1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận án
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta di sản tinh thần to lớn, đặc
biệt là đạo đức cách mạng. Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức đã đạt tới một sự
thống nhất chặt chẽ giữa nói và làm, giữa công và tư, giữa đạo đức cách mạng
và đạo đức đời thường. Bởi vậy, giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho thế hệ trẻ
đã trở thành vấn đề sống còn đối với cách mạng Việt Nam hiện nay.
Đối với thanh niên - sinh viên (SV) vùng Tây Bắc, đặc thù sinh sống trên
một địa bàn tương đối phức tạp với vị trí địa chính trị quan trọng của Tổ quốc nên
công tác giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống luôn được các cấp ủy
Đảng, các cấp chính quyền, các cấp giáo dục quan tâm. Một trong những việc làm
đó là giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho SV để rèn luyện bản thân, tu dưỡng đạo
đức, hun đúc lòng tự hào, bản sắc văn hóa dân tộc, quyết tâm chiến thắng đói
nghèo, xây dựng khối đại đoàn kết, phòng chống diễn biến hòa bình.
Giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho SV có thể thực hiện ở nhiều nội dung,
với nhiều hình thức trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của môn tư tưởng Hồ
Chí Minh. Tuy nhiên, trong giảng dạy, nhiều giảng viên (GV) còn thiên về
truyền đạt nội dung tư tưởng mà chưa chú ý đúng mức đến giáo dục đạo đức Hồ
Chí Minh cũng như chưa hướng đến những biện pháp dạy học phù hợp để giáo
dục đạo đức, lý tưởng sống cho người học.
Vì vậy, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “giáo dục đạo đức Hồ Chí
Minh cho SV các trường ĐH, CĐ vùng Tây Bắc trong dạy học môn tư
tưởng Hồ Chí Minh”.
2. Mục đích nghiên cứu
Tiếp tục làm sáng tỏ một số vấn đề về giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh và
đề xuất biện pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục đạo đức Hồ
Chí Minh cho SV các trường ĐH, CĐ vùng Tây Bắc trong dạy học môn tư
tưởng Hồ Chí Minh.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
Số lượng nghiên cứu: 400 SV, 100 GV. Thời gian điều tra và TN: tháng 10 năm
2011 đến tháng 05 năm 2013.
6. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
3
6.1. Phương pháp luận: luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin; quan điểm đường lối của Đảng, Nhà nước về đạo đức và giáo dục
đạo đức Hồ Chí Minh; lí luận dạy học hiện đại; lí luận và phương pháp dạy học
bộ môn giáo dục chính trị…
6.2. Phương pháp nghiên cứu
6.2.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận
Sử dụng các PP phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa nhằm thu
thập các thông tin để xây dựng cơ sở lí luận của đề tài.
6.2.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- PP quan sát: quan sát thái độ, sự chú ý, biểu hiện hứng thú, tính tích cực
nhận thức của SV trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đạo
đức của Người thông qua các buổi dự giờ, giảng dạy.
- PP điều tra: sử dụng phiếu hỏi đối với GV, SV nhằm thu thập thông tin
liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
- PP TN: tổ chức TN sư phạm để phân tích, đánh giá, so sánh nhóm TN và
nhóm ĐC thông qua tác động của TN, góp phần kiểm định giả thuyết khoa học.
6.2.3. Các phương pháp bổ trợ
- PP chuyên gia: tham khảo ý kiến của một số nhà khoa học trong xây
dựng đề cương, lựa chọn PP nghiên cứu, xây dựng bộ phiếu khảo sát thực trạng.
- PP nghiên cứu tác động (action research) để xử lý thông tin, từ đó khẳng
định biện pháp luận án đưa ra có mang tính khả thi và có áp dụng đại trà được
không.
- PP xử lý các số liệu thu được bằng toán thống kê và phần mềm SPSS: PP
này được sử dụng để xử lý các số liệu thu được trong điều tra thực trạng và TN
nhằm rút ra những kết luận cần thiết.
Chương 2: Cơ sở lí luận và thực tiễn về giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho
SV các trường ĐH, CĐ vùng Tây Bắc trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí
Minh
Chương 3: Yêu cầu, biện pháp giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho SV các
trường ĐH, CĐ vùng Tây Bắc trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh
Chương 4: Thực nghiệm sư phạm 5
Chƣơng 1
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Đạo đức Hồ Chí Minh
Đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều tác phẩm viết về Chủ tịch Hồ
Chí Minh, tiếp cận đạo đức của Người trên nhiều phương diện khác nhau. Về
cơ bản, các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau ở nhận định: có một đạo
đức học Hồ Chí Minh, thể hiện trong tư tưởng và tấm gương đạo đức cao đẹp
của Người.
