Tư tưởng hồ chí minh về giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh niên và v ận dụng vào việc giáo dục sinh viên các trường đại học ở thành phố hồ chí minh hiện nay - Pdf 35

1

MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất đồng thời cũng là nhà giáo dục
vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Cuộc đời Người là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ
muôn đời sau noi theo. Tư tưởng của Người có vai trò, ý nghĩa và tác dụng to lớn
đối với cách mạng Việt Nam. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của
Đảng khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng nước Việt Nam theo
con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác–Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh” [21, tr. 20].
Với cách nhìn khách quan khoa học, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao
vai trò, vị trí, khả năng của thanh niên (TN) đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng
và dân tộc. Người cho rằng: “TN là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy nước
nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các TN” [49, tr.185]. Chính vì
thế trước lúc đi xa Người không quên căn dặn Đảng ta: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng
cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” [56, tr. 510]
Trong nội dung bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, Hồ Chí Minh đặt lên
hàng đầu vấn đề bồi dưỡng lý tưởng và đạo đức cách mạng. Theo Hồ Chí Minh, để
xứng đáng là lực lượng kế tục sự nghiệp cách mạng của các thế hệ cha anh thì phẩm
chất hàng đầu cần có ở TN là sự trung thành tuyệt đối với lý tưởng, ý chí kiên định
đấu tranh cho thắng lợi của lý tưởng và đạo đức cách mạng để làm gương lôi cuốn
quần chúng. Lý tưởng mà Hồ Chí Minh quan tâm giáo dục cho TN là suốt đời làm
cách mạng phấn đấu cho đất nước hoàn toàn độc lập, làm cho chủ nghĩa xã hội
(CNXH) và chủ nghĩa cộng sản thắng lợi hoàn toàn trên Tổ quốc ta và trên thế giới.
Tuy nhiên, lý tưởng và ý chí cách mạng chỉ có thể duy trì và phát triển trên nền tảng
đạo đức cách mạng. Thiếu đi nền tảng này, tuổi trẻ chưa trải qua dạn dày đấu tranh
sẽ không đủ sức vượt qua những thăng trầm, khó khăn của hoàn cảnh để kiên trì
phấn đấu đến cùng cho lý tưởng. Trong Di chúc, Người lưu ý “Đảng cần phải chăm lo
giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng
CNXH vừa “hồng” vừa “chuyên”” [56, tr. 510].

thoái đạo đức, mờ nhạt lý tưởng, chạy theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập
thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước là điều “đặc biệt đáng lo
ngại” [19, tr.24]. Trong xu thế chung của SV cả nước, một bộ phận không nhỏ SV
các trường đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh có những biểu hiện lệch lạc trong
nhận thức và hành vi đạo đức như: xác định động cơ học tập không đúng. Mục đích
của việc học không phải là nâng cao kiến thức mà nhằm kiếm điểm cao để có học
bổng. Hiện tượng bỏ học không lý do, đi muộn, quay cóp trong thi cử đã trở nên
khá phổ biến, cá biệt còn có một số SV tham gia đường dây thi thuê, thi hộ trong
các mùa tuyển sinh đại học, cao đẳng. SV thờ ơ với các vấn đề chính trị, các hoạt
động xã hội, còn mơ hồ về lý tưởng cách mạng, ham ăn chơi đua đòi chạy theo lối
sống thực dụng, buông thả, xa rời đạo đức truyền thống, tiếp thu lối sống, văn hóa
phương Tây không chọn lọc, quá coi trọng giá trị vật chất, xem nhẹ giá trị tinh thần,


3

sùng bái đồng tiền, có hành vi vi phạm pháp luật, sa vào các tệ nạn xã hội: trộm
cướp, rượu chè, cờ bạc, ma túy, mại dâm…
Trong khi đó, do yêu cầu và đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới toàn diện, đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các
thế hệ SV đã, đang và nhất định sẽ gánh vác những trọng trách to lớn nhưng vô
cùng khó khăn phức tạp. Chính vì thế, tại Đại hội IX, Đảng ta lại nhấn mạnh: “Đối
với thế hệ trẻ, chăm lo giáo dục, bồi dưỡng đào tạo phát triển toàn diện về chính trị,
tư tưởng đạo đức, lối sống, văn hóa, sức khỏe, nghề nghiệp, giải quyết việc làm,
phát triển tài năng và sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc” [21, tr.126].
Như vậy, trước yêu cầu khách quan và cấp bách của công cuộc đổi mới, việc
giáo dục đạo đức cách mạng cho TN, SV theo tư tưởng Hồ Chí Minh là nội dung
quan trọng hàng đầu trong việc rèn luyện nhân cách tuổi trẻ, là sự chuẩn bị cực kỳ
hệ trọng giúp họ vào đời, lập thân, lập nghiệp.

