biểu hiện tình cảm của trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi ở một số trường mầm non tại thành phố hồ chí minh - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Trần Hoàng Thị Thu Thủy

BIỂU HIỆN TÌNH CẢM CỦA TRẺ MẪU GIÁO
5 - 6 TUỔI Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Trần Hoàng Thị Thu Thủy

BIỂU HIỆN TÌNH CẢM CỦA TRẺ MẪU GIÁO
5 - 6 TUỔI Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : Tâm lí học
Mã số

: 60 31 04 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÌNH CẢM CỦA TRẺ MẪU GIÁO
5 - 6 TUỔI ................................................................................................. 6
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề xúc cảm, tình cảm...................................................... 6
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề xúc cảm, tình cảm trên thế giới .......................... 6
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề xúc cảm, tình cảm ở Việt Nam ........................... 8
1.2. Lý luận về biểu hiện tình cảm của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ................................. 12
1.2.1. Một số khái niệm có liên quan ..................................................................... 12
1.2.2. Đặc điểm tình cảm của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ........................................... 27
1.2.3. Biểu hiện tình cảm của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động vui chơi ... 30
1.2.4. Nội dung lĩnh vực tình cảm của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong Chương
trình giáo dục mầm non và trong bộ Chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi ........... 36
1.2.5. Vai trò của tình cảm đối với sự phát triển của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ........ 39
1.2.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến biểu hiện tình cảm của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ... 43
Tiểu kết chương 1 ........................................................................................................ 52
Chương 2. THỰC TRẠNG BIỂU HIỆN TÌNH CẢM CỦA TRẺ MẪU GIÁO
5 – 6 TUỔI Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TẠI THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH ............................................................................... 54
2.1. Tổ chức nghiên cứu thực trạng ........................................................................... 54
2.1.1. Mục đích nghiên cứu .................................................................................... 54
2.1.2. Nội dung nghiên cứu .................................................................................... 54
2.1.3. Phương pháp nghiên cứu.............................................................................. 54



ĐLC

: Độ lệch chuẩn

ĐTB

: Điểm trung bình

ĐVTCĐ

: Đóng vai theo chủ đề

HĐVC

: Hoạt động vui chơi

MG

: Mẫu giáo

MNSG

: Mầm non Sài Gòn

MNTH

: Mầm non Thực Hành

TCTT


Đánh giá của giáo viên về biểu hiện TCTT của trẻ MG 5 – 6 tuổi ...........65

Bảng 2.5.

Biểu hiện tình cảm đạo đức của trẻ MG 5 – 6 tuổi ....................................66

Bảng 2.6.

Đánh giá của giáo viên về biểu hiện xúc cảm của trẻ MG 5 – 6 tuổi ........68

Bảng 2.7.

Đánh giá của giáo viên về biểu hiện TCĐĐ của trẻ MG 5 – 6 tuổi ..........70

Bảng 2.8.

Biểu hiện tình cảm thẩm mĩ của trẻ MG 5 – 6 tuổi ...................................71

Bảng 2.9.

Đánh giá của giáo viên về biểu hiện TCTM của trẻ MG 5 – 6 tuổi ..........73

Bảng 2.10. So sánh biểu hiện tình cảm của trẻ MG 5 - 6 tuổi theo giới tính ...............75
Bảng 2.11. So sánh các nhóm biểu hiện tình cảm của trẻ MG 5 – 6 tuổi theo giới tính ..77
Bảng 2.12. So sánh biểu hiện TCTT của trẻ MG 5 – 6 tuổi theo giới tính ..................78
Bảng 2.13. So sánh biểu hiện TCĐĐ của trẻ MG 5 - 6 tuổi theo giới tính .................80
Bảng 2.14. So sánh biểu hiện TCTM của trẻ MG 5 – 6 tuổi theo giới tính .................82
Bảng 2.15. So sánh biểu hiện tình cảm của trẻ MG 5 - 6 tuổi theo trường .................84
Bảng 2.16. So sánh các nhóm biểu hiện tình cảm của trẻ MG 5 - 6 tuổi theo trường .....85
Bảng 2.17. So sánh biểu hiện TCTT của trẻ MG 5 – 6 tuổi theo trường .....................87

