BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Đinh Thị Thanh Ngọc
ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ CHẤT LƯỢNG
CUỘC SỐNG GIA ĐÌNH CỦA NỮ GIẢNG VIÊN
MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Đinh Thị Thanh Ngọc
ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ CHẤT LƯỢNG
CUỘC SỐNG GIA ĐÌNH CỦA NỮ GIẢNG VIÊN
MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số
: 60 31 04 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
cứu này.
Tôi cũng cảm ơn tất cả các bạn, các anh chị học cùng lớp Cao học Tâm lý học khóa
22, những người đã thường xuyên chia sẻ, hỗ trợ tôi trong suốt quãng thời gian học tập và
nghiên cứu tại trường.
Sau cùng, tôi muốn bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất đến gia đình, các bạn bè, các
đồng nghiệp tại khoa Giáo dục, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM đã
luôn đồng hành, động viên và giúp đỡ tôi vượt qua mọi khó khăn trong quá trình học tập và
hoàn thành luận văn.
Đinh Thị Thanh Ngọc
2
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT............................................ 5
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 6
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................................... 6
2. Mục đích nghiên cứu..................................................................................................... 8
3. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................................... 8
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu ............................................................................. 8
5. Giả thuyết nghiên cứu................................................................................................... 8
6. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu ................................................................ 9
7. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu ................................................................................ 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ ........................... 12
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG GIA ĐÌNH ............................................................ 12
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề định hướng giá trị chất lượng cuộc sống
Tiểu kết chương 2 .................................................................................................... 100
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................................. 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 104
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 109
4
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
1
CLCS
Chất lượng cuộc sống
2
CLCSGĐ
Chất lượng cuộc sống gia đình
3
ĐHGT
Định hướng giá trị
STT
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong vài thập niên trở lại đây, sự biến động của tình hình kinh tế xã hội thế giới
cộng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự giao thoa văn hóa đã tác động mạnh mẽ
đến hầu hết các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Những thay đổi này mang đến cho Việt
Nam nhiều cơ hội tiếp xúc với các nền văn hóa mới nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức
trong việc thích nghi, hòa nhập với môi trường văn hóa quốc tế. Điều này ảnh hưởng trực
tiếp đến sự chuyển biến trong hệ thống giá trị của xã hội và định hướng giá trị của các cá
nhân, chi phối sự lựa chọn, sự đánh giá, tính tích cực hoạt động của cá nhân đối với các khía
cạnh trong cuộc sống.
Những tác động của điều kiện kinh tế xã hội trong và ngoài nước cũng ảnh hưởng
tới chất lượng cuộc sống của người dân nói riêng và mỗi gia đình nói chung. Trong chất
lượng cuộc sống của con người, chất lượng của cuộc sống gia đình là một thành phần hết
sức quan trọng, vì văn kiện đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ: “Gia đình là môi trường quan
trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách, góp phần chăm lo xây dựng
con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri
thức, sức khỏe, lao động giỏi, sống có văn hóa, nghĩa tình, có tinh thần quốc tế chân chính”
[12]. Khi xã hội có sự thay đổi, các gia đình cũng phải có những chuyển biến để thích nghi
với những điều kiện mới, phải có sự chọn lọc và giữ gìn các giá trị truyền thống và bổ sung
thêm các giá trị hiện đại vào đời sống gia đình. Tuy nhiên, những hiện tượng diễn ra gần
đây trong gia đình Việt Nam như tỉ lệ ly hôn tăng cao, các mối liên kết giữa các thành viên
ngày càng lỏng lẻo, vai trò giáo dục con cái của cha mẹ suy giảm do thiếu thời gian cho con,
các vấn đề tâm lý nảy sinh ngày càng nhiều trong thanh thiếu niên, vấn đề bạo hành trong
trong gia đình. Do vậy, chất lượng giảng dạy, chất lượng làm việc của người nữ giảng viên
có sự liên quan mật thiết đến chất lượng cuộc sống gia đình của họ. Việc tìm hiểu về định
hướng giá trị chất lượng cuộc sống gia đình của nữ giảng viên sẽ là cơ sở để hiểu về những
diễn biến tâm lý, xu hướng hành vi của nữ giảng viên. Từ đó, Bộ Giáo dục - Đào tạo, các
lãnh đạo nhà trường có những sự định hướng và điều chỉnh đúng đắn, những chính sách phù
hợp giúp các nữ giảng viên nâng cao chất lượng cuộc sống gia đình để yên tâm công tác và
cống hiến nhiều hơn cho sự phát triển chất lượng dạy và học trong trường Cao đẳng, Đại
học.
