LUẬN VĂN: Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh niên và vận dụng vào việc giáo dục sinh viên các trường đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay potx - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức, lối sống cho
thanh niên và vận dụng vào việc giáo dục sinh viên các
trường đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất đồng thời cũng là nhà giáo dục vĩ
đại của dân tộc Việt Nam. Cuộc đời Người là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ muôn đời
sau noi theo. Tư tưởng của Người có vai trò, ý nghĩa và tác dụng to lớn đối với cách
mạng Việt Nam. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng
định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng nước Việt Nam theo con đường xã hội
chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác–Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” [21, tr. 20].
Với cách nhìn khách quan khoa học, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai
trò, vị trí, khả năng của thanh niên (TN) đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân
tộc. Người cho rằng: “TN là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy nước nhà thịnh
hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các TN” [49, tr.185]. Chính vì thế trước lúc đi
xa Người không quên căn dặn Đảng ta: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một

mảnh đất màu mỡ nảy sinh nhiều yếu tố tiêu cực. Các tác động của kinh tế thị trường đã
can thiệp, phá vỡ nhiều nét đẹp của văn hóa truyền thống, chà đạp lên những khuôn mẫu
đạo đức cách mạng. Chủ nghĩa cá nhân – kẻ thù nguy hiểm nhất của đạo đức cách mạng
theo cách gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giờ đây có cơ hội trỗi dậy và phát triển. Chủ
nghĩa Mác–Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng ta xác định giữ vị trí chủ đạo
trong đời sống tinh thần của xã hội, là nền tảng tư tưởng, kim chỉ Nam cho hành động
của Đảng đang bị các thế lực thù địch chống phá, công kích. Ngoài tư tưởng, chúng còn
đẩy mạnh tiến công trên lĩnh vực văn hóa, đạo đức, lối sống mà đối tượng chủ yếu là
SV – đội ngũ trí thức tương lai. Tất cả những điều đó đã tác động xấu đến việc hình
thành và phát triển nhân cách của SV.
Nghị quyết Trung ương hai khóa VIII của Đảng (1997) đã gióng lên hồi chuông
báo động toàn xã hội khi cho rằng tình trạng một bộ phận học sinh, SV suy thoái đạo
đức, mờ nhạt lý tưởng, chạy theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp
vì tương lai của bản thân và đất nước là điều “đặc biệt đáng lo ngại” [19, tr.24]. Trong
xu thế chung của SV cả nước, một bộ phận không nhỏ SV các trường đại học ở Thành
phố Hồ Chí Minh có những biểu hiện lệch lạc trong nhận thức và hành vi đạo đức như:
xác định động cơ học tập không đúng. Mục đích của việc học không phải là nâng cao
kiến thức mà nhằm kiếm điểm cao để có học bổng. Hiện tượng bỏ học không lý do, đi
muộn, quay cóp trong thi cử đã trở nên khá phổ biến, cá biệt còn có một số SV tham gia đường dây thi thuê, thi hộ trong các mùa tuyển sinh đại học, cao đẳng. SV thờ ơ với các
vấn đề chính trị, các hoạt động xã hội, còn mơ hồ về lý tưởng cách mạng, ham ăn chơi
đua đòi chạy theo lối sống thực dụng, buông thả, xa rời đạo đức truyền thống, tiếp thu
lối sống, văn hóa phương Tây không chọn lọc, quá coi trọng giá trị vật chất, xem nhẹ
giá trị tinh thần, sùng bái đồng tiền, có hành vi vi phạm pháp luật, sa vào các tệ nạn xã
hội: trộm cướp, rượu chè, cờ bạc, ma túy, mại dâm…
Trong khi đó, do yêu cầu và đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới toàn diện, đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các thế hệ
SV đã, đang và nhất định sẽ gánh vác những trọng trách to lớn nhưng vô cùng khó khăn

- Trần Quy Nhơn, Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò Thanh niên trong cách mạng
Việt Nam, Nxb Thanh niên, 2004 (in lần thứ hai).