Nội, 2005 (Chương XV: Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp giáo dục – đào tạo và
bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau).
- Văn Tùng, Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục Thanh niên, Nxb
Thanh niên, Hà Nội, 1999…
+ Nhóm các công trình nghiên cứu về đạo đức và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh:
- Nguyễn Trọng Chuẩn–Nguyễn Văn Phúc, Mấy vấn đề về đạo đức trong điều
kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003.
- Vũ Khiêu, Đạo đức mới, Nxb Khoa học xã hội, 1974.
- Trần Hậu Kiêm – Đoàn Đức Hiếu, Hệ thống phạm trù đạo đức học và giáo
dục đạo đức cho sinh viên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004.
- Tương Lai, Chủ động và tích cực xây dựng đạo đức mới, Nxb Sự thật, 1983.
- Nguyễn Ngọc Long (chủ biên), Giáo trình đạo đức học, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2001.
- Trần Sỹ Phán, Giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân
cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, 1999,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
- Đinh Xuân Lâm – Bùi Đình Phong (1995), “Giá trị trường tồn của tư tưởng đạo
đức Hồ Chí Minh trong lòng nhân loại tiến bộ”, Tạp chí Thông tin lý luận, (12).
- Lâm Quốc Tuấn – Trần Văn Toàn (2005), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo
dục đạo đức vừa “hồng” vừa “chuyên” cho thanh niên trí thức”, Tạp chí Lý luận
chính trị, (10).
- Song Thành, Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb Lý luận chính trị, Hà
Nội, 2005 (Chương XIII: Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh).
- Nguyễn Văn Truy (chủ biên), Hồ Chí Minh về đạo đức, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1993…
Những tài liệu trên của các tác giả là nguồn tư liệu quý giúp chúng tôi tiếp thu
tham khảo, làm định hướng cho đề tài nghiên cứu của mình. Ở Thành Phố Hồ Chí
Minh, việc nghiên cứu nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho SV
hiện nay vẫn chưa có tác giả nào đề cập một cách cơ bản và có hệ thống dưới giác độ
Hồ Chí Minh học. Vì vậy, tác giả mạnh dạn nghiên cứu vấn đề này với lòng mong

Cơ sở lý luận: luận văn được triển khai trên nền tảng các quan điểm của chủ
nghĩa Mác–Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng về đạo đức, TN và
giáo dục đạo đức, lối sống cho TN.
Phương pháp nghiên cứu: ngoài phương pháp duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử, luận văn còn sử dụng các phương pháp lôgíc, phương pháp lịch sử – cụ thể,
phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, nghiên cứu khảo sát thực tiễn, điều tra xã
hội học …
+ Đối với phương pháp khảo sát thực tiễn, chúng tôi đã tiếp xúc với Thành
Đoàn, Thành Hội, Đảng ủy, Ban giám hiệu, Phòng công tác chính trị, Đoàn trường,
Hội SV, các giáo viên và SV để tìm hiểu tình hình đạo đức, lối sống SV và công tác
giáo dục đạo đức, lối sống cho SV.
+ Đối với phương pháp điều tra xã hội học, chúng tôi đã chọn mẫu điều tra


6

là 6 trường đại học đóng trên địa bàn Thành phố như: Đại học Sư phạm, Đại học An
Ninh, Đại học dân lập Hồng Bàng, Đại học Bách Khoa, Khoa Kinh Tế thuộc Đại
học Quốc gia, Đại học Bán công Marketing. Mỗi trường 50 SV. Với 6 trường mà
chúng tôi tiến hành khảo sát có những đặc điểm sau:
- Về loại hình trường và đối tượng: có cả công lập, dân lập, bán công, SV
năm thứ nhất và năm cuối.
- Về ngành học có đủ các lĩnh vực khoa học khác nhau như: kinh tế, khoa
học xã hội và nhân văn, khoa học kỹ thuật.
6. Đóng góp mới của luận văn
- Góp phần nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và giáo dục đạo đức cho TN.
- Nhận định đúng đắn, khách quan về đạo đức, lối sống của SV và công tác giáo dục đạo
đức, lối sống cho SV ở các trường đại học thuộc địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất những giải pháp có tính khả thi cao trong giáo dục đạo đức, lối sống cho SV.
- Luận văn cung cấp thêm những luận cứ khoa học giúp các cấp Đoàn, Hội Liên

phản ánh của các quan hệ xã hội. Giá trị đạo đức được xác định ở chỗ nó phục vụ cho
tiến bộ xã hội vì hạnh phúc của con người. “Đạo đức giúp cho xã hội loài người tiến lên
trình độ cao hơn, thoát khỏi ách bóc lột lao động” [40, tr.371]. Bàn về đạo đức cộng sản
chủ nghĩa, Lênin cho rằng: “Đó là những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột
và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang
sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản” [41, tr. 214]. Đây là một quan niệm
mang tính cách mạng và khoa học về đạo đức mà quan niệm của các tôn giáo và các
nền đạo đức khác không thể đạt tới.
Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức cách mạng là trung với nước, hiếu với dân,
suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì CNXH, nhiệm vụ nào
cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng; là cần,
kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; luôn yêu thương, quý trọng con người, sống có
tình, có nghĩa và tinh thần quốc tế trong sáng…
Theo Hồ Chí Minh, tiêu chí để đánh giá chính xác đạo đức con người là ở
hành động, ở việc làm, ở cách đối nhân xử thế. Đạo đức phải được xem xét trong 3
mối quan hệ cơ bản: với mình, với người và với công việc. Trong 3 mối quan hệ đó,


