BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG TRẺ TIẾP XÚC VỚI
NHẠC CỤ DÂN TỘC Ở MỘT SỐ
TRƯỜNG MẦM NON TẠI THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH
GVHD: ThS. NGUYỄN ANH TRƯỜNG
SVTH: TĂNG TƯỜNG PHƯỢNG HOÀNG
TP. Hồ Chí Minh, Tháng 5 Năm 2014
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy
Nguyễn Anh Trường đã chỉ bảo em hoàn thành luận văn này. Trong suốt thời
gian thực hiện luận văn, mặc dù rất bận rộn trong công việc nhưng thầy vẫn
giành nhiều thời gian và tâm huyết trong việc hướng dẫn em. Nhờ vậy mà em
có thêm nhiều hiểu biết về một lĩnh vực mới khi em mới bắt đầu bước vào
thực hiện luận văn. Trong quá trình thực hiện luận văn thầy luôn định hướng,
góp ý và sửa chữa những chỗ sai giúp em.
Em xin được gửi lời cám ơn đến Ban giám hiệu cùng tập thể giáo viên
khối lá của các trường:
Trường Mầm non Hồng Nhung _ Quận Gò Vấp.
Trường Mầm non Bàu Cát _ Quận Tân Bình.
Trường Mầm non Hoa Mai _ Quận 3.
Cô Nguyễn Thị Lộc _ Cựu phó hiệu trưởng trường mầm non
Hoa Mai
Đã tạo điều kiện cho em thực hiện tốt công tác khảo sát và cung cấp cho em
nhiều điều bổ ích về luận văn.
Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Giáo dục
động của nhà trường đó”.
Giáo dục âm nhạc trong trường mầm non góp phần cho sự phát triển
toàn diện của trẻ, giáo dục trẻ lòng yêu âm nhạc, biết cảm thụ âm nhạc thông
qua các hoạt động như: Ca hát, vận động, nghe hát, trò chơi âm nhạc. Ngoài
ra, ở lứa tuổi mẫu giáo hoạt động giáo dục âm nhạc không chỉ dừng lại ở việc
dạy trẻ hát, vận động đơn giản mà bên cạnh đó còn giáo dục trẻ tình yêu bản
Trang 4
sắc dân tộc thông qua những bài hát dân ca, các nhạc cụ dân tộc. Việc cho trẻ
mầm non tìm hiểu về các nhạc cụ dân tộc sẽ mang lại cho trẻ sự hứng thú, sự
mới lạ, phát triển tốt cảm giác nhịp điệu, tai nghe và tình yêu bản sắc dân tộc,
giúp trẻ phát triển toàn diện về nhân cách.
Tuy nhiên, với sự phát triển không ngừng theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá của nước ta hiện nay, trẻ em được tiếp xúc với nhiều nguồn
văn hóa ngoại lai, nhất là ở phương Tây, trẻ dần lãng quên bản sắc văn hoá
dân tộc. Phần lớn trẻ em hiện nay không biết các trò chơi dân gian, các làn
điệu dân ca, các nhạc cụ dân tộc vốn rất phong phú và đa dạng mà ông cha ta
đã để lại. Trên thực tế, đa phần lớp trẻ ngày nay thích nghe và hát những bài
nhạc trẻ trung, sôi động, thích tiếp xúc với các loại nhạc cụ phương tây như
piano, organg, … hơn là thưởng thức các làn điệu dân ca hay chơi các nhạc cụ
dân tộc.
Trong chương trình giáo dục mầm non hiện nay, việc tiếp xúc với
nhạc cụ dân tộc của trẻ còn nhiều hạn chế. Nhạc cụ dân tộc trong trường cũng
chưa đa dạng, có trường có, có trường không, nếu có thì chỉ qua mô hình, sản
phẩm tự tạo của giáo viên hoặc tranh ảnh, những bài hát dân ca cho trẻ nghe
không nhiều. Chính vì thế, bản sắc văn hoá dân tộc dần bị nhạt phai trong
lòng giới trẻ.