- Trần Quy Nhơn, Tư tưởng Hồ Chí Minh về bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời
sau, Nxb Giáo dục, 2004.
- Đặng Quang Thành, Xây dựng lối sống có văn hóa của Thanh niên Thành phố Hồ
Chí Minh, Luận án tiến sĩ, 2005, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
- Song Thành, Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội,
2005 (Chương XV: Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp giáo dục – đào tạo và bồi
dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau).
- Văn Tùng, Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục Thanh niên, Nxb Thanh
niên, Hà Nội, 1999…
+ Nhóm các công trình nghiên cứu về đạo đức và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh:
- Nguyễn Trọng Chuẩn–Nguyễn Văn Phúc, Mấy vấn đề về đạo đức trong điều kiện
kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003.
- Vũ Khiêu, Đạo đức mới, Nxb Khoa học xã hội, 1974.
- Trần Hậu Kiêm – Đoàn Đức Hiếu, Hệ thống phạm trù đạo đức học và giáo dục
đạo đức cho sinh viên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004.
- Tương Lai, Chủ động và tích cực xây dựng đạo đức mới, Nxb Sự thật, 1983.
- Nguyễn Ngọc Long (chủ biên), Giáo trình đạo đức học, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2001. - Trần Sỹ Phán, Giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, 1999, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
- Đinh Xuân Lâm – Bùi Đình Phong (1995), “Giá trị trường tồn của tư tưởng đạo đức
Hồ Chí Minh trong lòng nhân loại tiến bộ”, Tạp chí Thông tin lý luận, (12).
- Lâm Quốc Tuấn – Trần Văn Toàn (2005), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
đạo đức vừa “hồng” vừa “chuyên” cho thanh niên trí thức”, Tạp chí Lý luận chính trị,
(10).

giáo dục đạo đức, lối sống cho SV theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí
Minh về giáo dục đạo đức, lối sống cho TN; đạo đức, lối sống SV và vấn đề giáo dục
đạo đức, lối sống cho SV các trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện
nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: luận văn được triển khai trên nền tảng các quan điểm của chủ nghĩa
Mác–Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng về đạo đức, TN và giáo dục
đạo đức, lối sống cho TN.
Phương pháp nghiên cứu: ngoài phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử, luận văn còn sử dụng các phương pháp lôgíc, phương pháp lịch sử – cụ thể, phương
pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, nghiên cứu khảo sát thực tiễn, điều tra xã hội học …
+ Đối với phương pháp khảo sát thực tiễn, chúng tôi đã tiếp xúc với Thành
Đoàn, Thành Hội, Đảng ủy, Ban giám hiệu, Phòng công tác chính trị, Đoàn trường, Hội
SV, các giáo viên và SV để tìm hiểu tình hình đạo đức, lối sống SV và công tác giáo
dục đạo đức, lối sống cho SV.
+ Đối với phương pháp điều tra xã hội học, chúng tôi đã chọn mẫu điều tra là 6
trường đại học đóng trên địa bàn Thành phố như: Đại học Sư phạm, Đại học An Ninh,
Đại học dân lập Hồng Bàng, Đại học Bách Khoa, Khoa Kinh Tế thuộc Đại học Quốc
gia, Đại học Bán công Marketing. Mỗi trường 50 SV. Với 6 trường mà chúng tôi tiến
hành khảo sát có những đặc điểm sau:
- Về loại hình trường và đối tượng: có cả công lập, dân lập, bán công, SV năm
thứ nhất và năm cuối. - Về ngành học có đủ các lĩnh vực khoa học khác nhau như: kinh tế, khoa học
xã hội và nhân văn, khoa học kỹ thuật.
6. Đóng góp mới của luận văn
- Góp phần nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và giáo dục đạo đức cho TN.
- Nhận định đúng đắn, khách quan về đạo đức, lối sống của SV và công tác giáo dục đạo đức,

phong tục, tập quán. Đạo đức còn có gốc từ tiếng Hy Lạp là ethicos, cũng có nghĩa là
thói quen, tập quán. Như vậy, theo phần gốc của khái niệm khi nói đến đạo đức là nói
đến những thói quen, tập quán sinh hoạt và ứng xử của con người trong cộng đồng,
trong xã hội.