8

hoạt động của con người hình thành nên những hành vi, chuẩn mực đạo đức. Đó là
việc mình có nghiêm khắc với chính bản thân hay không? Thái độ của mình đối với
ông bà, bố mẹ, anh chị, em, đối với đồng chí, đồng đội, cấp trên, cấp dưới, đối với
quần chúng nhân dân, đối với Đảng, với Nhà nước, đối với kẻ thù như thế nào?
Mình có hết lòng, toàn tâm, toàn ý đối với công việc hay không? Điều đó xác định
đạo đức của mỗi con người. Trong thư gửi đồng chí Hoàng Mai - Giám đốc Sở công
an Khu XII, Người viết:
Tư cách người công an cách mạng là:
Đối với tự mình, phải cần, kiệm, kiệm, liêm, chính.
Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ.

phụ nữ, thiếu niên, nhi đồng, bộ đội, công an … Song đối tượng Người chú ý nhiều
nhất là đạo đức của người cách mạng, người cán bộ, đảng viên.
Đạo đức mới, đạo đức cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xướng và cùng
với Đảng ta dày công xây dựng, bồi đắp khác với đạo đức cũ về chất, ngược lại nó
hoàn toàn thống nhất với đạo đức của chủ nghĩa Mác–Lênin. Đó là kết hợp truyền
thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với đạo đức mang bản chất giai cấp công nhân và
tinh hoa đạo đức của nhân loại. Hồ Chí Minh đã làm cuộc cách mạng trong lĩnh vực
đạo đức. Người nói: “Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên
trời. Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên
trời” [50, tr.320-321]. Đạo đức cũ - đạo đức thực dân, phong kiến, là thứ đạo đức
ích kỷ, nó kìm hãm trói buộc con người, tàn phá con người. Còn đạo đức mới là vì
nước, vì dân; là “dĩ công vi thượng”. Đây là đạo đức vĩ đại. Bởi lẽ, đạo đức đó
“không vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của
loài người” [49, tr.252].
Hồ Chí Minh xem đạo đức là nền tảng của người cách mạng, cũng giống như
gốc của cây, ngọn nguồn của sông, của suối. Người còn ví đạo đức đối với người
cách mạng như là sức khỏe của người gánh nặng và đi xa. Theo Hồ Chí Minh,
nhiệm vụ cách mạng hoàn toàn không dễ dàng, đơn giản mà bao giờ cũng khó khăn,
phức tạp. Thực hiện nhiệm vụ cách mạng, đòi hỏi người cách mạng phải có quyết
tâm phấn đấu thật cao, phải dám hy sinh, phải kiên trì bền bỉ “thắng không kiêu, bại
không nản”. Vì thế “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng,
mới hoàn thành được nhiệm vụ vẻ vang” [53, tr.283]. Người cán bộ đảng viên lại
càng cần phải có đạo đức cách mạng. Vì “không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng
không lãnh đạo được nhân dân” [49, tr.253]. Theo Người, lãnh đạo không phải là ra
lệnh mà chủ yếu bằng lôi kéo, thuyết phục. Để lôi kéo thuyết phục con người, trước
hết phải từ cái tâm, cái đức của con người, phải miệng nói, tay làm, phải đầu tàu
gương mẫu. Người dạy muốn hướng dẫn, lãnh đạo nhân dân thì cán bộ đảng viên
phải mực thước, phải “Lo, thì trước thiên hạ; hưởng, thì sau thiên hạ” [51, tr.568].
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, Đảng phải “là đạo đức, là văn minh” thì
mới hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình là lãnh đạo cuộc đấu tranh

xuất của con người. Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, C. Mác và Ph. Ăngghen cho
rằng: “Không nên nghiên cứu phương thức sản xuất ấy đơn thuần theo khía cạnh nó là
sự tái sản xuất ra sự tồn tại thể xác của các cá nhân. Mà hơn thế, nó là một phương thức
hoạt động nhất định của những cá nhân ấy, một hình thức nhất định của hoạt động sống
của họ, một phương thức sinh sống nhất định của họ” [11, tr.30].
Mác còn cho rằng để tồn tại trước hết con người phải giải quyết được những
nhu cầu thiết yếu trước mắt như: ăn, mặc, ở, đi lại rồi mới có thể nghĩ đến chuyện
làm văn thơ, làm triết học… Nghĩa là phải lao động kiếm sống. Lao động vốn là
nhu cầu sống hàng đầu của con người. Mặt khác, lao động còn là nền tảng để phát
triển toàn diện cá nhân con người.
Trong lao động sản xuất, con người thiết lập các mối quan hệ với tự nhiên và
với xã hội. Chính trong quá trình đó con người biểu hiện bản thân mình, biểu hiện