Với điều kiện kinh tế xã hội có nhiều cơ hội và thách thức như hiện nay, sự định
hướng giá trị chất lượng cuộc sống gia đình của các nữ giảng viên sẽ có nhiều sự chuyển
biến phức tạp, cần được nghiên cứu, tìm hiểu. Tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), nơi
tập trung đông đảo các trường Cao đẳng, Đại học với lực lượng giảng viên đa lĩnh vực, đa
7
ngành nghề đến từ mọi miền của Tổ quốc, các nghiên cứu về định hướng giá trị chất lượng
cuộc sống gia đình của các nữ giảng viên vẫn còn rất hiếm hoi. Xuất phát từ thực tế đó,
chúng tôi lựa chọn đề tài: “Định hướng giá trị chất lượng cuộc sống gia đình của nữ
giảng viên một số trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng về định hướng giá trị chất lượng cuộc sống gia đình của nữ giảng
viên một số trường Đại học tại TP.HCM nhằm hỗ trợ các nữ giảng viên thực hiện định
hướng giá trị chất lượng cuộc sống gia đình trong thực tế.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Nghiên cứu các vấn đề lí luận về giá trị, định hướng giá trị, gia đình, cuộc sống
gia đình, chất lượng cuộc sống, chất lượng cuộc sống gia đình, nữ giảng viên và định hướng
giá trị chất lượng cuộc sống gia đình của nữ giảng viên.
3.2. Tìm hiểu thực trạng định hướng giá trị chất lượng cuộc sống gia đình của nữ
trong định hướng giá trị chung của con người, và có sự liên quan chặt chẽ đến các khía cạnh
khác trong định hướng giá trị. Bản thân cuộc sống gia đình cũng được xem xét như một hệ
thống với nhiều thành tố và các mối quan hệ bên trong và bên ngoài hệ thống.
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu định hướng giá trị chất lượng cuộc sống gia đình của
nữ giảng viên được xem xét trên hệ thống nhận thức, thái độ, xu hướng hành vi của chủ thể.
-
Hướng tiếp cận xã hội - lịch sử
Định hướng giá trị của các nữ giảng viên về chất lượng cuộc sống gia đình được xem
xét trong sự ảnh hưởng của các nhân tố xã hội, môi trường, lịch sử của các giai đoạn khác
nhau. Từ hướng tiếp cận này, đề tài xem xét sự thay đổi trong việc lựa chọn các giá trị
truyền thống và hiện đại của các nữ giảng viên nhằm hướng tới chất lượng cuộc sống gia
đình, tìm ra các đặc trưng và xu thế lựa chọn, đánh giá các giá trị này trong bối cảnh của
thời đại hiện nay.
-
Hướng tiếp cận hoạt động - nhân cách
Sự định hướng giá trị chất lượng cuộc sống gia đình của nữ giảng viên được thể hiện
thống nhất giữa các mặt tâm lý, ý thức, nhân cách và hoạt động. Sự định hướng giá trị này
được hình thành và phát triển thông qua định hướng giá trị nhân cách và các hoạt động của
con người, chủ yếu trong nghiên cứu này là hoạt động nghề nghiệp và hoạt động trong gia
đình của các nữ giảng viên. Do vậy, đề tài không chỉ khảo sát về nhận thức, thái độ mà còn
tìm hiểu định hướng giá trị được bộc lộ qua hành vi của các nữ giảng viên trong cuộc sống
gia đình.