Ở phương Đông, theo các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại,
đạo có nghĩa là con đường, đường đi, là đường sống của con người trong xã hội. Đức
dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạo
nghĩa, là nguyên tắc luân lý. Theo đó, đạo đức chính là những yêu cầu, những nguyên
tắc do cuộc sống đặt ra mà con người phải tuân theo.
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác–Lênin, đạo đức xét đến cùng là sự phản
ánh của các quan hệ xã hội. Giá trị đạo đức được xác định ở chỗ nó phục vụ cho tiến bộ xã
hội vì hạnh phúc của con người. “Đạo đức giúp cho xã hội loài người tiến lên trình độ cao
hơn, thoát khỏi ách bóc lột lao động” [40, tr.371]. Bàn về đạo đức cộng sản chủ nghĩa, Lênin
cho rằng: “Đó là những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết
tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của
những người cộng sản” [41, tr. 214]. Đây là một quan niệm mang tính cách mạng và khoa
học về đạo đức mà quan niệm của các tôn giáo và các nền đạo đức khác không thể đạt tới.
Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức cách mạng là trung với nước, hiếu với dân, suốt
đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì CNXH, nhiệm vụ nào cũng hoàn
thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng; là cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô tư; luôn yêu thương, quý trọng con người, sống có tình, có nghĩa và
tinh thần quốc tế trong sáng… Theo Hồ Chí Minh, tiêu chí để đánh giá chính xác đạo đức con người là ở hành
động, ở việc làm, ở cách đối nhân xử thế. Đạo đức phải được xem xét trong 3 mối quan
hệ cơ bản: với mình, với người và với công việc. Trong 3 mối quan hệ đó, hoạt động
của con người hình thành nên những hành vi, chuẩn mực đạo đức. Đó là việc mình có
nghiêm khắc với chính bản thân hay không? Thái độ của mình đối với ông bà, bố mẹ,
anh chị, em, đối với đồng chí, đồng đội, cấp trên, cấp dưới, đối với quần chúng nhân

Hồ Chí Minh đã nêu những nội dung, những chuẩn mực chung có ý nghĩa cơ bản
và có tính phổ cập đối với mọi người, mọi tầng lớp, đồng thời Người cũng chỉ rõ những
chuẩn mực cụ thể đối với từng tầng lớp như: công nhân, nông dân, TN, phụ nữ, thiếu
niên, nhi đồng, bộ đội, công an … Song đối tượng Người chú ý nhiều nhất là đạo đức
của người cách mạng, người cán bộ, đảng viên.
Đạo đức mới, đạo đức cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xướng và cùng với
Đảng ta dày công xây dựng, bồi đắp khác với đạo đức cũ về chất, ngược lại nó hoàn
toàn thống nhất với đạo đức của chủ nghĩa Mác–Lênin. Đó là kết hợp truyền thống đạo
đức tốt đẹp của dân tộc với đạo đức mang bản chất giai cấp công nhân và tinh hoa đạo
đức của nhân loại. Hồ Chí Minh đã làm cuộc cách mạng trong lĩnh vực đạo đức. Người
nói: “Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời. Đạo đức mới như
người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời” [50, tr.320-321]. Đạo đức
cũ - đạo đức thực dân, phong kiến, là thứ đạo đức ích kỷ, nó kìm hãm trói buộc con
người, tàn phá con người. Còn đạo đức mới là vì nước, vì dân; là “dĩ công vi thượng”.
Đây là đạo đức vĩ đại. Bởi lẽ, đạo đức đó “không vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi
ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người” [49, tr.252].
