PHẦN MỞ ĐẦU
Giáo dục thể chất (GDTC) trong các trường đại học là một bộ phận quan trọng của mục tiêu giáo
dục và đào tạo, đồng thời là một mặt giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, tạo ra lớp người trí thức
mới, có năng lực, phẩm chất, có sức khỏe, đó là những con người “ Phát triển về trí tuệ, cường
tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”. Muốn vậy, nhà trường không
chỉ thực hiện nhiệm vụ giáo dục về trí tuệ khoa học, tri thức nghề nghiệp, mà còn phải giúp sinh
viên trở thành một con người có sức khỏe lành mạnh. Mục tiêu chiến lược này thể hiện ở những
yêu cầu mới bức bách về sức khỏe về thể lực của lớp người lao động mới trong công cuộc đổi mới
nền kinh tế xã hội, đặc biệt là nền kinh tế trí thức nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại
hóa đất nước ta hiện nay (Nghị quyết TW.II-Khóa VIII).
Trong những năm qua, đã có không ít những công trình nghiên cứu khoa học, những buổi hội
thảo có ý nghóa với nội dung xoay quanh những vấn đề cấp bách về GDTC của trường học nói
chung và khối đại học chuyên nghiệp nói riêng, với mục đích nâng cao chất lượng dạy và học tập
môn GDTC trong nhà trường. Đến nay, hầu hết các trường đại học đều thực hiện chương trình
GDTC trong nhà trường và đã có những bước tiến rõ rệt trong việc giảng dạy nội dung chương trình
môn học GDTC. Nhiều cải tiến về phương pháp giảng dạy, nhiều giải pháp. Song song với những
đổi mới và tiến bộ trên, công tác GDTC trong các trường đại học vẫn gặp nhiều khó khăn, bất cập,
chưa đáp ứng yêu cầu của mục tiêu giáo dục đào tạo và phát triển sự nghiệp TDTT của cả nước,
cần phải phân tích những khó khăn, thực trạng và có giải pháp cụ thể được đặt ra cho mục tiêu là
nâng cao hiệu quả giáo dục sức khỏe cho sinh viên.
1
Để từng bước đẩy mạnh và nâng cao chất lượng giảng dạy - học tập môn GDTC theo tinh thần
các chỉ thò, nghò quyết của Đảng và Nhà nước. Qua các công trình đã nghiên cứu về GDTC của
các tác giả trong nước như: “Nghiên cứu xác đònh cơ chế chính sách và giải pháp chủ yếu nhằm
thực hiện quy họach công tác TDTT ngành Giáo dục – Đào tạo từ năm 1998 – 2000 và đònh hướng
đến 2025” của các tác giả Nguyễn Kỳ Anh, Vũ Đức Thu (1998); “Thực trạng phát triển thể chất
của học sinh, sinh viên trước thềm thế kỷ XXI” của các tác giả Lê Văn Lẫm, Vũ Đức Thu,
Nguyễn Trọng Hải, Vũ Bích Huệ (2000), và cùng tham khảo các chương trình giáo dục thể chất ở
một số nước phát triển và tiên tiến trên thế giới như : Trung Quốc, Singapore, Nhật, Anh, Mỹ…
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đđề tài “Nghiên cứu thực trạng và các giải pháp nâng cao chất
lượng giáo dục thể chất cho sinh viên ở một số trường đại học tại thành phố Hồ Chí Minh”.
lý kinh tế và văn hóa xã hội, phát triển hài hoà, có thể chất cường tráng, đáp ứng yêu cầu chuyên
môn, nghề nghiệp và có khả năng tiếp cận với thực tiễn lao động sản xuất của nền kinh tế thò
trường theo đònh hướng xã hội chủ nghóa [35].
Căn cứ vào mục tiêu nêu trên, giáo dục thể chất và thể thao trong trường học phải giải quyết ba
nhiệm vụ:
- Góp phần giáo dục đạo đức xã hội chủ nghóa, rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức tổ chức kỷ luật,
xây dựng niềm tin, lối sống lành mạnh, tinh thần tự giác rèn luyện thân thể, sẵn sàng phục vụ lao
động sản xuất và bảo vệ nước nhà.
- Cung cấp cho sinh viên những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung và phương pháp tập luyện
thể dục thể thao, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản một số môn thể thao thích hợp. Trên cơ sở
đó, bồi dưỡng khả năng sử dụng các phương tiện để rèn luyện thân thể, tham gia tích cực vào việc
tuyên truyền và tổ chức các hoạt động thể dục thể thao của nhà trường và xã hội.