6.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
Đề tài được thực hiện dựa trên việc phối hợp đồng bộ một số phương pháp: phương
pháp nghiên cứu lý luận, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp phỏng vấn và
phương pháp thống kê toán học.
- Giới hạn khách thể nghiên cứu: Đề tài được thực hiện trên khách thể nghiên cứu là
200 nữ giảng viên của một số trường Đại học công lập tại TP.HCM.
- Giới hạn địa bàn nghiên cứu: Đề tài chỉ thực hiện nghiên cứu một số trường Đại
học trên địa bàn TP.HCM, bao gồm: Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM, Đại
học Y dược TP.HCM, Đại học Bách khoa TP.HCM, Đại học Sài Gòn, Đại học Kinh tế
TP.HCM, Đại học Khoa học tự nhiên TP.HCM, Đại học Nông Lâm TP.HCM.
10
11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG GIA ĐÌNH
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề định hướng giá trị chất lượng cuộc sống
gia đình
Gia đình là tế bào của xã hội, là thiết chế xã hội cơ bản của xã hội loài người, sự phát
triển của gia đình có tác động vô cùng quan trọng đối với sự phát triển xã hội nói chung và
các khía cạnh trong cuộc sống của mỗi con người nói riêng. Do đó, cuộc sống gia đình là đề
tài được xem xét trong hầu hết các ngành khoa học xã hội và khoa học nhân văn của nhiều
quốc gia trên thế giới. Cùng với sự thay đổi của xã hội, cuộc sống của gia đình thời hiện đại
cũng bị tác động và có nhiều thay đổi phức tạp cần được nghiên cứu. Một trong những khía
cạnh tác động mạnh mẽ nhất đến cuộc sống gia đình trong xã hội hiện đại chính là quan
điểm, sự định hướng giá trị của các cá nhân về chất lượng cuộc sống gia đình. Chính sự
định hướng này sẽ là kim chỉ nam để xây dựng nên các gia đình của xã hội hiện tại và tương
lai. Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề định
hướng giá trị (ĐHGT), chất lượng cuộc sống (CLCS), chất lượng cuộc sống gia đình
(CLCSGĐ) và định hướng giá trị chất lượng cuộc sống gia đình (ĐHGT CLCSGĐ).
1.1.1. Một số nghiên cứu nước ngoài về chất lượng cuộc sống gia đình
các hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu CLCS. Ở chương cuối của sách, các tác giả
đã đưa ra một số bài nghiên cứu về các yếu tố của CLCS trên phạm vi nhiều quốc gia, dân
tộc [70].
Tuy việc nghiên cứu CLCS đã khá phát triển nhưng riêng nghiên cứu về khía cạnh
CLCS gia đình thì vẫn còn đang trong bước đầu hình thành, số lượng các nghiên cứu còn ít
ỏi, hướng nghiên cứu còn hạn chế. Trên thế giới, hướng nghiên cứu phổ biến nhất là nghiên
cứu CLCSGĐ của các gia đình có con cái, người thân là người khuyết tật. CLCSGĐ được
xem xét như kết quả của một chính sách xã hội và việc nghiên cứu CLCSGĐ là nhằm mục
đích có được các thông tin để đánh giá hiệu quả về sự hỗ trợ về xã hội, y tế, giáo dục mà gia
đình nhận được từ các cơ quan hữu quan của Chính phủ.