Hồ Chí Minh xem đạo đức là nền tảng của người cách mạng, cũng giống như gốc
của cây, ngọn nguồn của sông, của suối. Người còn ví đạo đức đối với người cách mạng
như là sức khỏe của người gánh nặng và đi xa. Theo Hồ Chí Minh, nhiệm vụ cách mạng
hoàn toàn không dễ dàng, đơn giản mà bao giờ cũng khó khăn, phức tạp. Thực hiện
nhiệm vụ cách mạng, đòi hỏi người cách mạng phải có quyết tâm phấn đấu thật cao,
phải dám hy sinh, phải kiên trì bền bỉ “thắng không kiêu, bại không nản”. Vì thế “Người
cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ vẻ
vang” [53, tr.283]. Người cán bộ đảng viên lại càng cần phải có đạo đức cách mạng. Vì
“không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [49, tr.253].
Theo Người, lãnh đạo không phải là ra lệnh mà chủ yếu bằng lôi kéo, thuyết phục. Để lôi kéo thuyết phục con người, trước hết phải từ cái tâm, cái đức của con người, phải
miệng nói, tay làm, phải đầu tàu gương mẫu. Người dạy muốn hướng dẫn, lãnh đạo

của con người. Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, C. Mác và Ph. Ăngghen cho rằng:
“Không nên nghiên cứu phương thức sản xuất ấy đơn thuần theo khía cạnh nó là sự tái sản
xuất ra sự tồn tại thể xác của các cá nhân. Mà hơn thế, nó là một phương thức hoạt động
nhất định của những cá nhân ấy, một hình thức nhất định của hoạt động sống của họ, một
phương thức sinh sống nhất định của họ” [11, tr.30].
Mác còn cho rằng để tồn tại trước hết con người phải giải quyết được những nhu cầu
thiết yếu trước mắt như: ăn, mặc, ở, đi lại rồi mới có thể nghĩ đến chuyện làm văn thơ,
làm triết học… Nghĩa là phải lao động kiếm sống. Lao động vốn là nhu cầu sống hàng
đầu của con người. Mặt khác, lao động còn là nền tảng để phát triển toàn diện cá nhân
con người.
Trong lao động sản xuất, con người thiết lập các mối quan hệ với tự nhiên và với
xã hội. Chính trong quá trình đó con người biểu hiện bản thân mình, biểu hiện đời sống
của mình. Như vậy, phương thức sản xuất không chỉ là một hình thức hoạt động sinh
sống nhất định của con người mà còn là mặt cơ bản của lối sống, là điều kiện kinh tế –
xã hội của lối sống. Tuy nhiên không thể đồng nhất phương thức sản xuất với lối sống,
vì trong xã hội có giai cấp không thể có một lối sống cho tất cả mọi người và phạm vi
của lối sống rộng hơn phạm vi của phương thức sản xuất. Ngoài hoạt động sản xuất, con
người còn có nhiều hoạt động phong phú khác như: hoạt động chính trị, hoạt động tư
tưởng và văn hóa, hoạt động bồi dưỡng sức khỏe và rèn luyện phẩm chất cá nhân. Phạm
vi của lối sống có thể tương ứng với phạm vi của hình thái kinh tế – xã hội. Tuy nhiên,
hai khái niệm trên đây cũng không hoàn toàn đồng nhất với nhau. Hình thái kinh tế – xã
hội gắn liền với hoạt động sản xuất vật chất của con người. Đó là một tồn tại khách
quan, độc lập với ý thức của con người. Ngược lại, lối sống phản ánh hoạt động của chủ
thể bao gồm nhận thức, tình cảm, thái độ, động cơ trong mọi hoạt động của bản thân
con người.