4
- Góp phần duy trì và củng cố sức khoẻ, nâng cao trình độ thể lực cho sinh viên, phát triển cơ thể
hài hoà, cân đối, rèn luyện thân thể, đạt những tiêu chuẩn thể lực quy đònh.
Có thể thấy rằng, một trong những nhiệm vụ cơ bản quan trọng của giáo dục thể chất là không
ngừng nâng cao sức khoẻ, nâng cao trình độ chuẩn bò thể lực cho sinh viên. Nôvicốp A. D;
Mátvêép L.P (1993); khẳng đònh: “… thể lực là một trong những nhân tố quan trọng nhất, quyết
đònh hiệu quả hoạt động của con người, trong đó những đặc điểm cơ bản, nổi bật của quá trình
giáo dục thể chất”.
Quán triệt sâu sắc nội dung các nghò quyết, chỉ thò của Đảng, Hiến pháp nước cộng hòa XHCN
Việt Nam, các văn bản pháp luật của chính phủ về công tác TDTT trong tình hình mới, cũng tiếp
tục khẳng đònh, cần phải khắc phục thực trạng giảm sút thể lực của sinh viên hiện nay.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành quy chế số 931/RLTC ngày 29 – 04 - 1993 về công tác
GDTC trong nhà trường là: “Các trường từ Mầm non đến Đại học phải đảm bảo thực hiện dạy
môn thể dục theo quy đònh cho học sinh, sinh viên”. Chương trình thể dục và các hình thức GDTC
khác được sắp xếp phù hợp với trình độ sức khỏe, giới tính và lứa tuổi. Nhà trường phải có kế
hoạch hướng dẫn học sinh, sinh viên tập luyện thường xuyên, tổ chức các ngày hội thể thao của
trường và xây dựng thành nề nếp truyền thống. “Kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo lứa
tuổi và chỉ tiêu phát triển thể lực cho học sinh, sinh viên theo quy đònh của chương trình GDTC”.
3
Lý luận
Thực hành
- Thể dục
- Điền kinh
-Các môn TT tự
chọn
Cộng
Ngoại khoá
14
136
32
48
56
150
320
8
16
20
16
60
60
6
16
16
22
60
60
6
8
Phát triển thể chất phụ thuộc nhiều vào yếu tố tạo thành và sự biến đổi của nó diễn ra theo quy
luật di truyền và các quy luật phát triển sinh học tự nhiên theo lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp,
phương pháp và biện pháp giáo dục cũng như môi trường sống.
8
1. 2. 2. Giáo dục thể chất đối với sinh viên .
GDTC là một quá trình sư phạm nhằm hoàn thiện về mặt thể chất và chức năng của cơ thể con
người, nhằm hình thành và củng cố những kỹ năng kỹ xảo vận động cơ bản trong đời sống, trong lao
động. GDTC là một bộ phận của TDTT, là một trong những hình thái hoạt động cơ bản của định
hướng rõ của TDTT trong xã hội. Hay cụ thể nói cách khác GDTC là loại hình giáo dục mà nội
dung chuyên biệt là dạy học vận động và phát triển có chủ định các tố chất thể lực của con người.
GDTC và thể thao trường học duy trì và cũng cố sức khỏe, nâng cao trình độ thể lực cho sinh
viên, rèn luyện thân thể để đạt tiêu chuẩn thể lực theo quy đònh. Trang bò cho sinh viên kiến thức
lý luận cơ bản về những nội dung, phương pháp tập luyện TDTT, kỹ năng vận động và kỹ thuật
động tác cơ bản một số môn thể thao. Rèn luyện cho sinh viên có ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần
tập thể, xây dựng lối sống lành mạnh, tinh thần tự giác rèn luyện thân thể. Đồng thời, tạo mọi điều
kiện thuận lợi để các trường xây dựng và rèn luyện phong trào thể thao mạnh mẽ và sâu rộng:
“Thực hiện GDTC trong tất cả các trường học, làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống
hằng ngày của hầu hết sinh viên…”[77].