11

đời sống của mình. Như vậy, phương thức sản xuất không chỉ là một hình thức hoạt
động sinh sống nhất định của con người mà còn là mặt cơ bản của lối sống, là điều
kiện kinh tế – xã hội của lối sống. Tuy nhiên không thể đồng nhất phương thức sản
xuất với lối sống, vì trong xã hội có giai cấp không thể có một lối sống cho tất cả
mọi người và phạm vi của lối sống rộng hơn phạm vi của phương thức sản xuất.
Ngoài hoạt động sản xuất, con người còn có nhiều hoạt động phong phú khác như:
hoạt động chính trị, hoạt động tư tưởng và văn hóa, hoạt động bồi dưỡng sức khỏe
và rèn luyện phẩm chất cá nhân. Phạm vi của lối sống có thể tương ứng với phạm vi
của hình thái kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, hai khái niệm trên đây cũng không hoàn
toàn đồng nhất với nhau. Hình thái kinh tế – xã hội gắn liền với hoạt động sản xuất
vật chất của con người. Đó là một tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con
người. Ngược lại, lối sống phản ánh hoạt động của chủ thể bao gồm nhận thức, tình
cảm, thái độ, động cơ trong mọi hoạt động của bản thân con người.
Bổ sung quan điểm của Mác, Hồ Chí Minh xem lối sống còn là hình thức biểu

tiến bộ của xã hội. Lối sống văn minh, cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở
thành mẫu mực cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta học tập và noi theo. Ngược
lại, lối sống xã hội có tác dụng định hướng cho lối sống cá nhân, giúp mỗi cá nhân
điều chỉnh lối sống của bản thân.
Theo Hồ Chí Minh, đạo đức, lối sống, nếp sống là ba nội dung hợp thành văn
hóa đời sống, trong đó đạo đức đóng vai trò chủ yếu nhất. Vì vậy, xây dựng đời
sống mới chính là quá trình tuyên truyền và thực hành đạo đức mới, lối sống mới,
nếp sống mới. Lối sống mới mà Hồ Chí Minh quan tâm xây dựng cho mọi người là
lối sống có lý tưởng, có đạo đức, văn minh, tiên tiến, kết hợp hài hòa truyền thống
tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại. Hồ Chí Minh cho rằng để Việt
Nam trở nên một nước mới, một nước văn minh, tiến bộ thì mọi người phải xây
dựng một phong cách sống khiêm tốn, giản dị, chừng mực, điều độ, ngăn nắp, vệ
sinh, yêu lao động, biết quý trọng thời gian, ít lòng ham muốn về vật chất, về chức
quyền danh lợi. Trong quan hệ với nhân dân, bạn bè, đồng chí, anh em phải cởi mở,
chân tình, ân cần, tế nhị; giàu tình yêu thương quý mến con người, trân trọng con
người; đối với mình thì nghiêm khắc, chặt chẽ; đối với người thì khoan dung, độ
lượng. Đã có sinh hoạt lành mạnh, tiến bộ, ứng xử hài hòa, đúng mực thì còn phải
xây dựng tác phong quần chúng, tập thể dân chủ, khoa học trong cách làm việc. Tuy
mang những nội dung khác nhau nhưng ba loại tác phong trên có quan hệ mật thiết
với nhau, góp phần nâng cao hiệu quả công việc, giúp mọi người hoàn thành xuất
sắc nhiệm vụ được giao.
Lối sống trong quan niệm của Hồ Chí Minh còn là tiêu chí, thước đo trình độ
văn minh, tiến bộ của mỗi dân tộc. Người cho rằng: “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết
liêm sĩ, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh
tiến bộ” [49, tr.642]. Với nghĩa đó, xây dựng lối sống mới đã trở thành một mục tiêu
của CNXH. Phấn đấu thực hành lối sống mới giúp mỗi cá nhân và cả xã hội từng bước
vượt qua được những cái nhỏ bé, thấp hèn để vươn tới những cái lớn lao, cao thượng làm
cho mọi người phát triển toàn diện cùng với sự phát triển của đất nước.
Bàn về lối sống, Hồ Chí Minh luôn đặt nó trong mối quan hệ với đạo đức. Đạo
đức và lối sống có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó đạo đức đóng vai trò chủ

cho TN thái độ thờ ơ đối với xã hội, xa rời đời sống lao động và đấu tranh của nhân
dân. Mục đích của nền giáo dục thực dân là đào tạo những người phục vụ cho chính
quyền của bọn xâm lược: tùy phái, thông ngôn, viên chức nhỏ.
Trong xã hội mới, giáo dục có nhiệm vụ quan trọng và vẻ vang là “Phục vụ
đường lối chính trị của Đảng và Chính phủ, gắn liền với sản xuất và đời sống của
nhân dân” [54, tr.190]. Giáo dục cách mạng là nền giáo dục bình đẳng. Nó không
dành riêng cho một nhóm người nào trong xã hội mà cho tất cả mọi người.
Trong giáo dục, đối tượng chủ yếu mà Hồ Chí Minh nhắm tới là nhi đồng và
thanh thiếu niên. Bởi đây là lứa tuổi đang trong quá trình hình thành hoàn thiện
nhân cách. Mặt khác, họ còn là những chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng


14

kế tục sự nghiệp cách mạng của thế hệ cha ông. Do đó, rất cần có sự định hướng
của giáo dục, đặc biệt là giáo dục đạo đức.
Xuất phát từ mục tiêu của giáo dục là đào tạo những con người mới vừa có
đức vừa có tài, những công dân biết làm chủ để đóng góp tích cực vào sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ đất nước. Hồ Chí Minh chủ trương bồi dưỡng giáo dục thế hệ
trẻ một cách toàn diện: đức, trí, thể, mỹ. Người yêu cầu: “Trong việc giáo dục và
học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa,
văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản xuất” [54, tr.190].
Trong công tác giáo dục, Hồ Chí Minh coi trọng cả “đức” lẫn “tài”, nhưng đặt
giáo dục đạo đức lên hàng đầu. Người chỉ rõ vai trò và sức mạnh to lớn của đạo đức,
khẳng định đạo đức là cái gốc của mỗi con người, là cái nền tảng vững chắc của
người cách mạng. Có đạo đức cách mạng, thì dù nhiệm vụ nặng nề đến mức nào, khó
khăn đến bao nhiêu, con người ta đều vượt qua được. Theo Hồ Chí Minh, “tâm” có
sáng thì trí mới sáng, có cái đức thì cái tài mới được phát huy, phát triển trở nên có
ích đối với xã hội.
Hồ Chí Minh đề ra những chuẩn mực đạo đức mới định hướng cho sự rèn

giác ngộ về trách nhiệm đối với giáo dục của các ngành, các cấp ủy Đảng, chính
quyền cũng như của cha mẹ học sinh và của các lực lượng xã hội. Người đề nghị:
“Sự giáo dục TN phải liên hệ vào dư luận xã hội, lực lượng của chính phủ để ngăn
ngừa những cái gì có thể ảnh hưởng xấu đến TN, để nâng cao tính cảnh giác của
TN” [51, tr.455-456].
Xuất phát từ sự nhìn nhận mặt tốt và mặt xấu trong con người, nhất là đối với
TN–lứa tuổi đang hoàn thiện nhân cách, đang phát triển và muốn khẳng định mình,
Hồ Chí Minh rất coi trọng việc kết hợp cả hai mặt giáo dục và tự giáo dục. Theo
Người, khi mặt tự giáo dục thực sự được đặt ra ở mỗi người thì việc giáo dục mới
có hiệu quả và chắc chắn.
Với Hồ Chí Minh, TN có ưu điểm là hăng hái, giàu tinh thần xung phong
nhưng cũng có khuyết điểm là ham chuộng hình thức, thiếu thực tế, bệnh cá nhân,
bệnh anh hùng. Do vậy, TN muốn xứng đáng là người chủ tương lai của nước nhà thì
phải tự giác rèn luyện bản thân. Đó là yếu tố hết sức quan trọng. Trước tiên, TN “phải
rèn luyện và thấm nhuần tư tưởng xã hội chủ nghĩa” [53, tr.310]; “Phải trau dồi đạo
đức của người cách mạng” [54, tr.305]. Người nhắc nhở TN phải luôn luôn gắn chặt
quá trình “xây và chống” trong rèn luyện đạo đức. Người dạy: “TN cần phải chống
tâm lý tự tư tự lợi, chỉ lo cho lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình. Chống tâm lý
ham sung sướng và tránh khó nhọc. Chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động
chân tay. Chống lười biếng, xa xỉ. Chống cách sinh hoạt ủy mị. Chống kiêu ngạo, giả
dối, khoe khoang” [51, tr.455].
Như vậy, giáo dục đạo đức theo quan điểm của Hồ Chí Minh là hoạt động của
các cá nhân và thiết chế xã hội nhằm hình thành những phẩm chất đạo đức ổn định,
những nhu cầu, niềm tin, tình cảm, thói quen trong hành vi đạo đức trên cơ sở nhận
thức lý tưởng đạo đức và những nguyên tắc đạo đức xã hội. Thông qua giáo dục đạo
đức, các khái niệm, giá trị đạo đức được nhận thức sâu sắc hơn, những hành động của
con người sẽ phù hợp hơn với các chuẩn mực xã hội, làm cho con người có khả năng
tự kiểm tra, đánh giá, thẩm định và điều chỉnh hành vi của mình.



dựng xã hội mới thì trước hết “phải thức tỉnh TN”. Từ sự khẳng định đó, Người vô
cùng lo lắng cho tiền đồ của dân tộc trước thực trạng TN chưa được tổ chức, chưa
được giáo dục: “Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám
TN già cỗi của Người không sớm hồi sinh” [46, tr.133].
Thực hiện tư tưởng trên, sau khi về đến Quảng Châu, Trung Quốc, Hồ Chí
Minh bắt tay ngay vào việc tập hợp những TN Việt Nam yêu nước đang hoạt động