Tiêu biểu trong các nghiên cứu về CLCSGĐ, phải nói đến dự án nghiên cứu
CLCSGĐ của National Medical Center & Beckman Research Institute của Hoa Kỳ,
nghiên cứu trên gia đình của các bệnh nhân ung thư. Phiên bản nghiên cứu CLCSGĐ được
thiết kế phỏng theo phiên bản nghiên cứu CLCS dành cho bệnh nhân. Công cụ nghiên cứu
đã được đưa ra và thử nghiệm từ năm 1994-1998 với 219 gia đình bệnh nhân ung thư. Bảng
hỏi được thiết kế có 37 câu hỏi dạng thang đo mức độ từ 1 đến 10, dựa trên 4 khía cạnh của
CLCS: Sự hài lòng, thoải mái về thể chất; Sự hài lòng, thoải mái về tâm lý, Các mối quan
13
tâm xã hội và Sự hài lòng, thoải mái về tinh thần [64].
Năm 1997, các nhà nghiên cứu từ Úc (Brown, Davey, Shearer và Kyrkou), Canada
(Brown, Isaacs, McCormack, Baum và Renwick) và Israel (Neikrug, Judes, Roth và Krauss)
đã khởi đầu Dự án nghiên cứu quốc tế về CLCSGĐ (International Family Quality of Life
Project) nghiên cứu CLCSGĐ của các gia đình có một hoặc nhiều thành viên bị thiểu năng
trí tuệ. Dự án được dẫn dắt bởi các nhà nghiên cứu Canada tại Trung tâm Surrey Place,
Trung tâm điều trị MukiBaum Centres, và các khoa thuộc Đại học Toronto và Đại học
Victoria. Cho đến hiện nay, đã có hơn 20 quốc gia trên thế giới tham gia vào dự án này.
Mục tiêu nghiên cứu là nhằm tìm hiểu về thực trạng CLCSGĐ của những đối tượng gia đình
có người bị thiểu năng trí tuệ, xem xét CLCSGĐ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố chủ yếu nào
thoải mái về tài chính; Tương tác trong gia đình [65].
Nói tóm lại, trên thế giới, việc nghiên cứu về CLCS đã bắt đầu từ nửa sau thế kỷ XX
nhưng riêng việc nghiên cứu về CLCSGĐ thì chỉ mới được quan tâm trong khoảng vài chục
năm trở lại đây. Các nhà nghiên cứu trên thế giới tiếp cận theo nhiều hướng nghiên cứu
khác nhau, với các công cụ đo khác nhau để đo lường CLCSGĐ, tùy theo mục đích nghiên
cứu, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu nhưng đều quan tâm nghiên cứu tổng thể
các khía cạnh của đời sống gia đình và thực trạng về việc bảo đảm đời sống vật chất lẫn tinh
thần của các thành viên trong gia đình.
1.1.2. Một số nghiên cứu trong nước về định hướng giá trị chất lượng cuộc sống
gia đình
a. Những nghiên cứu về vấn đề định hướng giá trị của con người
Ngay từ thời cổ đại, các nhà tư tưởng triết học phương Đông lẫn phương Tây đều
quan tâm đến việc xác định các giá trị gốc, giá trị cốt lõi của con người. Từ các giá trị gốc
này mà các khái niệm tiếp theo như hệ giá trị, thang giá trị, định hướng giá trị, thước đo giá
trị mới được hình thành. Từ những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, cùng với sự phát
triển như vũ bão của công nghệ thông tin và sự toàn cầu hóa, ở nhiều nước trên thế giới và ở
nước ta, vấn đề về giá trị, thang giá trị, định hướng giá trị được quan tâm hơn bao giờ hết.
Tại Việt Nam, bắt đầu từ những năm 90 của thế kỷ XX, những đổi thay mạnh mẽ của
thời kỳ đổi mới, của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã không chỉ tác
động vào đời sống vật chất mà còn tác động vào đời sống tinh thần, tư tưởng và định hướng
giá trị của người dân. Tiếp đó là ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế đến
Việt Nam; bên cạnh nhiều cơ hội được mở ra cho đất nước thì cũng có rất nhiều thách thức
mà xã hội Việt Nam phải đối mặt, tiêu biểu là vấn đề ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai đến
con người Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ. Sự xuất hiện ngày càng nhiều các trào lưu phi văn
hóa và các tệ nạn xã hội như giết người, ma túy, mại dâm, nạo phá thai, quan hệ tình dục
bừa bãi, các hiện tượng tham nhũng, làm ăn gian dối, lối sống cá nhân, ích kỷ, vô trách
15
nhiệm, vô cảm… là những vấn đề có liên quan mật thiết đến định hướng giá trị của cá nhân
16
độ quan tâm và sự tham gia trong lãnh vực chính trị, những giá trị kinh tế, niềm tin vào hệ
thống chính trị của người dân Việt Nam [16].