GDTC trong các trường đại học góp phần quan trọng trong việc “nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài…” xây dựng những lớp người chủ nhân tương lai cho đất nước
Trên cở sở tư tưởng đó, GDTC đối với các sinh viên là một việc không thể thiếu được trong công
tác giáo dục và đào tạo. Sức khỏe được coi như là một vốn quý nhất của con người, là tài sản vô
9
giá của quốc gia. Nhà nước ta đặt công tác TDTT là ngang hàng với những công tác cách mạng
khác.
1. 2. 3. Tình hình sức khoẻ, thể lực của sinh viên nước ta.
1. 3. Đ C Ặ ĐI M SINH LÝ L A TU I SINH VIÊN (18 Ể Ứ Ổ – 21 tuổi).
Cơ thể con người từ lúc sinh ra cho đến khoảng 21 tuổi phát triển theo chiều hướng đi lên, sau
đó chậm lại dần và suy giảm theo quy luật sinh học. Do đó, sự thích nghi của các hệ thống cơ quan
trong cơ thể con người đối với những điều kiện sống mới và thay đổi của môi trường cũng trở nên
2. 1. 4. Phương pháp kiểm tra sư phạm .
2. 1. 5. Phương pháp kiểm tra y học
2. 1. 6. Phương pháp toán học thống kê .
2. 2. TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU.
2. 2. 1. Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu thực trạng công tác GDTC (trả lời phiếu phỏng vấn, điều tra): Các trưởng
bộ môn và giáo viên GDTC của 18 trường đại học tại TP. HCM, sinh viên của một số trường đại
học tại thành phố HCM: Luật 500 nam, 430 nữ; Sư phạm KT: 445 nam, 345 nữ; Tôn Đức Thắng:
300 nam, 300 nữ.
2. 2. 2. Thời gian nghiên cứu.
Đề tài được tiến hành từ tháng 6/2007 đến tháng 04/2009 :
2. 2. 3. Đòa điểm nghiên cứu.
12
Nghiên cứu được tiến hành tại các cơ sở: Trường Đại học Luật và một số trường Đại học tại TP.
HCM .
CHƯƠNG III
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3. 1. Nghiên cứu thực trạng cơng tác giáo dục thể chất hiện nay của một số trường Đại học tại
TP. HCM.
3. 1. 1. Sự quan tâm của Ban giám hiệu đối với môn học GDTC.
3. 1. 2. Việc thực hiện chương trình GDTC của các trường.
3. 1. 3. Về đội ngũ giáo viên chuyên trách TDTT.
3. 1. 4. Vấn đề sân bãi tập luyện và trang thiết bò.
3. 1. 5. Sự ham thích học tập, tập luyện môn GDTC của sinh viên.
3. 1. 6. Sự phối hợp bộ môn GDTC với phòng công tác CT SV – hội sinh viên.
13
BẢNG 3. 1. BẢNG PHÂN PHỐI THỜI GIAN VÀ NỘI DUNG GDTC Ở CÁC TRƯỜNG ĐH TẠI TP.HCM.
TÊN CÁC TRƯỜNG
ĐẠI HỌC TẠI TP. HCM
TỔNG
Ghi chú: Dấu (x) tự chọn 1 trong các môn tự chọn có số tiết tương ứng; dấu (*) bắt buộc
BẢNG 3. 2. THỰC TRẠNG CƠNG TÁC GDTC Ở CÁC TRƯỜNG ĐH TẠI TP.HCM
14
TÊN CÁC TRƯỜNG
ĐẠI HỌC TẠI TP. HCM
SÂN HỌC TẬP
VÀ TẬP
LUYỆN
TRANG
THIẾT BỊ
HỌC TẬP
CÂU LẠC BỘ
TDTT NHÀ
TRƯỜNG
KẾT HỢP
PHÒNG
CTCTSV VÀ
BOÄ MÔN
CHI PHÍ HOẠT
ĐỘNG
TDTT/NĂM
THỰC HIỆN
CHẾ ĐỘ CHÍNH
SÁCH CHO GV
THỰC HIỆN
KIỂM TRA TIÊU
CHUẨN RLTT
1. ĐH BÁCH KHOA TƯƠNG ĐỐI ĐẠT CÓ CÓ 120 TRIỆU TỐT 0
2. ĐH K. THUẬT CÔNG NGHỆ THUÊ ĐỦ KHÔNG CÓ 140 TRIỆU 0 0
3. ĐH CÔNG NGHIỆP CÓ, CHƯA ĐẠT ĐỦ CÓ CÓ 65 TRIỆU 0 0