa. Phản ứng tâm lý qua những thái độ, lời nói, hành vi và cảm giác dễ
chịu, khó chịu, vui sướng, buồn khổ, có tính bộc phát, chủ thể kiềm chế khó khăn”
[52, tr.30]
Theo nhà tâm lý học người Mỹ John Mayer thì “ Cảm xúc là một trạng thái tinh
thần (bao gồm trong đó những quá trình và phản ứng tâm lý) truyền tải những thông

thực hiện. Vì vậy, trên cở sở đọc được những thông điệp phản ứng của cơ thể và nhận
thức vấn đề, chúng ta có khả năng hành dộng sữa chữa phù hợp hơn.
 Chức năng xây dựng và sắp xếp cái mối quan hệ
Cảm xúc nói cho con người biết bản chất các mối quan hệ xã hội mà mình đang
có và cách thức kiểm soát chúng. Chúng thông báo cho chúng ta biết mối quan hệ họ
đạt đỉnh cao hay bị phá vỡ hoặc trong tình trạng cần vun đắp thêm. Cảm xúc có thể
được nhạn thấy trên khuôn mặt và giọng nói của một người, và bằng cách đó chúng
điều chỉnh bản thân người đó hay người khác.
Mỗi cảm xúc xác định mối quan hệ của cá nhân và người khác hay với môi
trường xung quanh.
Cảm xúc làm cho cuộc sống thêm màu sắc, có giá trị và ý nghĩa.
Con người không thể trải nghiệm cảm xúc thì họ sẽ thiếu định hướng, không
biết cái gì là quan trọng đối với mình. Hơn nữa, nó là cách thức biểu đạt và bộc lộ
trạng thái tâm lý của cá nhân cho người khác biết.
c. Vai trò của cảm xúc
 Vai trò cảm xúc đối với sinh lý cơ thể
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status