Spinoza và rất nhiều nhà tâm lý học nổi tiếng thế giới như W.James, S.Freud, R.
Solomon, S.Tomkins, P.Ekmen, C.Izard, R.Plutchik,...
Nhiều nhà nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý học và xã hội học như H. Gardner, P.
Salovey, J. Mayer, D. Goleman đã đưa vấn đề giáo dục tình cảm lên hàng đầu với hai
lý do: Một là nhiều hiện tương tiêu cực liên quan đời sống của cá nhân và xã hội gia
tăng đến mức báo động mà một trong những nguyên nhân chủ yếu là để cho những
xúc cảm tiêu cực của trẻ phát triển không được chế ngự như hiện tượng vô cảm, rối
loạn cảm xúc, không diễn đạt được cảm xúc... Hai là trong thời đại khoa học kĩ thuật
phát triển mạnh mẽ, con người dường như sống trong một môi trường vô cảm từ nhỏ,
làm tàn lụi đi những xúc cảm tích cực hết sức cần thiết cho sự phát triển của mỗi con
người. Những đứa trẻ sinh ra và lớn lên ở các đô thị chịu sự ảnh hưởng của những hiện
tượng này rõ nhất. Cùng lúc đó, trẻ tiếp nhận một cách vô thức từ môi trường xung
quanh, từ người lớn, từ các phương tiện truyền thông và bắt chước cách thể hiện đó
làm cho tình cảm của trẻ có xu hướng bất ổn định [45, tr.381].
Trong quá trình trưởng thành, con người tiếp thu rất nhiều thứ để phát triển trí óc
nhưng tình cảm là cái phải được nuôi dưỡng và bồi dưỡng từ nhỏ. Nhận thức được
điều này, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa nội dung giáo dục tình cảm vào trong
“Chương trình giáo dục mầm non” (CTGDMN) ban hành ngày 25 tháng 7 năm 2009.
Tình cảm và kỹ năng xã hội trở thành một trong năm lĩnh vực được quan tâm phát
triển cho trẻ, bên cạnh thể chất, nhận thức, ngôn ngữ và thẩm mĩ. Bộ Giáo dục và Đào
tạo tiếp tục đưa tình cảm vào thành một trong những nội dung đánh giá của bộ “Chuẩn
phát triển trẻ em năm tuổi” (CPTTENT) ban hành kèm theo thông tư số 23/2010/TTBGDĐT ngày 22 tháng 7 năm 2010 [6], [7].


2

Nhiều công trình nghiên cứu khoa học dưới góc độ sinh lý, tâm vận động, tâm lý
xã hội... đã khẳng định sự phát triển của trẻ từ 0 - 6 tuổi là giai đoạn phát triển có tính
quyết định để tạo nên thể lực, nhân cách, năng lực phát triển trí tuệ trong tương lai. Sự
phát triển về mặt tình cảm đan cài trong sự phát triển của trẻ ở các lĩnh vực khác. Đặc

Trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh.
4. Giả thuyết nghiên cứu
Tình cảm của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non tại thành phố Hồ
Chí Minh đã biểu hiện phong phú, sâu sắc và bền vững. Có sự khác biệt giữa các tham
số nghiên cứu (giới tính, trường mầm non) của đề tài.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
− Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến đề tài.
− Nghiên cứu thực trạng biểu hiện tình cảm của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi và đề xuất
một số biện pháp nhằm làm cho biểu hiện tình cảm của trẻ phong phú, sâu sắc và bền
vững hơn.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Người nghiên cứu sẽ tiến hành nghiên cứu biểu
hiện tình cảm của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong hoạt động vui chơi. Trong đó, trọng tâm
là nghiên cứu 31 biểu hiện cụ thể của ba loại tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức, tình
cảm thẩm mĩ ở góc độ xu hướng phát triển tình cảm của trẻ.
− Giới hạn về địa bàn: Vì thời gian và kinh phí có hạn, chúng tôi chỉ tiến hành
nghiên cứu đề tài này trên 100 trẻ, 20 giáo viên, 10 phụ huynh tại 2 trường mầm non
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (Tp HCM).
+ Trường mầm non Thực Hành (MNTH), địa chỉ: 182 Nguyễn Chí Thanh,
P. 3, Q.10.
+ Trường mầm non Sài Gòn (MNSG), địa chỉ: 449 Lê Hồng Phong, P. 2, Q.10.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
− Mục đích: tìm ra cơ sở lí thuyết, hệ thống hóa nội dung và xây dựng công cụ
nghiên cứu cho đề tài.
− Cách thức: nghiên cứu hệ thống các tài liệu đã được xuất bản, các trang thông
tin điện tử và các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát


− Cách thức xây dựng phiếu điều tra:
+ Dựa trên cơ sở lý thuyết để thiết kế nội dung câu hỏi.