17

ở đây lập ra tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng TN. Bên cạnh đó, Người còn tổ chức
nhiều khóa tuyên truyền, huấn luyện nhằm giác ngộ chủ nghĩa Mác–Lênin cho họ,
giúp họ hiểu: vì sao phải làm cách mạng và làm cách mạng phải như thế nào. Kết
thúc khóa học, những hội viên được phái trở về hoạt động trong nước làm nhiệm vụ
tuyên truyền chủ nghĩa Mác–Lênin, giác ngộ quần chúng nhân dân, gây dựng cơ sở
cách mạng và lãnh đạo quần chúng đấu tranh.
Thông qua hoạt động tích cực và đầy sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc và các hội
viên của Hội Việt Nam Cách mạng TN, chủ nghĩa Mác–Lênin được truyền bá sâu
rộng vào nước ta. Nhờ sự soi đường chỉ lối của lý luận Mác–Lênin, phong trào công
nhân và phong trào yêu nước phát triển nhanh về chất và đã kết hợp chặt chẽ hơn,
làm cơ sở và điều kiện vững chắc cho Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời.
Được Đảng dìu dắt, lãnh đạo TN hăng hái tham gia các phong trào đấu tranh,
sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh gian khổ, cùng với Đảng, với dân tộc làm nên thắng
lợi cách mạng tháng Tám năm 1945. Chỉ tính trong vòng 15 năm kể từ năm 1930
đến 1945 đã có hàng nghìn TN trở thành cán bộ cốt cán trung kiên của Đảng. Hầu
hết, các anh hùng, liệt sĩ của dân tộc hy sinh anh dũng trong thời kỳ này đều ở tuổi
đời còn rất trẻ như: Trần Phú, Lý Tự Trọng, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Văn Cừ,
Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Hồng Phong … Tấm gương xả thân vì sự nghiệp giải
phóng dân tộc của họ đã tô thắm thêm trang sử vàng của dân tộc, làm rạng ngời
thêm truyền thống của TN Việt Nam.

miền Nam, thống nhất Tổ quốc” [56, tr.66-67].
Trực tiếp sáng lập, lãnh đạo, rèn luyện rồi chứng kiến sự trưởng thành và
cống hiến của tổ chức TN đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc khiến Người vô
cùng tự hào, sung sướng. Bởi vì Người nhận thấy thế hệ TN hôm nay xứng đáng là
lực lượng kế tục xuất sắc sự nghiệp cách mạng của thế hệ đi trước. Với một thế hệ
như thế thì tương lai của đất nước, tiền đồ của dân tộc nhất định sẽ “vô cùng vững
chắc và vẻ vang”. Đây là kết luận quan trọng nhất được rút ra từ sự nhìn nhận khách
quan, khoa học của Hồ Chí Minh đối với vai trò lịch sử mà các thế hệ TN đã đảm
nhiệm.
1.2.1.2. Thanh niên là lực lượng to lớn, là đội quân xung kích trên mọi mặt
trận của cách mạng
Sau 10 năm bôn ba nước ngoài để tìm con đường, cách thức giải phóng đồng
bào mình, người TN Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác–Lênin. Cái “cẩm
nang thần kỳ” đó đã giúp Người tìm ra cách giải cho bài toán khó của cách mạng
Việt Nam. Đó là các vấn đề cơ bản như: Cách mạng phải đi theo con đường nào?
Lực lượng cách mạng là những ai? Giành độc lập bằng cách thức gì?
Theo học thuyết Mác–Lênin, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân
là người làm ra lịch sử. Quán triệt quan điểm trên, Hồ Chí Minh xác định đúng đắn
lực lượng cách mạng Việt Nam. Đó là toàn thể quần chúng bị áp bức và những
người tiến bộ. Người khẳng định cách mạng là việc chung của dân chúng chứ không
phải việc của một hai người, trong đó công nông là gốc cách mạng, là đội quân chủ
lực của cách mạng. Hồ Chí Minh cũng sớm nhận thấy vị trí của TN trong lực lượng
cách mạng. Là lực lượng đông đảo trong xã hội “chiếm độ 1 phần 3 tổng số nhân
dân” [52, tr.94], sức khỏe dồi dào, hăng hái, nhiệt tình, có lý tưởng, sẵn sàng hy sinh
xả thân vì nghĩa lớn, TN trở thành lực lượng chủ yếu của cách mạng.