Đó là lý do tôi đã quyết định chọn và nghiên cứu đề tài: “Thực trạng
trẻ tiếp xúc với nhạc cụ dân tộc ở một số trường mầm non tại thành phố Hồ
Chí Minh” với mong muốn mang lại một cái nhìn mới mẻ về dân ca, nhạc cụ
dân tộc cho giới trẻ ngày nay và hình thành ở trẻ tình yêu quê hương đất
Việc sử dụng nhạc cụ dân tộc cho trẻ mẫu giáo lớn.
Trang 6
4.2Khách thể nghiên cứu
Ban giám hiệu, giáo viên, trẻ mẫu giáo lớn tại một số trường mầm non
trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Phạm vi nghiên cứu
5.1 Nội dung nghiên cứu
Điều tra thực trạng trẻ mẫu giáo lớn tiếp xúc với nhạc cụ dân tộc.
5.2 Địa bàn nghiên cứu
Một số trường mầm non tại Thành Phố Hồ Chí Minh
• Trường Mầm non Hoa mai (41 Tú Xương, Phường 7, Quận 3)
• Trường Mầm non Hồng Nhung (27 Nguyễn Văn Bảo, Phường 4,
Quận Gò Vấp)
• Trường Mầm non Bàu Cát (13 Đồng Đen, Phường 14, Quận Tân
Bình)
6. Giả thuyết khoa học
Nhạc cụ dân tộc sẽ là một xu hướng mới trong thời gian sắp tới, việc
cho trẻ làm quen và tiếp xúc với nhạc cụ dân tộc là rất cần thiết. Nếu cho trẻ
tiếp xúc nhạc cụ dân tộc một cách có hiệu quả sẽ giúp tăng hứng thú của trẻ,
phát triển tốt cảm giác nhịp điệu và tai nghe đồng thời trẻ sẽ có cảm xúc về
âm nhạc dân tộc, kế thừa và phát huy bản sắc dân tộc trong thời đại ngày nay.
7. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khảo sát thực trạng việc cho trẻ mẫu giáo lớn tiếp xúc với nhạc cụ dân
tộc ở một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
- Tìm hiểu nguyên nhân và đề ra một số biện pháp nhằm đưa nhạc cụ dân
tộc tiếp xúc trực tiếp với trẻ thông qua nhiều hình thức khác nhau.
8. Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp quan sát sư phạm.
Trang 7
Thông qua hoạt động dự giờ, quan sát góc âm nhạc, phòng âm nhạc và
5.1 Nội dung nghiên cứu
5.2 Địa bàn nghiên cứu
6. Giả thuyết khoa học
7. Nhiệm vụ nghiên cứu
8. Phương pháp nghiên cứu
9. Đóng góp đề tài
PHẦN 2: PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của tên đề tài
Chương 2: Thực trạng việc cho trẻ tìm hiểu về nhạc cụ dân tộc trong
trường mầm non
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp giúp giáo viên tổ chức cho trẻ tiếp
xúc với nhạc cụ dân tộc. Kết luận và kiến nghị.
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 9
PHẦN 2: PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN
CỨU
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC TIẾP XÚC VỚI NHẠC
CỤ DÂN TỘC CỦA TRẺ MẪU GIÁO.
1. Vai trò của âm nhạc và khả năng cảm thụ âm nhạc ở trẻ
mẫu giáo
1.1 Vai trò của âm nhạc đối với sự phát triển toàn diện của trẻ
1.1.1 Vai trò của âm nhạc trong quá trình hình thành và phát
triển nhân cách trẻ
Âm nhạc là một trong các bộ môn nghệ thuật giáo dục cái đẹp cho trẻ.
Lời ca giai điệu của các bài hát, bản nhạc đã giúp trẻ tưởng tượng, học nói lên
cảm xúc của mình, trẻ thấy được mình có thể diễn tả những ý nghĩ, những
ước mơ, những cảm xúc mạnh mẽ.