5

+ Thiết kế bảng câu hỏi mở để trưng cầu ý kiến, lấy đó làm cơ sở để xây dựng
phiếu điều tra hoàn chỉnh.
− Thu thập số liệu tiến hành trên giáo viên mầm non có phụ trách các lớp mẫu
giáo 5 – 6 tuổi.
− Xử lý và phân tích số liệu sau khi thu thập được.
7.2.4. Phương pháp phỏng vấn
− Mục đích: khai thác thông tin của trẻ về nguyên nhân của một số biểu hiện từ
kết quả quan sát và sản phẩm tranh vẽ, thu thập ý kiến của giáo viên mầm non nhằm
làm rõ một số biểu hiện về tình cảm của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở các lớp phụ trách,
thu thập ý kiến của phụ huynh có con em đang học lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi về một số
biểu hiện về tình cảm của trẻ ở nhà và trong đời sống.
− Cách thức:
+ Thiết kế bảng câu hỏi phỏng vấn dự kiến.
+ Trò chuyện với một số trẻ trong quá trình quan sát trẻ chơi, vẽ tranh của trẻ.
+ Tiến hành phỏng vấn giáo viên tại trường và phỏng vấn phụ huynh tại điểm
hẹn. Có ghi chép, thu âm và ghi hình nếu được phép.
7.3. Phương pháp thống kê toán học
− Sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để xử lý số liệu như: tình tần số, tỷ lệ phần
trăm, trị số trung bình, kiểm nghiệm T... từ đó bình luận kết quả để làm rõ các dữ liệu
định lượng của đề tài.
8. Đóng góp của đề tài
8.1. Về mặt lý luận
− Đề tài tổng hợp được cơ sở lý luận về biểu hiện tình cảm của trẻ mẫu giáo
5 – 6 tuổi.

Từ đó có rất nhiều hướng nghiên cứu khác nhau về xúc cảm. Hướng nghiên cứu
khía cạnh sinh lý về xúc cảm có thể kể đến một số lý thuyết sau:
Thuyết sinh lý về xúc cảm của Jame – Lange là lý thuyết tương đối đầy đủ đầu tiên
và đơn giản nhất về xúc cảm, ra đời nhờ sự kết hợp của nhà triết học, tâm lý học người
Mỹ, William James và nhà sinh lý người Đan Mạch, Carl Lange. Thuyết này coi xúc
cảm là tổng hợp các thay đổi sinh lý của cơ thể, xuất hiện trước một tác động từ bên


7

ngoài được con người nhận thức, chẳng hạn “Bạn đang run rẩy do đó bạn mới cảm
thấy sợ hãi” [9, tr.8].
Mặc dù lý thuyết James – Lange còn nhiều điểm khó chấp nhận nhưng nó cũng có
sức ảnh hưởng vào những năm 20 – 40 của thế kỷ XX, sau đó Walter Canon và Philip
Bard đã chứng minh rằng các trạng thái xúc cảm và những thay đổi sinh lý của cơ thể
xảy ra đồng thời nhưng độc lập với nhau, không có quan hệ hệ quả như lý thuyết của
James – Lange, gọi là lý thuyết Cannon-Bard [50].
Nhiều năm sau, Stanley Schachter và học trò của ông, Jerome Singer đã bổ sung
thêm yếu tố mới trong lí thuyết Schachter-Singer của mình. Họ cho rằng xúc cảm diễn
ra nhờ quan sát hoàn cảnh hiện tại của chúng ta và so sánh bản thân chúng ta với người
khác. Do đó xúc cảm là kết quả của quá trình gồm hai giai đoạn: kích thích sinh lý nói
chung và kinh nghiệm của cảm xúc [53]. Lí thuyết của Schachter-Singer đi theo hướng
nhận thức về xúc cảm.
Theo hướng nghiên cứu này còn có các nhà tâm lý học như H. Spencer (1890),
W.Wundt (1896), R.S.Woodworth (1938), S.L.Rubinxtein (1946), P.M.Iacovson
(1956), M.B.Arnold (1960), A.N.Leonchiev (1971), P.K.Anokhin (1964), R.Lazarus
(1964), P.V.Ximonov (1981), Luk (1982)... Các kết quả nghiên cứu của họ đã chứng
minh rằng nguồn gốc xúc cảm của con người là từ nhận thức [21]. Chẳng hạn lý thuyết
thẩm định xúc cảm (appraisal theory) của Magda B. Arnold và Richard Lazarus cho
rằng chất lượng và cường độ của cảm xúc được điều khiển bởi quá trình nhận thức