Bổ sung quan điểm của Mác, Hồ Chí Minh xem lối sống còn là hình thức biểu
hiện của văn hóa – văn hóa đời sống. Người quan niệm văn hóa là bộ mặt tinh thần của
xã hội và bộ mặt đó được thể hiện ra ngay trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người,
rất dễ hiểu, dễ thấy. Điều này đã được Hồ Chí Minh chỉ ra khi nói về nội dung của đời


Lối sống mới mà Hồ Chí Minh quan tâm xây dựng cho mọi người là lối sống có lý tưởng, có đạo đức, văn minh, tiên tiến, kết hợp hài hòa truyền thống tốt đẹp của dân tộc
và tinh hoa văn hóa nhân loại. Hồ Chí Minh cho rằng để Việt Nam trở nên một nước
mới, một nước văn minh, tiến bộ thì mọi người phải xây dựng một phong cách sống
khiêm tốn, giản dị, chừng mực, điều độ, ngăn nắp, vệ sinh, yêu lao động, biết quý trọng
thời gian, ít lòng ham muốn về vật chất, về chức quyền danh lợi. Trong quan hệ với
nhân dân, bạn bè, đồng chí, anh em phải cởi mở, chân tình, ân cần, tế nhị; giàu tình yêu
thương quý mến con người, trân trọng con người; đối với mình thì nghiêm khắc, chặt
chẽ; đối với người thì khoan dung, độ lượng. Đã có sinh hoạt lành mạnh, tiến bộ, ứng
xử hài hòa, đúng mực thì còn phải xây dựng tác phong quần chúng, tập thể dân chủ,
khoa học trong cách làm việc. Tuy mang những nội dung khác nhau nhưng ba loại tác
phong trên có quan hệ mật thiết với nhau, góp phần nâng cao hiệu quả công việc, giúp
mọi người hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Lối sống trong quan niệm của Hồ Chí Minh còn là tiêu chí, thước đo trình độ văn
minh, tiến bộ của mỗi dân tộc. Người cho rằng: “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm sĩ,
là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ” [49,
tr.642]. Với nghĩa đó, xây dựng lối sống mới đã trở thành một mục tiêu của CNXH. Phấn
đấu thực hành lối sống mới giúp mỗi cá nhân và cả xã hội từng bước vượt qua được những
cái nhỏ bé, thấp hèn để vươn tới những cái lớn lao, cao thượng làm cho mọi người phát triển
toàn diện cùng với sự phát triển của đất nước.
Bàn về lối sống, Hồ Chí Minh luôn đặt nó trong mối quan hệ với đạo đức. Đạo
đức và lối sống có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó đạo đức đóng vai trò chủ yếu.
Đạo đức gắn liền với lối sống và là nội dung của lối sống. Còn lối sống là thể hiện cụ
thể quan niệm đạo đức trong những hình thức hoạt động của con người trong xã hội.
Một lối sống được xem là cao đẹp trước hết phải là lối sống có đạo đức, luôn đề cao
trách nhiệm, bổn phận, nghĩa vụ của cá nhân đối với cộng đồng và toàn xã hội. Ngược
lại, lối sống chỉ biết hưởng thụ cho bản thân là lối sống ích kỷ, thấp hèn cần phải lên án,
đấu tranh vì trái với đạo đức của dân tộc. Người dạy: “Trong lúc nhân dân ta còn thiếu

nghiệp cách mạng của thế hệ cha ông. Do đó, rất cần có sự định hướng của giáo dục,
đặc biệt là giáo dục đạo đức.
Xuất phát từ mục tiêu của giáo dục là đào tạo những con người mới vừa có đức
vừa có tài, những công dân biết làm chủ để đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ đất nước. Hồ Chí Minh chủ trương bồi dưỡng giáo dục thế hệ trẻ một cách toàn diện: đức, trí, thể, mỹ. Người yêu cầu: “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú
trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao
động và sản xuất” [54, tr.190].
Trong công tác giáo dục, Hồ Chí Minh coi trọng cả “đức” lẫn “tài”, nhưng đặt giáo
dục đạo đức lên hàng đầu. Người chỉ rõ vai trò và sức mạnh to lớn của đạo đức, khẳng
định đạo đức là cái gốc của mỗi con người, là cái nền tảng vững chắc của người cách
mạng. Có đạo đức cách mạng, thì dù nhiệm vụ nặng nề đến mức nào, khó khăn đến bao
nhiêu, con người ta đều vượt qua được. Theo Hồ Chí Minh, “tâm” có sáng thì trí mới
sáng, có cái đức thì cái tài mới được phát huy, phát triển trở nên có ích đối với xã hội.