Trong giáo dục âm nhạc, điều quan trọng không phải là dạy trẻ hát
chuẩn xác, rõ ràng một cách đơn giản mà trẻ phải được tham gia các hoạt
Những bài dân ca, đồng dao khác nhau của các dân tộc Việt Nam
phong phú về âm điệu, tiết tấu, phương thức diễn xướng, phong tục tập quán
sẽ cho trẻ hiểu biết về bản sắc âm nhạc dân tộc Việt nam… từ đó các cháu có
lòng tự hào về văn hóa dân tộc.
Khi trẻ tham gia các hoạt động âm nhạc, mỗi trẻ đều phải chấp hành
tính tổ chức, sự chú ý, phản ứng nhanh, biết kiềm chế, điều khiển vận động
phù hợp với âm nhạc, biết nhường nhịn giúp đỡ nhau… Những cái đó giáo
dục cho trẻ văn hóa giao tiếp, văn hóa hành vi và tính tập thể, tạo điệu kiện
hình thành những phẩm chất đạo đức của trẻ.
Trang 11
[1]
Trích vai trò giáo dục của âm nhạc. A.Xookhor. NXB Văn hóa. Hà Nội, 1974- (trang 51). Vũ Tự
lân dịch.
Âm nhạc không chỉ đơn thuần là để vui chơi, giải trí mà còn thúc đẩy
sự phát triển của trẻ.
Ở trẻ mẫu giáo, các hình thức tư duy trực quan hành động, trực quan
hình tượng và tư duy trìu tượng được biểu hiện trong bất kỳ hoạt động nào,
trong đó có âm nhạc. Tiếp xúc với âm nhạc, đứa trẻ dần dần có khả năng tổng
hợp cùng với tư duy logic. Ví dụ, khi nghe được các thể loại âm nhạc khác
nhau như hát ru có tính êm dịu tình cảm, còn hành khúc có tính mạnh mẽ…
Âm nhạc giúp trẻ phát triển trí nhớ. Trí nhớ âm nhạc là khả năng thu
nhận và ghi nhớ. Đặc điểm của trẻ mẫu giáo là ghi nhớ âm nhạc bằng tai nghe
dựa vào nhạc cảm. Vì vậy khi tập hát, giáo viên nên gợi mở, giúp trẻ nhận
thức và trên cơ sở ấy trí nhớ ngày càng phát triển.
Tính tích cực và sự tập trung chú ý trong giờ học hát giữ vai trò quan
trọng trong việc củng cố và phát triển trí nhớ. Trẻ hát là cùng lúc ghi nhớ lời
ca, giai điệu, tiết tấu… điều này có tác dụng rèn luyện đôi tai nhạy bén cho
trẻ, đồng thời tăng cường sự nhận thức của trẻ với thế giới xung quanh.
Âm thanh là ngôn ngữ đặc thù của âm nhạc để tạo dựng hình tượng âm
nhạc. Hình tượng âm nhạc là loại hình tượng biểu hiện mang tính khái quát và
Đây cũng là điểm phát hiện, bồi dưỡng những cháu có năng khiếu để khi có
điều kiện có thể cho học chuyên nghiệp.
1.2 Khả năng cảm nhận âm nhạc của trẻ mẫu giáo
1.2.1 Thế nào là cảm nhận âm nhạc?
[2]
Trang 13
Cảm nhận âm nhạc – đó là quá trình hiểu một tác phẩm âm nhạc một
cách toàn diện, hình tượng và mang đậm sắc thái cảm xúc. Những cơ chế tâm
lý của việc cảm nhận âm nhạc bao gồm: sự nhạy cảm với âm nhạc, thính giác
phát triển tốt (“có tai nghe nhạc” – cảm thụ nhạc tốt), trí nhớ, tư duy âm nhạc,
khả năng sáng tạo.