Các kết quả nghiên cứu của các chương trình nghiên cứu kể trên đã được tổng hợp
thành sách chuyên khảo “Định hướng giá trị con người Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội
nhập” do các tác giả Phạm Minh Hạc và Thái Duy Tuyên chủ biên (2011). Nội dung của
cuốn sách có 3 chương, trong đó trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu giá trị và định
hướng giá trị; điều tra, khảo sát định hướng giá trị con người Việt Nam trong thời kỳ đổi
mới và hội nhập; xử lý các số liệu điều tra. Kết quả đã cho thấy bức tranh chung về định
hướng giá trị của con người Việt Nam, trong đó đa phần vẫn coi trọng giá trị đạo đức hơn
giá trị kinh tế, nhưng đang có xu thế vận động về phía giá trị kinh tế, vật chất, thực dụng,
đặc biệt là ở thanh niên [16].
Bên cạnh các chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, đã có khá nhiều đề
tài cấp Bộ, các đề tài luận án tiến sĩ, phó tiến sĩ nghiên cứu về định hướng giá trị của các đối
tượng hẹp hơn như thanh niên, học sinh, sinh viên, trí thức, cán bộ công chức…
Luận án phó tiến sĩ Triết học “Định hướng giá trị của thanh niên sinh viên trong
sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay” của tác giả Dương Tự Đam (1996) đã kế thừa các
kết quả nghiên cứu từ chương trình KX-07, và tiếp tục tìm hiểu về sự biến đổi định hướng
giá trị của thanh niên sinh viên trong sự tác động từ tình hình kinh tế xã hội mới của đất
nước lẫn trên thế giới [9].
Luận án phó tiến sĩ Tâm lý học “Những đặc trưng tâm lý của định hướng giá trị
của thanh niên Việt Nam hiện đại” của tác giả Lê Quang Sơn (1998) đã xem định hướng
giá trị như là những thái độ của nhân cách đối với bản thân và thế giới trong quá khứ, hiện
tại và tương lai được cấu trúc lại trong các thể nghiệm và biểu tượng của nhân cách. Hệ
thống thái độ này được cấu thành 5 nhóm thái độ: Thái độ đối với cái tôi - tên gọi - thân thể,
thái độ đối với sự công nhận từ phía xã hội, thái độ đối với “cái tôi giới tính”, thái độ đối
với quyền lợi và nghĩa vụ của mình, thời gian tâm lý (quá khứ, hiện tại, tương lai) [43].
Năm 2002, luận án tiến sĩ “Định hướng giá trị của thanh niên, sinh viên hiện nay
tham gia vào công việc gia đình, quan hệ với bạn cùng tuổi) [29].
Trong vài năm trở lại đây, có khá nhiều luận văn thạc sĩ tâm lý học về các khía cạnh
định hướng giá trị cụ thể (định hướng giá trị đạo đức, định hướng giá trị trong công việc…)
hoặc định hướng giá trị của một nhóm khách thể đặc trưng nào đó (như người lao động,
công nhân lao động phổ thông, cán bộ công chức phường…) làm phong phú thêm bức tranh
về định hướng giá trị của con người Việt Nam. Có thể kể ra đây một số đề tài như luận văn
chuyên ngành Tâm lý học như: “Thực trạng định hướng giá trị lối sống của sinh viên ở
một số trường đại học tại TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay” của Bùi Thị Bích
(2006) [2], “Thực trạng định hướng giá trị đạo đức của sinh viên sư phạm TP. Hồ Chí
Minh” của Hoàng Anh (2007) [1], “Định hướng giá trị trong công việc của người lao
18
động ở một số doanh nghiệp trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh” của Nguyễn Thị Ngọc Giàu
(2010) [14]… Nhìn chung, các đề tài này đã đóng góp vào bức tranh chung về định hướng
giá trị của con người Việt Nam ở nhiều góc độ. Thế nhưng, trong số đó, mảng đề tài về định
hướng giá trị của nữ giảng viên và định hướng giá trị về chất lượng cuộc sống gia đình của
nữ giảng viên vẫn còn bị bỏ ngỏ, chưa được nhiều nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu.