nhưng ông là người đi tiên phong trong việc nghiên cứu các chỉ số tình cảm và giới
thiệu rộng rãi đến đọc giả thông qua quyển Emotional Intelligence xuất bản năm 1995.
Tác giả đã đưa ra những chứng cứ, lập luận để đánh giá đúng đắn về tầm quan trọng
ngang bằng giữa phần lý trí và phần xúc cảm của não bộ [13].
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề xúc cảm, tình cảm ở Việt Nam
Tình cảm là một nội dung cơ bản và quan trọng, hiện diện trong các lĩnh vực tâm
lý học khác nhau, từ tâm lý học đại cương, tâm lý học nhân cách, tâm lý học lứa tuổi
cho đến tâm lý học xã hội của các tác giả Việt Nam. So với đời sống nhận thức thì đời
sống tình cảm là một lĩnh vực tâm lí đặc biệt phức tạp và tế nhị. Chính vì lẽ đó mà rất
ít công trình nghiên cứu khoa học về tình cảm, chủ yếu các tác giá đề cập đến xúc cảm
hoặc khai thác các khía cạnh khác nhau của tình cảm.
Rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học về trí tuệ xúc cảm trên các đối tượng
khác nhau như giáo viên, học sinh, sinh viên, giám đốc doanh nghiệp, nhà tham vấn
tâm lý... như luận án tiến sĩ của các tác giả Dương Thị Hoàng Yến (2010), Nguyễn


9

Ngọc Quỳnh Dao (2013), Võ Thị Tường Vy (2013); luận văn thạc sĩ của các tác giả
Phan Trọng Nam (2007), Võ Hoàng Anh Thư (2010); và nhiều bài viết đăng trên tạp
chí Tâm lý học của Nguyễn Công Khanh (2005), Nguyễn Hồi Loan (2007), Nguyễn
Thị Dung (2007), Đỗ Thị Hạnh Nga (2009), Nguyễn Thị Hiền (2009).
Một số vấn đề lí luận tổng quát về xúc cảm được các tác giả Nguyễn Văn Thiêm
(2005), Nguyễn Đức Sơn (2005), Lê Khanh (2007), đề cập trong các bài viết của mình
như “Xúc cảm dẫn đường cho logic như thế nào”, “Xúc cảm hướng dẫn lựa chọn”,
“Vấn đề xúc cảm và sự cần thiết nghiên cứu xúc cảm trong hoạt động dạy học”, “Ý
thức và vô thức trong lĩnh vực xúc cảm – tình cảm của con người”. Một số tác giả
khác lại nghiên cứu xúc cảm trong những hoàn cảnh cụ thể như “Cảm xúc của trẻ lang
thang kiếm sống trên đường phố Hà Nội” của tác giả Văn Thị Kim Cúc và Hoàng Gia
Trang (2004), “Cảm xúc của người mẹ lần đầu sinh con” của Trần Thị Phương Thảo