Thuật ngữ “cảm nhận âm nhạc” trong việc giáo dục âm nhạc mang hai
ý nghĩa chính. Theo nghĩa rộng, “cảm nhận âm nhạc” có thể hiểu như việc trẻ
lĩnh hội (nắm vững) những dạng hoạt động âm nhạc khác nhau (hát, múa, trò
chơi âm nhạc) trong giờ học. Theo nghĩa hẹp, “cảm nhận âm nhạc” được hiểu
như quá trình nghe nhạc: làm quen với các tác phẩm âm nhạc thuộc các thể
loại khác nhau. Nói theo ngôn ngữ của phương pháp dạy âm nhạc thì: cảm
nhận âm nhạc” và “nghe nhạc” gần như đồng nghĩa với nhau.
Thế nhưng mục đích của việc nghe nhạc không chỉ nằm ở chỗ làm quen
với các tác phẩm âm nhạc. “Cảm nhận âm nhạc” mang ý nghĩa rộng hơn là
“nghe nhạc” một cách đơn giản. “Cảm nhận âm nhạc” không chỉ có nghĩa là
hưởng ứng âm nhạc một cách nồng nhiệt, trực tiếp, mà còn có nghĩa là hiểu
và trải nghiệm nội dung của tác phẩm âm nhạc cũng như ghi nhớ những hình
tượng của tác phẩm.
1.2.2 Trẻ từ 3 - 4 tuổi:
- Xuất hiện tính tự chủ, thích hoạt động.
- Biết bộc lộ cảm xúc khi nghe âm thanh gợi cảm, các bài hát, bản nhạc
gần gũi.
- Trẻ nói và hát trong mọi hoạt động, biết đáp ứng lại và hay bắt chước.
- Hát được cả câu (ngắn hoặc dài).
có thể phân biệt được độ cao thấp, to nhỏ, mạnh nhẹ của âm thanh. Cảm giác
tai nghe và kinh nghiệm nghe nhạc của trẻ cũng được tích lũy dần lên, cảm
thụ âm nhạc có định hướng, nhiều trẻ biết nhận xét đánh giá một cách đơn
giản về bài hát điệu múa theo ý kiến của riêng mình. Giọng của trẻ ở độ tuổi
này đã vang hơn, âm sắc ổn định hơn, tầm cữ giọng cũng được mở rộng, sự
phối hợp giữa nghe và hát đã tốt hơn, trẻ biết thể hiện vận động mềm dẻo
nhanh nhẹn, biết di chuyển đội hình, biết định hướng không gian. Những bài
hát điệu múa, trò chơi âm nhạc đã được trẻ tự thể hiện diễn cảm và đã có yếu
tố sáng tạo. Một số trẻ đã thể hiện rõ năng khiếu âm nhạc ở chính độ tuổi này.
Tóm lại: Từ 4 – 6 tuổi là thời kỳ ở trẻ có nhiều bước tiến mới về khả năng
nghe và phân biệt các loại âm thanh, khả năng tri giác âm thanh nhanh nhạy
và khả năng phát âm mềm dẻo tự nhiên của trẻ được phát triển.
Trang 15
2. Vai trò của nhạc cụ dân tộc đối với hoạt động nhận thức về âm
nhạc dân gian.
Với bề dày lịch sử gần 4,000 năm dựng nước, Việt Nam có 54 dân tộc
sinh sống trong một không gian đa dạng, có núi đồi, đồng bằng và sông biển.
Cũng do những điều kiện sinh sống đa dạng ấy, Việt Nam rất phong phú về
các thể loại âm nhạc và nhạc khí truyền thống.
2.1 Nhạc cụ dân tộc là gì? Một số loại nhạc cụ dân tộc tiêu biểu
2.1.1 Khái niệm
Nhạc cụ là những dụng cụ chuyên dùng để khai thác những âm
thanh âm nhạc và tạo tiếng động tiết tấu, được sử dụng cho việc biểu diễn âm
nhạc. Mỗi nhạc cụ có âm sắc riêng biệt về âm vang, có cường độ âm thanh
riêng và âm vực khác nhau.