b. Những nghiên cứu về định hướng giá trị chất lượng cuộc sống gia đình
Tại Việt Nam, nghiên cứu về gia đình khá nhiều, phong phú cả về hướng tiếp cận
nghiên cứu lẫn nội dung nghiên cứu. Kể từ sau 1975, các nghiên cứu về gia đình tại Việt
Nam bắt đầu phát triển theo nhiều hướng tiếp cận khoa học khác nhau: xã hội học, tâm lý
học, sử học, triết học, dân tộc học, dân số học, phụ nữ học… Có thể kể ra một số tác phẩm
đã được xuất bản trên cơ sở các nghiên cứu kể trên như: Nho giáo và gia đình của nhóm tác
giả Vũ Khiêu, Lê Thị Quý, Đặng Nhứ (1995), Gia đình và dân tộc của Nguyễn Thế Long
(2008), Vai trò của gia đình trong việc giáo dục các giá trị truyền thống cho trẻ em của
Đặng Cảnh Khanh (2003), Thực trạng văn hóa gia đình Việt Nam của Lê Minh (1994),
Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam của Tương Lai (chủ biên) (1996), Gia
đình trong tấm gương của xã hội học do Mai Quỳnh Nam (chủ biên) (2003) [25, tr.28-29].
Đến năm 2007, hai tác giả Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý đã xuất bản cuốn giáo trình “Gia
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về CLCSGĐ còn khá rời rạc, chủ yếu được thể hiện
theo các mặt riêng lẻ trong các nghiên cứu về thực trạng đời sống gia đình ở Việt Nam như
mức sống, hiện trạng các mối quan hệ gia đình, lối sống gia đình chứ chưa nghiên cứu về
CLCSGĐ một cách bài bản. Quy mô nghiên cứu lớn nhất có liên quan tới CLCSGĐ là các
cuộc điều tra dân số của Tổng cục Thống kê, cụ thể là cuộc tổng điều tra dân số và gia đình
năm 1999; các cuộc điều tra mức sống hộ gia đình năm 2002, 2004, 2006, 2008, 2010; các
cuộc điều tra về biến động dân số và nguồn lao động. Các số liệu điều tra đã cho biết các
thông tin về quy mô hộ gia đình, mức thu nhập của gia đình, tình trạng hôn nhân của người
Việt Nam chia theo nhóm tuổi và giới tính…
Trong tác phẩm Gia đình học, nhằm có số liệu phục vụ cho việc biên soạn giáo trình,
nhóm tác giả Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý đã tiến hành khảo sát thực tiễn trên 7600 hộ
gia đình tại 12 tỉnh thành phố, đảm bảo bao quát các vùng miền, khu vực nông thôn lẫn đô
thị, vùng đồng bằng, trung du, miền núi, miền biển, các dân tộc, tôn giáo… Các kết quả
nghiên cứu đã được trình bày minh họa trong giáo trình, thể hiện một số khía cạnh
CLCSGĐ của các gia đình Việt Nam như: thực trạng về mức sống gia đình, sự phân công
lao động trong gia đình, hiện trạng các mối quan hệ gia đình… [25].