19

Tiếp thu chủ nghĩa Mác–Lênin, chịu ảnh hưởng từ những hoạt động của tổ chức

lớn và sức mạnh tiềm tàng của TN, về xu thế vận động phát triển của cách mạng.
Không phụ lòng tin yêu của lãnh tụ, TN cả nước nhất tề đứng lên theo lời hiệu
triệu của Đảng và là lực lượng tiên phong trong công cuộc cướp chính quyền từ tay


20

phát xít Nhật, giành độc lập cho dân tộc, đem lại quyền làm chủ cho nhân dân. Được
sự quan tâm giáo dục của Đảng, được Đoàn dìu dắt, thế hệ TN tháng Tám ngày một
trưởng thành. Tiếp tục phát huy vai trò xung kích, TN là lực lượng chính yếu hăng
hái tham gia thực hiện các nhiệm vụ cách mạng như: tăng gia sản xuất, xóa nạn mù
chữ, thực hành đời sống mới, chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược. Đáp lời kêu
gọi của Hồ Chủ tịch, TN mọi miền đất nước nêu cao tinh thần bất khuất, không ngại
hy sinh quyết tâm kháng chiến để giữ vững nền độc lập của nước nhà. Trước những
tấm gương hy sinh anh dũng của TN cả nước, Hồ Chí Minh vô cùng tự hào và viết
thư biểu dương ca ngợi:
Các em là đội cảm tử. Các em cảm tử để cho Tổ quốc quyết sinh.
Các em là đại biểu cái tinh thần tự tin tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm
để lại, cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường
Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng
Hoa Thám, truyền lại cho các em. Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh
thần bất diệt đó, để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau
[49, tr.35].
Những tấm gương tiêu biểu như: Võ Thị Sáu, Mạc Thị Bưởi, Trần Văn Ơn,
Bùi Thị Cúc, Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót, Nguyễn Thị Chiên, La Văn Cầu, Cù
Chính Lan cùng hàng triệu TN dũng cảm khác đã cống hiến tuổi xuân, sức lực,
cùng với toàn dân làm nên chiến thắng lịch sử Điên Biên Phủ, kết thúc thắng lợi 9
năm kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ lâu dài gian khổ nhưng vô
cùng anh dũng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Sau năm 1954, đất nước tạm thời chia cắt làm 2 miền. Miền Bắc hoàn toàn

của TN trong những năm tháng tiến hành sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước và xây
dựng CNXH dưới sự lãnh đạo của Đảng. Từ phong trào “Ba sẵn sàng”, tháng
7/1965 xuất hiện lực lượng xung phong chống Mỹ, cứu nước. Trong 10 năm (1965–
1975) có hơn 1 triệu 35 vạn đoàn viên TN xung phong tham gia chiến đấu hoặc
phục vụ chiến đấu [62, tr.83]. Những cống hiến to lớn của họ đã góp phần làm nên
đại thắng mùa xuân năm 1975.
Hòa với khí thế của TN miền Bắc, ở miền Nam hàng triệu TN sôi nổi tham
gia phong trào “Năm xung phong” do Ñoaøn TN nhân dân cách mạng Việt Nam
phát động. Với tinh thần dũng cảm, mưu trí, các nữ TN đã đóng góp tích cực vào
những cuộc đấu tranh của “đội quân tóc dài”. TN nông thôn vùng giải phóng xung
phong vào bộ đội, đi dân công phục vụ chiến trường hoặc tham gia xây dựng các
làng xã chiến đấu ở địa phương để bảo vệ quê hương. Ở các đô thị, vùng Mỹ–Ngụy
kiểm soát, TN SV, học sinh luôn là lực lượng châm ngòi cho các phong trào đấu
tranh chính trị. Các đêm biểu diễn văn nghệ “Hát cho đồng bào tôi nghe”, “Dậy mà
đi”, những cuộc hội thảo đòi dân sinh, dân chủ luôn thu hút sự chú ý và tham gia
đông đảo của tầng lớp SV, học sinh. SV, học sinh còn tích cực tham gia phong trào
bãi khóa, xuống đường đấu tranh đòi hòa bình thống nhất đất nước, chống sự đàn áp
của chính quyền địch.
Thi đua trong chiến đấu, lao động sản xuất, học tập TN lập nên nhiều thành
tích to lớn. Số lượng cá nhân và tập thể TN được Đảng, Nhà nước phong tặng danh


22

hiệu anh hùng, chiến sĩ thi đua ngày càng nhiều. Trong số 111 anh hùng được tuyên
dương ở đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua năm 1967, có 44 anh hùng là TN. Chiến
công và sự trưởng thành của TN cả nước trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Các cháu TN thân
mến, các cháu là thế hệ anh hùng trong thời đại anh hùng. Bác mong các cháu đều
xứng đáng là những anh hùng trong sự nghiệp cách mạng tiêu diệt chủ nghĩa đế