1.2. Giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho thanh niên - sinh viên
Có nhiều công trình nghiên cứu bàn về giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh
cho thanh niên - sinh viên, trong các công trình đó, các tác giả đều khẳng định:
Hồ Chí Minh là lãnh tụ rất quan tâm đến đạo đức và công tác giáo dục đạo đức
cho thanh niên - SV; ý nghĩa giáo dục giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho thanh
niên - SV trong các thời kỳ cách mạng và trong điều kiện công nghiệp hóa
(CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nước hiện nay; nội dung giáo dục đạo đức
Hồ Chí Minh cho thanh niên - SV tập trung trong những vấn đề như giáo dục
phẩm chất trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần, kiệm,
liêm, chính, chí công vô tư, tinh thần quốc tế trong sáng; PP giáo dục đạo
đức Hồ Chí Minh là nâng cao nhận thức cho SV, quán triệt đầy đủ nội dung
giáo dục đạo đức cách mạng, đẩy mạnh các hình thức hoạt động thực tiễn đa
dạng, phong phú; kết hợp giáo dục nhà trường - gia đình - xã hội…
Đạo đức bao gồm một hệ thống các qui tắc, các chuẩn mực nhằm điều
chỉnh hành vi và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và
quan hệ với xã hội để bảo vệ lợi ích của cá nhân và của cộng đồng, chúng được
đảm bảo thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống, tập quán và sức
mạnh của dư luận xã hội.
2.1.1.2. Giáo dục đạo đức
Giáo dục đạo đức là quá trình tác động một cách tích cực đến đối tượng
giáo dục để hình thành trong họ ý thức, tình cảm, niềm tin, lý tưởng đạo đức
và được thể hiện ở hành vi đạo đức.
Giáo dục đạo đức có thể được thực hiện qua nhiều hình thức khác nhau
như tổ chức lao động, tổ chức hoạt động xã hội, hoạt động vui chơi giải trí, văn
7
hóa thể dục thể thao, hoạt động tập thể… trong đó, dạy học là con đường giáo
dục có bài bản nhất, tích cực, chủ động và ngắn nhất, có hiệu quả nhất làm cho
thế hệ trẻ lĩnh hội một cách có hệ thống những kho tàng văn hóa của loài người
trong một thời gian nhất định. Điều này được lý giải từ vai trò của nhà trường,
đây là cơ sở chuyên thực hiện chức năng giáo dục, chuyên trách làm công tác
giáo dục đào tạo, do một đội ngũ các nhà sư phạm đã được đào tạo chu đáo và
có đầy đủ kinh nghiệm thực hiện các chương trình giáo dục có mục đích, nội
dung và phương pháp theo một kế hoạch nhất định. Thông qua nội dung các
môn học, người học lĩnh hội được một khối lượng kiến thức hệ thống, xây dựng
kĩ năng lao động, tiếp thu những kiến thức, phẩm chất chính trị, nhờ đó nhân
cách được hình thành và phát triển.
2.1.2. Đạo đức Hồ Chí Minh
2.1.2.1. Khái niệm
Đạo đức Hồ Chí Minh bao gồm nhiều nội dung cơ bản và toàn diện, cần
được hiểu một cách đầy đủ, đó không chỉ là tư tưởng mà còn là thực tiễn đời
sống đạo đức của Người.
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một hệ thống những quan điểm cơ bản và
luôn yêu thương quý trọng con người, sống có tình, có nghĩa; tinh thần quốc tế
trong sáng; ở những yêu cầu xây dựng đạo đức mới trong xã hội: nói đi đôi với
làm, phải nêu gương về đạo đức, thể hiện tính trung thực và nhất quán của đạo
đức; xây đi đôi với chống; phải tu dưỡng đạo đức suốt đời; tấm gương trong
sáng, mẫu mực về đạo đức của Người trong đời sống hàng ngày.
2.1.2.3. Hệ thống giá trị đạo đức Hồ Chí Minh
Bao hàm 12 giá trị cơ bản: thiện, trung - hiếu, nhân - trí - dũng, cần -
kiệm - liêm - chính, tình - nghĩa.