Hướng nghiên cứu về định hướng giá trị chất lượng cuộc sống gia đình là một hướng
còn khá mới nên chưa có nhiều nghiên cứu về đề tài này. Trong đề tài nghiên cứu “Định
hướng giá trị của con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập” thuộc chương
20
trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước giai đoạn 2001-2005 (KX-05-07, nhánh 04), nhóm
tác giả đã có một phần điều tra về định hướng giá trị tình yêu, hôn nhân, gia đình, khảo sát
trên khách thể hơn 1200 người, bao gồm các giai cấp nông dân, công nhân, tầng lớp trí thức,
học sinh, sinh viên. Trong phần nghiên cứu về định hướng giá trị hôn nhân và gia đình, các
vấn đề được quan tâm tìm hiểu là quan niệm về hôn nhân, quan niệm về gia đình lý tưởng,
định hướng giá trị về đạo đức gia đình, ảnh hưởng của kinh tế thị trường đến cuộc sống gia
đình… Kết quả đã chỉ ra quan niệm của người dân về hôn nhân tương đối lành mạnh, với
các quan niệm như: Hôn nhân phải một vợ một chồng; Chỉ lập gia đình khi đã có nghề
mức sống gia đình và lối sống gia đình. Việc định hướng giá trị CLCSGĐ là xu hướng lựa
chọn những giá trị về mọi mặt của cuộc sống gia đình mà chủ thể cho là tốt, là có ích cho sự
tồn tại và phát triển của gia đình. Đề tài đã chỉ ra những đặc trưng và xu thế định hướng giá
trị của nữ trí thức về CLCSGĐ hiện nay, đồng thời làm rõ các nhân tố tác động đến định
hướng giá trị của nữ trí thức. Qua nghiên cứu, tác giả kết luận nữ trí thức vẫn hướng về các
giá trị đạo đức tốt đẹp của gia đình truyền thống, những giá trị thể hiện lối sống có văn hóa
trong gia đình và đặc biệt đề cao tính tiến bộ, nhân văn của con người trong quan hệ chung
với gia đình và gắn liền CLCSGĐ với các giá trị thành đạt sự nghiệp. Tuy nhiên, vì tiếp cận
lĩnh vực chất lượng cuộc sống gia đình - một lĩnh vực còn khá mới mẻ nên kết quả nghiên
cứu trên chỉ mới dừng lại ở thực trạng định hướng giá trị CLCSGĐ của nữ trí thức ở mức độ
khái quát, chưa đi sâu tìm hiểu các nhóm khách thể cụ thể, các khía cạnh cụ thể của
CLCSGĐ. Hơn nữa, từ thời điểm đó đến nay, sau hơn 15 năm với nhiều thay đổi, biến động
của đời sống xã hội, việc nghiên cứu về định hướng giá trị CLCSGĐ của nữ trí thức, nữ
giảng viên hiện nay là điều hợp lý và cần thiết.
1.2. Những vấn đề lý luận về ĐHGT chất lượng cuộc sống gia đình của nữ giảng
viên
1.2.1. Các khái niệm cơ bản
1.2.1.1. Giá trị
a. Khái niệm
Giá trị là một khái niệm phức tạp và có rất nhiều cách tiếp cận, là phạm trù chung
của triết học, xã hội học, tâm lý học… dẫn đến có rất nhiều khái niệm khác nhau về giá trị.
Trong các ngôn ngữ phương Tây, thuật ngữ “giá trị” (value trong tiếng Anh), bắt
nguồn từ valere của tiếng La-tinh có nghĩa là “khỏe mạnh, tốt, đáng giá”, ban đầu được
dùng để chỉ một thứ gì đó đáng giá. Tuy nhiên, trong đời sống thông thường hiện nay, giá trị
được sử dụng theo nhiều nghĩa khác nhau. Trong Từ điển tiếng Việt [51] có nêu một số định
nghĩa giá trị như sau:
22
Với cách tiếp cận này, có một số định nghĩa giá trị như:
- Theo Bách khoa toàn thư Xô Viết: “Giá trị là sự khẳng định hoặc phủ định ý nghĩa
23