Mỗi dân tộc đều có một nét văn hóa riêng, một loại nhạc cụ đặc trưng
riêng, vì vậy Việt Nam là nước có một kho tàng nhạc cụ cổ truyền hết sức
phong phú và đa dạng. Kho tàng nhạc cụ ấy đã được hình thành trong suốt
hành trình cuộc sống và được phát triển trong suốt chiều dài lịch sử dựng
nước và giữ nước; có những nhạc cụ được sáng tạo tại chỗ có tính đặc trưng
nghiệp. Đàn hộp gỗ có nhiều hình dáng, kích thước khác nhau. Loại phổ biến
nhất là loại hình thang có chiều dài khoảng 115 cm. Đầu lớn rộng 10 cm, cao
9 cm, đầu nhỏ rộng 8 cm, cao 7 cm. Mặt đàn cong làm bằng loại gỗ nhẹ, xốp
như gỗ Ngô Đồng, gỗ Vông. Đáy đàn phẳng cũng làm bằng gỗ nhẹ, xốp có lỗ
thoát âm. Thành đàn làm bằng một loại gỗ cứng như gỗ Trắc, Mun.
Trang 17
Về hình dáng và chất liệu của hộp cộng hưởng (tức Thân đàn) của hai
loại đàn có khác nhau, nhưng về cấu tạo, hai đàn hoàn toàn giống nhau.
Dây đàn có chiều dài chạy suốt thân đàn. Thuở xưa dây đàn làm bằng
tơ tằm se thành sợi, về sau thay bằng dây sắt. Bầu đàn làm bằng 1/2 vỏ quả
bầu nậm (lấy đoạn núm thắt cổ bồng). Bầu đàn lồng vào giữa vòi đàn nơi
buộc dây đàn. Bầu đàn có tác dụng tǎng thêm âm lượng cho đàn. Ngày nay
người ta tiện bầu đàn bằng gỗ và chỉ có tác dụng tạo dáng mà thôi. Trục lên
dây làm bằng tre (ở đàn tre) hoặc bằng gỗ (ở đàn gỗ). Trục lên dây nằm ở
cạnh trong sát phía dưới thân đàn. Dây đàn luồn qua một lỗ nhỏ ở mặt đàn rồi
sâu vào trục lên dây. Phía trước lỗ nhỏ có một ngựa đàn đỡ dây đàn.
Âm hưởng của Đàn Bầu nhỏ chỉ thích hợp với không gian yên tĩnh.
Thủa xưa Đàn Bầu là nhạc cụ của những người hát rong (hát Xẩm). Về sau
này Đàn Bầu đã tham gia trong các dàn nhạc Chèo, Tài Tử, Ngâm Thơ, tốp
nhạc, nhóm nhạc và độc tấu. Rất nhiều tác phẩm sáng tác cho Đàn Bầu độc
tấu như : Vũ Khúc Tây Nguyên - Đức Nhuận, Dòng Kênh Trong - Hoàng
Đạm, Vì Miền Nam - Huy Thục
Trong số những cây đàn một dây của các nước trên thế giới như đàn
Tuntina của ấn Độ, Đàn Cung ở vùng Đông Phi, đàn TushuenKin (độc huyền
cầm) của Trung Quốc. Không có cây đàn một dây nào phát ra cả một hệ thống
âm bồi vừa có tính phổ cập, vừa có tính nghệ thuật cao như cây Đàn Bầu của
Việt Nam.
2.1.2.2 Đàn đá
Đàn đá (các dân tộc ở Tây Nguyên, Việt Nam gọi là goong lu, đọc
là goòng lú, tức "đá kêu như tiếng cồng") là một nhạc cụ gõ cổ nhất của Việt
Trang 19
Loại đàn này có hộp đàn hình tròn như mặt trăng nên mới có tên là "đàn
nguyệt".