23

vào Đảng” [54, tr.34]. Phải chú ý phát triển Đảng vào TN. Không nên hẹp hòi. Tuy
nhiên việc phát triển Đảng phải làm cẩn thận, không được cẩu thả. Với ý nghĩa trên, Hồ
Chí Minh cho rằng: “Ñoaøn TN là cánh tay và đội hậu bị của Đảng” [56, tr.65].
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Ñoaøn TN còn có vai trò là người giáo dục dìu
dắt thiếu niên, nhi đồng. Cách mạng là một sự nghiệp đầy gian khổ và lâu dài mà
cuộc đời của con người là có hạn. Mỗi thế hệ chỉ có thể làm được một phần nhất
định trong toàn bộ sự nghiệp vĩ đại đó. Vì vậy, cách mạng là sự nghiệp của nhiều
thế hệ nối tiếp nhau. Việc chuẩn bị thế hệ cách mạng kế tục là một quy luật đảm bảo
cho cách mạng giành thắng lợi trong mọi thời kỳ, thúc đẩy xã hội phát triển không
ngừng. Chăm lo, giáo dục, dìu dắt các em thiếu niên, nhi đồng là chiến lược đào tạo
đội ngũ kế cận để chuẩn bị cho tương lai. Đó là trách nhiệm trực tiếp của các đoàn
viên TN. Việc chăm lo dạy dỗ thiếu niên, nhi đồng còn là trách nhiệm của toàn xã
hội. Song ở đây, Hồ Chí Minh nhận thấy TN là những người vừa trải qua lứa tuổi
thiếu niên, nên hiểu rõ tâm lý, thị hiếu và dễ gần gũi với các em hơn. Từ sự nhìn
nhận đó, Người cho rằng TN có vai trò rất lớn trong việc tổ chức, hướng dẫn, dìu
dắt thiếu niên, nhi đồng tham gia vào các tổ chức đội, giúp các em học tập, vui chơi
lành mạnh, tránh những tác động xấu ngoài xã hội. “Đoàn TN Lao động phải là
cánh tay đắc lực của Đảng trong việc tổ chức và giáo dục thế hệ TN và nhi đồng
thành những chiến sĩ tuyệt đối trung thành với sự nghiệp xây dựng CNXH và chủ
nghĩa cộng sản” [54, tr.21].
Tóm lại, TN trong tư tưởng Hồ Chí Minh có một vị trí, vai trò vô cùng to lớn
trong tiến trình lịch sử dân tộc và lịch sử cách mạng. TN là bộ phận quan trọng của
dân tộc, là lực lượng nòng cốt trong cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã
hội chủ nghĩa. Vận mệnh của dân tộc, tương lai của đất nước tùy thuộc vào phẩm
chất và bản lĩnh của TN. TN là lực lượng to lớn, là đội quân xung kích trên mọi mặt
trận, là cánh tay đắc lực và đội hậu bị của Đảng. TN còn là lực lượng kế thừa và tiếp
bước các thế hệ cha anh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Với Hồ Chí Minh, nhân cách là một thể thống nhất của đức và tài. Một nhân
cách được xem là hoàn thiện khi có đủ đức lẫn tài, “hồng” và “chuyên”, trong đó
đạo đức là gốc. Gốc là nơi sinh ra, tạo ra những cái khác đồng thời còn là bộ phận
vững chắc nhất, dựa trên đó các bộ phận khác tồn tại và phát triển. Ở đây, ý nghĩa
“đức là gốc” được hiểu theo 2 khía cạnh như sau:
+ Thứ nhất, đạo đức là bộ phận cốt yếu nhất của nhân cách. Sự khác nhau giữa
nhân cách này với nhân cách khác, trước hết là sự khác nhau ở mặt đức của nó, ở hệ
thống các phẩm chất xã hội của con người. Chính vì thế đạo đức là tiêu chí hàng
đầu khi xem xét, đánh giá nhân cách của một người; là thước đo bản chất “người”
của một con người. Hồ Chí Minh quan niệm: “Tuy năng lực và công việc của mỗi
người khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ, nhưng ai giữ được đạo đức
đều là người cao thượng” [51, tr.568].
+ Thứ hai, đạo đức là cơ sở cho việc định hướng và phát triển năng lực của
mỗi cá nhân để hoàn thiện nhân cách. Theo Hồ Chí Minh, người thực sự có đức thì
bao giờ cũng cố gắng học tập, nâng cao trình độ, năng lực để làm những việc ích
quốc lợi dân. Hơn nữa, người có đạo đức thì không bao giờ đố kỵ mà luôn yêu quý


25

và tiến cử hiền tài. Họ luôn luôn ủng hộ và sẵn sàng nhường bước cho những ai có
tài hơn mình vượt lên trước.
Là thành tố cơ bản của nhân cách, đạo đức được biểu hiện trong lối sống,
trong quan hệ ứng xử. Nói cách khác, lối sống là thể hiện cụ thể quan niệm đạo đức
trong những hình thức hoạt động của con người trong xã hội; là sự thể hiện chủ
nghĩa nhân đạo và tinh thần nhân văn trong quan hệ giữa người với người nhằm xây
dựng một xã hội tốt đẹp, văn minh, tiến bộ. Do đó, lối sống có quan hệ với nhân
cách và là mặt thể hiện của nhân cách ra bên ngoài.
Thống nhất với các nhà kinh điển, Hồ Chí Minh quan niệm: nhân cách, bản tính
con người không phải là bẩm sinh, tự nhiên vốn có mà được hình thành, phát triển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status