Hồ Chí Minh đề ra những chuẩn mực đạo đức mới định hướng cho sự rèn luyện
của mỗi người. Bên cạnh đó, căn cứ vào đặc điểm lứa tuổi, nghề nghiệp, môi trường
làm việc Người còn cụ thể hóa các chuẩn mực đạo đức thành những phẩm chất cụ thể
để mọi người dễ hiểu, dễ nhớ, dễ vận dụng.
Người dạy TN phải yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu CNXH, yêu lao động, yêu
khoa học, yêu kỹ thuật … Đó là đạo đức mới và chỉ có thông qua phấn đấu, rèn luyện
mới trở thành những con người phát triển toàn diện, có tư tưởng đúng, tình cảm đẹp, có
kiến thức, có sức khỏe để làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân. Để
làm được như vậy, Người khuyên TN: “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền,
đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên” [50, tr.95].
Đối với TN công nhân, nông dân, Người nhấn mạnh tinh thần trách nhiệm, ý thức làm
chủ, ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đối với TN
các lực lượng vũ trang, Người căn dặn: phải trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào
cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Đối với TN

lo cho lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình. Chống tâm lý ham sung sướng và tránh
khó nhọc. Chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay. Chống lười biếng,
xa xỉ. Chống cách sinh hoạt ủy mị. Chống kiêu ngạo, giả dối, khoe khoang” [51, tr.455].
Như vậy, giáo dục đạo đức theo quan điểm của Hồ Chí Minh là hoạt động của các cá
nhân và thiết chế xã hội nhằm hình thành những phẩm chất đạo đức ổn định, những nhu
cầu, niềm tin, tình cảm, thói quen trong hành vi đạo đức trên cơ sở nhận thức lý tưởng đạo
đức và những nguyên tắc đạo đức xã hội. Thông qua giáo dục đạo đức, các khái niệm, giá
trị đạo đức được nhận thức sâu sắc hơn, những hành động của con người sẽ phù hợp hơn với các chuẩn mực xã hội, làm cho con người có khả năng tự kiểm tra, đánh giá, thẩm định
và điều chỉnh hành vi của mình.
Đạo đức có quan hệ chặt chẽ với lối sống. Đạo đức là mặt nội dung, qui định lối sống.
Còn lối sống là mặt thể hiện của đạo đức. Do đó, giáo dục đạo đức chính là giáo dục lối sống
một cách gián tiếp, là quá trình định hướng lối sống cho mỗi cá nhân.
1.2. QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ CỦA THANH NIÊN VÀ
TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG
CHO THANH NIÊN
1.2.1. Vai trò của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta
1.2.1.1. Thanh niên là lực lượng quyết định vận mệnh của dân tộc, sự phát triển
của đất nước
Ngay khi còn trẻ, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh sớm hòa mình vào phong trào
đấu tranh của TN trong nước và quốc tế. Chính những năm tháng sống, lao động, chiến
đấu cùng với TN giúp Hồ Chí Minh có điều kiện hiểu rõ TN. Xuất phát từ quy luật vận
động của xã hội loài người, Hồ Chí Minh khẳng định TN không những là lực lượng kế
tục sự nghiệp cách mạng của các thế hệ đi trước, mà còn là tương lai của đất nước, của
dân tộc: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa
xuân của xã hội” [48, tr.167]. Đây là kết quả nhận thức của một người từng trải, có
nhiều năm tháng gắn bó mật thiết với TN, là sự tiếp nối và phát triển những quan điểm
của cha ông, của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò TN trong lịch sử. Tính chân lý của

đã có hàng nghìn TN trở thành cán bộ cốt cán trung kiên của Đảng. Hầu hết, các anh
hùng, liệt sĩ của dân tộc hy sinh anh dũng trong thời kỳ này đều ở tuổi đời còn rất trẻ
như: Trần Phú, Lý Tự Trọng, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Thị Minh
Khai, Lê Hồng Phong … Tấm gương xả thân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc của họ đã
tô thắm thêm trang sử vàng của dân tộc, làm rạng ngời thêm truyền thống của TN Việt
Nam.