Mặt đàn hình tròn đường kính 30 cm bằng gỗ nhẹ, xốp để mộc. Trên
mặt đàn có gắn một bộ phận để mắc dây, gọi là Thú. Thành đàn mỏng làm
bằng gỗ cứng cao khoảng 6 cm, đáy bịt gỗ, không có lỗ thoát âm. Cần đàn dài
khoảng 100 cm có gắn 10 phím theo thang 5 âm (7 phím gắn ở cần đàn, 3
phím gắn ở mặt đàn). Thủ đàn lắp 4 trục lên dây nhưng chỉ mắc 2 dây bằng tơ
xe nay đã thay bằng dây nilon).
Hai dây Đàn nguyệt lên cách nhau một quãng 5 đúng: Fa - Đô1; Sol -
Rê1 hoặc quãng 4 đúng G - C1 ; D1 - G1 Ngày xưa nhạc công gẩy đàn bằng
móng tay, ngày nay bằng miếng gẩy nhựa hoặc đồi mồi.
Nhờ có cần tương đối dài và những phím cao, nhạc công có thể tạo
được những âm nhấn nhá uyển chuyển, mềm mại. Tiếng đàn trong, vang, khả
năng biểu hiện phong phú- khi thì sôi nổi ròn rã, lúc lại nỉ non sâu lắng, do đó
đàn nguyệt có mặt cả trong những cuộc hoà tấu nhạc lễ trang nghiêm, những
cuộc hát văn lôi cuốn, những lễ tang bùi ngùi xúc động cũng như những cuộc
hoà tấu thính phòng thanh nhã với những hình thức diễn tấu khác nhau: đệm
cho hát, hoà tấu và độc tấu.
Đàn Nguyệt thường được sử dụng đệm cho Hát Vǎn, Ca Huế, Ca Tài
Tử, nhạc Bát Âm, Nhạc Lễ, và dàn nhạc sân khấu truyền thống.
2.1.2.4 Đàn Nhị
Đàn nhị là nhạc cụ thuộc bộ dây có cung vĩ, do đàn có 2 dây
nên gọi là đàn nhị (二). Đàn xuất hiện ở Việt Nam khoảng thế kỷ 10.
Ngoài người Kinh, nhiều người dân tộc thiểu số Việt Nam cũng sử
dụng rộng rãi nhạc cụ này
(Tày, Nùng, Thái, Mường, Dao, Giấy, H’Mông v.v.).
Trang 20
Tuy phổ biến tên gọi "đàn nhị", nhiều dân tộc tại Việt Nam còn gọi đàn
bằng tên khác nhau. Người Kinh gọi là "líu" (hay "nhị líu" để phân biệt với
Vì có 16 dây nên đàn còn có tên chữ là Thập lục.
Đàn Tranh hình hộp dài. Khung đàn hình thang có chiều
dài 110 -120 cm. Đầu lớn rộng khoảng 25 - 30 cm là
đầu có lỗ và con chắn để mắc dây. Đầu nhỏ rộmg khoảng 15
- 20 cm gắn 16 khoá lên dây chéo qua mặt đàn. Mặt đàn làm
bằng ván gỗ ngô đồng dày khoảng 0,05cm uốn hình vòm. Ngựa
đàn còn gọi là (con Nhạn) nằm ở khoảng giữa để gác dây và có thể di chuyển
để điều chỉnh âm thanh. Dây đàn làm bằng kim loại với các cỡ dây khác nhau.
Khi biểu diễn nghệ nhân thường đeo 3 móng vào ngón cái, trỏ, giữa để gẩy.
Móng gẩy làm bằng các chất liệu khác nhau như kim loại, sừng hoặc đồi mồi.
Âm sắc Đàn Tranh trong trẻo, sáng sủa thể hiện tốt các điệu nhạc vui
tươi, trong sáng. Đàn Tranh ít thích hợp với những tính cách trầm hùng, khoẻ
mạnh. Tầm âm Đàn Tranh rộng 3 quãng 8, từ đô tên đô 3.