tuổi tại Tp HCM thông qua phương pháp tranh vẽ người. Trong đó kết quả tranh vẽ
cho thấy: đặc điểm cảm xúc đáng chú ý của trẻ 5 – 6 tuổi Việt Nam là tính cởi mở thể
hiện ở trẻ nam có phần trội hơn ở trẻ nữ và tính biểu lộ là đặc điểm tâm lý nổi trội của
trẻ nữ so với nam; trương lực tâm vận động của phần lớn trẻ 5 – 6 tuổi trong nghiên
cứu này là bình thường; ở những trẻ có sự không ổn định về cảm xúc, trầm cảm và lo
âu thì yếu tố quan hệ gia đình không thành công là nguyên nhân chính gây ra những
rối loạn này [2].
Tình cảm ngày càng khẳng định được vị trí quan trọng của mình trong tâm lý học
và tách riêng thành một nội dung nghiên cứu độc lập trong các đề tài về biểu hiện xúc
cảm, tình cảm của các lứa tuổi.
Tác giả Đào Thị Oanh (2008) nghiên cứu thực trạng biểu hiện của một số xúc cảm
và kỹ năng đương đầu với xúc cảm tiêu cực của hơn 2000 học sinh thiếu niên thuộc
các khu vực Hà Nội, TP HCM, Cần Thơ, Hà Tây. Kết quả cho thấy học sinh thiếu niên
có biểu hiện xúc cảm tích cực là chủ yếu, không có sự khác biệt giữa học sinh nam và
nữ, giữa học sinh nội thành và ngoại thành, giữa các khối lớp về xu hướng biểu hiện
chung của các xúc cảm. Các em cũng chưa biết cách đương đầu hiệu quả với các xúc
cảm tiêu cực [31].
Tác giả Lê Mỹ Dung (2013) nghiên cứu thực trạng biểu hiện xúc cảm tiêu cực
trong hoạt động học tập của học sinh tiểu học tại Hà Nội và Đà Nẵng. Từ kết quả
nghiên cứu tác giả thấy được xúc cảm tiêu cực của học sinh tiểu học biểu hiện khá rõ
với các biểu hiện chủ yếu nhất là thờ ơ, sợ hãi, tức giận và buồn [12].


11

Đề tài “Biểu hiện xúc cảm – tình cảm của trẻ mồ côi 7 – 11 tuổi qua tranh vẽ tại
làng trẻ em SOS Gò Vấp TP HCM” của tác giả Trần Thị Thu Vân (2013) đã hé lộ
phần nào các cảm xúc đa dạng như vui vẻ, yêu thương, căm giận, buồn tủi, nhớ thương
về gia đình của những em có hoàn cảnh đặc biệt này [48].
Mặc dù nghiên cứu biểu hiện xúc cảm, tình cảm của trẻ mầm non khó hơn so với

a. Khái niệm
Lịch sử nghiên cứu tình cảm đã trải qua hàng trăm năm với nhiều công trình lớn
nhỏ, từ đó nhiều định nghĩa tình cảm đã ra đời, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một
định nghĩa nào được nhất trí hoàn toàn. Nhìn chung khi đề cập tới xúc cảm và tình
cảm, các tác giả chủ yếu đề cập tới xúc cảm mà không phân biệt xúc cảm với tình cảm.
K.K.Platanov cho rằng “xúc cảm hay tình cảm, đó là một hình thái đặc biệt của
mối quan hệ của con người đối với các đối tượng và hiện tượng của hiện thực, được
quy định bởi sự phù hợp hay không phù hợp giữa các đối tượng và hiện tượng đối với
nhu cầu của con người [58].
Định nghĩa của A.V.Daparogiet: “Tình cảm hay xúc cảm là thái độ mà con người
trực tiếp thể nghiệm đối với hiện thực xung quanh và đối với bản thân” [1, tr.24].
Và định nghĩa của P.M.Iacovson: “Xúc cảm – tình cảm là những rung động,
trong đó biểu thị thái độ của con người đối với những người khác, đối với những sự
vật hiện tượng xung quanh, đối với cái họ nhận biết và hành động” [33].
Tuy xúc cảm và tình cảm đều là dạng phản ánh xúc cảm nhưng chúng không
đồng nhất với nhau. Xúc cảm là cơ sở hình thành tình cảm, tình cảm chỉ có được khi
các xúc cảm trở nên ổn định và bền vững. Trong đề tài này chúng tôi sử dụng thuật
ngữ “xúc cảm” với ý nghĩa như sau:
Theo từ điển tiếng Anh (Oxford English Dictionary,) xúc cảm được định nghĩa là
“một kích động hay một rối loạn tinh thần, tình cảm, đam mê, mọi trạng thái mãnh liệt
hay kích thích [13, tr.394].
Theo từ điển tâm lý học Liên Xô 1990, “xúc cảm là những rung cảm của cá nhân
đối với hiện tượng, hoàn cảnh có ý nghĩa trực tiếp đến nhu cầu của con người” [21].
Từ điển Tâm lý học do Nguyễn Văn Lũy – Lê Quang Sơn đồng chủ biên định
nghĩa “xúc cảm là một loại trạng thái và quá trình tâm lý đặc biệt, liên quan đến các
bản năng, các nhu cầu và các động cơ, phản ánh dưới hình thức các trải nghiệm trực
tiếp (hài lòng, niềm vui, sợ hãi...) ý nghĩa của các hiện tượng, các tình huống tác động