Cách mạng tháng Tám không những giải phóng dân tộc thoát khỏi kiếp nô lệ mà
còn mang lại sự tự do cho TN. Một kỷ nguyên mới mở ra trước mắt dân tộc - kỷ nguyên
độc lập, dân chủ và CNXH. Xây dựng, kiến thiết nước nhà trở thành nhiệm vụ hàng đầu
của cách mạng. Tình hình mới, nhiệm vụ mới, TN lại gánh vác thêm trọng trách mới.
Là đội quân chủ lực, xung phong trong công cuộc phát triển kinh tế – văn hóa, trong sự
nghiệp xây dựng CNXH. Hồ Chí Minh tiếp tục gửi gấm niềm tin tưởng của mình vào TN. Người xem tiền đồ của đất nước, tương lai của dân tộc phần lớn phụ thuộc vào TN.
Người khẳng định: “TN là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh
hay suy, mạnh hay yếu, một phần lớn là do các TN” [49, tr.185]. Để xứng đáng là người
chủ tương lai của đất nước, Hồ Chí Minh yêu cầu TN phải tự mình phấn đấu, học tập và
rèn luyện để nắm lấy tri thức, bồi dưỡng ý chí, nghị lực và tinh thần cách mạng. Theo
Hồ Chí Minh, việc học tập, rèn luyện của TN có ý nghĩa quyết định đến tương lai phát
triển của đất nước, của dân tộc. Trong thư gửi cho TN học sinh nhân ngày khai trường
đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người viết: “Non sông Việt Nam có trở
nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai các
cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của
các em” [48, tr.33].
Hưởng không khí hòa bình, độc lập chưa được bao lâu, dưới sự lãnh đạo của
Đảng, TN cùng với dân tộc bước vào 2 cuộc chiến tranh giữ nước đầy gian khổ nhưng
cũng lắm oai hùng. Đó là 9 năm kháng Pháp và 21 năm chống Mỹ. Trong hoàn cảnh
chiến tranh ác liệt cộng với những khó khăn khi cùng một lúc tiến hành 2 nhiệm vụ
chiến lược, nhưng bằng sự nhìn nhận, đánh giá khả năng cách mạng to lớn và quyết

Việt Nam Cách mạng TN, TN, SV nước ta bắt đầu ý thức được trách nhiệm, bổn phận
của mình đối với dân tộc và bắt đầu đứng lên đấu tranh. Tiêu biểu là các phong trào đấu
tranh đòi ân xá cho cụ Phan Bội Châu, phong trào để tang cụ Phan Châu Trinh. Theo Hồ
Chí Minh, đây là tín hiệu đáng mừng cho cách mạng Việt Nam, chứng tỏ TN đã thức
tỉnh, hồi sinh. Người phấn khởi viết: “Đâu đâu học sinh cũng đều bãi khóa. Nữ sinh cũng
tham gia phong trào” [46, tr.231].
Những tháng năm hoạt động ở hải ngoại, Hồ Chí Minh vẫn thường xuyên theo dõi
tình hình cách mạng trong nước. Trong các báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản về tình hình
Đông Dương, Người đều chú ý đến phong trào của TN. Đặc biệt, Hồ Chí Minh còn xem
phong trào TN như ngòi nổ của các phong trào cách mạng Việt Nam. Năm 1941, Người
trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Hội nghị Trung ương Đảng lần
thứ VIII (5/1941) do Người chủ trì đã hoàn thành việc chuyển hướng chỉ đạo chiến
lược. Hội nghị xác định giải phóng dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách
mạng. Để hoàn thành nhiệm vụ này cần phải tập hợp, động viên tất cả các tầng lớp nhân
dân đứng lên đánh đuổi kẻ thù Pháp – Nhật. Theo sáng kiến của Hồ Chí Minh, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất mang tên Việt Nam độc lập đồng
minh. Thành viên của Mặt trận là các Hội cứu quốc, trong đó có TN cứu quốc. Đây là
đoàn thể của tất thảy TN từ 18 đến 22 tuổi, muốn tranh đấu đánh Pháp đuổi Nhật.
Chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền Người còn chủ trương xây dựng lực
lượng vũ trang cách mạng. Ngày 22 tháng 12 năm 1944, Đội Việt Nam tuyên truyền
giải phóng quân thành lập. Phần lớn các đội viên là đoàn viên và đảng viên trẻ tuổi có
tinh thần kiên quyết, hăng hái nhất được chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao –
Bắc – Lạng. Trái với quan niệm mỉa mai của một số người khi cho rằng: “Vài chục
thằng TN học trò và dân cày, Thổ có, Nùng có, Trại có, Kinh có. Với vài khẩu súng
quèn, mươi con dao mã tấu, mà cũng dám tự gọi là quân, cũng dám gánh trách nhiệm
giải phóng cho dân tộc” [49, tr.329], Hồ Chí Minh lạc quan tiên đoán: “Tuy lúc đầu quy
mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng
quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam” [47, tr.508]. Cơ sở

tiến lên CNXH càng trở nên khó khăn, phức tạp và nặng nề hơn. Để hoàn thành nhiệm
vụ thiêng liêng “chống Mỹ, cứu nước”, Hồ Chủ tịch kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả
nước dũng cảm tiến lên, hăng hái thi đua sản xuất và chiến đấu. Người động viên TN
thực hiện tốt hơn vai trò xung kích của mình “Các cháu TN gái cũng như trai hãy thực
hiện tốt “ba sẵn sàng”, xung phong hiến dâng tất cả tinh thần và lực lượng của tuổi trẻ
cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, cho Tổ quốc và CNXH” [55, tr.471].
Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, tính đến cuối tháng 5/1965 đã có 2 triệu
50 vạn đoàn viên và TN ghi tên thực hiện: “sẵn sàng chiến đấu”, “sẵn sàng gia nhập các
lực lượng vũ trang” và “sẵn sàng đi bất cứ nơi nào, làm bất cứ việc gì mà Tổ quốc cần
đến”.
Ở miền Bắc, TN hăng hái thi đua trên mọi mặt trận nông nghiệp, công nghiệp,
quốc phòng, khoa học kỹ thuật, giáo dục, văn hóa, y tế … với tinh thần “việc gì khó có
TN, ở đâu khó có TN” [53, tr.310]. TN công nhân phất cao ngọn cờ “Duyên Hải”, đi
đầu trong phong trào cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động. TN nông dân ra sức
thực hiện “phong trào Đại Phong”, xung phong trong công tác thủy lợi, làm phân bón,
vỡ đất hoang, cải tiến nông cụ. TN các ngành đều thi đua sản xuất theo tinh thần “một
người làm việc bằng hai” và thực hành tiết kiệm. Thi đua cùng với TN công nhân, TN
nông dân, TN trong bộ đội, công an và dân quân tự vệ hăng hái thực hiện “phong trào Ba nhất”, tích cực giữ gìn trật tự trị an, bảo vệ Tổ quốc. TN trường học đi đầu trong
công việc xóa nạn mù chữ, bổ túc văn hóa, xung phong đưa văn hóa lên giúp đồng bào
miền núi, nỗ lực thi đua thực hiện phong trào “Hai tốt”. Phong trào “Ba sẵn sàng” đã
thực sự trở thành một cao trào cách mạng của TN trong những năm tháng tiến hành sự
nghiệp chống Mỹ, cứu nước và xây dựng CNXH dưới sự lãnh đạo của Đảng. Từ phong
trào “Ba sẵn sàng”, tháng 7/1965 xuất hiện lực lượng xung phong chống Mỹ, cứu nước.
Trong 10 năm (1965–1975) có hơn 1 triệu 35 vạn đoàn viên TN xung phong tham gia
chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu [62, tr.83]. Những cống hiến to lớn của họ đã góp
phần làm nên đại thắng mùa xuân năm 1975.
Hòa với khí thế của TN miền Bắc, ở miền Nam hàng triệu TN sôi nổi tham gia


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status