Đàn Tranh thường được sử dụng để độc tấu, hòa tấu, đệm cho ngâm
thơ, hát, tham gia trong các dàn nhạc Tài Tử, phường Bát Âmvà các dàn nhạc
dân tộc tổng hợp. Được hình thành trong ban nhạc từ thế kỷ XI đến thế kỷ thứ
XIV. Thời Lý - Trần đờn tranh chỉ có độ 15 dây, nên bấy giờ gọi là "Thập ngũ
huyền cầm" và được dùng trong ban "Đồng văn, nhã nhạc" (Đời Lê Thánh
Tôn thế kỷ thứ XV). Sau này được dùng trong cả ban nhạc giáo phường. Thời
Nguyễn (thế kỷ thứ XIX) được dùng trong ban "nhạc Huyền" hay "Huyền
nhạc". Lúc bấy giờ được xử dụng với 16 dây nên được gọi là "Thập lục huyền
cầm".
Vì đờn tranh được thiết kế theo hình thức nhiều dây, nên khi tấu nhạc,
đờn tranh phát ra âm thanh đanh tiếng, sắt tiếng hơn khi tấu chữ, đờn thường
Trang 22
là "song thanh", ví dụ khi hết một câu hay hết một đoạn nhạc, hoặc một láy
đờn nào đó thường lặp lại một nốt, một chữ nhạc của láy đờn (hò - líu, xàng -
xang, xề - xê ).
2.1.2.6 Đàn T’rưng
Đàn T'rưng là một nhạc khí "thô" được chế tác
với kích cỡ của mõ. Âm thanh của mõ gỗ giòn, âm vang sâu lắng. Trong chùa,
mõ được sử dụng khi tụng kinh với vai trò điểm nhịp đều theo lời tụng.
MÕ TRÂU được làm bằng gỗ hoặc gốc tre già hình hộp đứng. Mặt đáy
khoét rỗng thông với mặt trên. Mặt đáy hình chữ nhật với chiều dài từ 20 -
25cm, chiều rộng từ 10 - 15cm. Mặt trên hình chữ nhật
với chiều dài dài hơn chiều dài của mõ và ở giữa buộc 2
đoạn gỗ dài hơn chiều cao của mõ khoảng 1cm. Người ta
buộc mõ vào cổ trâu. Khi trâu chuyển động, đi lại, 2 đoạn
gỗ gõ đều đặn vào thành trong của mõ phát ra âm thanh nghe lách cách vui
tai.
MÕ LÀNG là nhạc cụ họ tự thân vang, chi gõ của dân tộc Việt. Mõ làm
bằng củ tre đực, hình bán nguyệt, có khoét một đường rỗng ở giữa. Khi sử
dụng, một tay để mõ nằm trong lòng bàn tay, một tay cầm dùi gõ lên thân mõ.
Âm sắc của Mõ trầm, ấm. Mõ thường được sử dụng để đánh nhịp một, giữ
nhịp cho người hát hay đàn. Và mõ có thể đánh dồn nhanh trong thi nhịp, đổ
khổ gây không khí. Có loại làm bằng gỗ cứng hình cá trắm dài khoảng 1m, to,
khoét dài rỗng theo bụng cá và thường treo ở điếm làng. Có loại làm bằng gốc
tre già gọt theo hình trăng khuyết, đường kính từ 15 - 20cm, ở giữa có khoét
một rạch rỗng. Trong đời sống nông thôn người Việt xưa, mõ có chức năng
thông tin. Mõ được làng giao cho một người đàn ông phụ trách, thường được
Trang 24
gọi là "thằng mõ", hay "anh mõ". Vào
những dịp có việc làng hoặc những sự
kiện đột xuất cần thông báo "anh mõ" có
nhiệm vụ gõ mõ thông tin cho khắp các
gia đình trong làng
MÕ SỪNG TRÂU Là nhạc cụ họ tự thân vang, chi gõ của dân tộc Việt.
Được làm bằng một đoạn sừng trâu dày, dài 12cm. Người ta phải chọn loại
sừng hình cong tiếng mới đẹp và vang. Khi diễn tấu nhạc công một tay cầm
mõ, còn một tay cầm dùi gõ vào thân mõ. Âm thanh của mõ sừng trâu to,