13



14

với tư cách một cá thể. Nó gắn liền với phản xạ không điều kiệm, bản năng. Do đó xúc
cảm có ở cả người và động vật.
Đặc điểm tiêu biểu của xúc cảm là xúc cảm luôn luôn ở trạng thái hiện thực.
Chúng xuất phát từ trạng thái tâm lý chủ quan bên trong nhưng luôn biểu hiện ra bên
ngoài qua giọng nói, cử chỉ, nét mặt, tư thế, động tác và cả những phản ứng có liên
quan đến những thay đổi trong hoạt động của hệ tim mạch, hô hấp, tuyến nội tiết... Có
thể nói xúc cảm xuất hiện thường kèm theo những biến đổi tâm sinh lý cho nên những
biểu hiện của nó có thể nhận biết được thông qua quan sát.
Xúc cảm ở người rất đa dạng, phong phú về mặt nội dung và hình thức biểu hiện.
Tùy theo loại xúc cảm mà dấu hiệu bộc lộ sẽ khác nhau. Xúc cảm xuất hiện và biểu
hiện tùy thuộc vào trạng thái chủ quan của chủ thể và tùy thuộc vào tính chất của các
kích thích. Điều này còn làm cho xúc cảm có tính nhất thời và phụ thuộc. Một số
người có khả năng che dấu xúc cảm, làm cho người khác không nhận biết được xúc
cảm thực của mình hoặc giả vờ có xúc cảm. Về mặt tâm lý, xúc cảm có thể làm tê liệt
tạm thời các phán đoán, suy luận và ý chí cá nhân [15], [18].
c. Các loại xúc cảm
Có rất nhiều cách để phân loại xúc cảm. Cách phân loại khái quát nhất là:
Hình thức sơ đẳng của xúc cảm là màu sắc xúc cảm của cảm giác. Đó là những
trải nghiệm bẩm sinh, di truyền, đi kèm với cảm giác riêng lẻ. Ở mức độ này, xúc cảm
được phân hóa thành hai cực: xúc cảm dương tính và xúc cảm âm tính. Xúc cảm
dương tính biểu hiện sự thỏa mãn, làm tăng nghị lực, thúc đẩy chủ thể hoạt động. Xúc
cảm âm tính biểu hiện sự không thỏa mãn, làm mất hứng thú, giảm nghị lực
[25, tr.759].
Ở mức độ thứ hai, xúc cảm là những rung cảm xảy ra nhanh chóng, nhưng mạnh
mẽ và rõ rệt hơn so với màu sắc xúc cảm của cảm giác. Nó là sự thể nghiệm trực tiếp
một tình cảm nào đó trong một hoàn cảnh nhất định. Tùy vào cường độ, thời gian tồn

hào, khoái cảm, mê li, hài lòng, sảng khoái, ngây nhất.
− Buồn: chán nản, ủ rũ, rầu rĩ, u sầu, thương thân, cô đơn, thất vọng.
− Ngạc nhiên: choáng váng, ngơ ngác, kinh ngạc.
− Sợ hãi: lo hãi, e sợ, sợ sệt, ghê sợ.
− Tức giận: cuồng nô, phẫn nộ, oán giận, nổi giận, bực tức, gay gắt, hung hãn, bất
mãn, cảm kích, thù địch, bạo lực.
− Xấu hổ: ý thức phạm lỗi, bối rối, phật ý, ăn năn, hối lỗi, hối tiếc.


Trích đoạn Cơ sở đề xuất biện pháp Các nhóm biện pháp nâng cao mức độ biểu hiện tình cảm cho trẻ mẫu Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status