2.1.3. Giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên
2.1.3.1. Sự cần thiết của giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên
SV là tầng lớp đặc biệt của xã hội, đại diện cho thế hệ trẻ năng động, trí
tuệ, sáng tạo, đầy nhiệt huyết, có lý tưởng cách mạng. Tuy nhiên, SV cũng có
những nhược điểm về tâm sinh lý, hạn chế về thế giới quan khiến cho việc rèn
luyện đạo đức gặp phải không ít những khó khăn. Xã hội ngày càng phát triển, cơ
9
hội giao lưu hợp tác ngày càng được mở rộng cũng có nghĩa là sự du nhập các giá
trị văn hóa, đạo đức từ bên ngoài sẽ mạnh hơn, nhanh hơn. Song, không phải SV
nào cũng giữ được bản lĩnh của mình trước những tác động tiêu cực của văn hóa
ngoại lai. Điều đó đã khiến một bộ phận không nhỏ SV có lối sống thực dụng, ăn
chơi sa đọa, coi thường các giá trị truyền thống, sống ỷ lại bố mẹ, không chịu phấn
đấu rèn luyện.
Trong khi đó, kẻ thù vẫn chưa từ bỏ âm mưu thôn tính và phá hoại cách
mạng. Với “diễn biến hòa bình”, kẻ thù tấn công chúng ta chủ yếu trên các lĩnh
vực văn hóa để làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào sự nghiệp của Đảng, làm
băng hoại đạo đức, lối sống của nhân dân. Đối tượng trực tiếp của chúng là lớp
trẻ, trong đó có SV - những chủ nhân tương lai của đất nước.
Do vậy, giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho SV trong giai đoạn hiện nay, là
một việc làm cần thiết và hết sức cấp bách vì hơn ai hết, Hồ Chí Minh là một trong
những lãnh tụ viết nhiều, bàn nhiều và thực hiện nhiều nhất về đạo đức. Bên cạnh
học càng sâu sắc bao nhiêu thì tính đảng càng cao bấy nhiêu.
2.1.4. Môn tư tưởng Hồ Chí Minh với việc giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh
cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng
2.1.4.1. Vị trí môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường đại học, cao đẳng
Giáo dục nhà trường, nhất là giáo dục ĐH, CĐ là đào tạo con người, cung
cấp nhân lực cho xã hội, lẽ đương nhiên phải chú trọng đào tạo nghề cho SV để
họ thành nghề và sống bằng nghề. Song không nên quên rằng, cái quan trọng và
sâu xa nhất là phải đào tạo ra những con người có đạo đức, có nhân cách.
Không thể thành nghề nếu không thành người, nghề nghiệp cũng không còn
mang ý nghĩa xã hội tích cực, hữu ích nếu chủ thể của nó lệch lạc về đạo đức và
lối sống, khiếm khuyết trong nhân cách. Vì thế, tư tưởng Hồ Chí Minh là môn
khoa học không thể thiếu, hơn nữa là một môn khoa học chủ đạo trong đào tạo
khoa học, giáo dục đạo đức và trau dồi nhân cách ở bậc học ĐH, CĐ. Điều đó
góp phần làm cho môn tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành kênh tuyên truyền, một
phương thức phổ cập lý luận chính trị, quan điểm đường lối của Đảng cho các
cán bộ tương lai, góp phần tích cực trên địa hạt tư tưởng lý luận nhằm khẳng
định, bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng chung của toàn xã hội. 11
2.1.4.2. Mục tiêu, nội dung chương trình môn tư tưởng Hồ Chí Minh
Dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm giúp cho SV hiểu được nội
dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng và phát triển sáng tạo
chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam được thể hiện trong
đường lối, quan điểm, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Pháp luật của Nhà nước.
Từ đó, củng cố lòng tin vào con đường đi lên CNXH ở nước ta, nâng cao lòng
tự hào dân tộc về Đảng, về Bác và có ý thức, trách nhiệm trong việc cống hiến,
góp phần tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Nội dung môn học gồm 7 chương: chương I, trình bày về cơ sở, quá trình
hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh; từ chương II đến chương VII
và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại. Trình độ
sản xuất cũng như phong tục, tập quán sản xuất và sinh hoạt của nhiều cộng
đồng dân tộc còn lạc hậu, mức sống và điều kiện sống thấp, chậm được cải
thiện, trình độ dân trí vùng Tây Bắc cũng vào loại thấp nhất toàn quốc.
2.2.2. Đặc điểm sinh viên các trường đại học, cao đẳng vùng Tây Bắc
SV là đội ngũ trí thức trong tương lai, là lực lượng trẻ, có học thức, nhạy
cảm với cái mới, năng động và sáng tạo, ham học hỏi, là tầng lớp được gia đình,
nhà trường, xã hội hết sức quan tâm. SV các trường ĐH, CĐ vùng Tây Bắc đặc
thù sống ở miền núi và biên giới, được kế thừa truyền thống và có ý thức sâu
sắc về việc bảo vệ, giữ gìn an ninh biên cương của Tổ quốc. Ngoài ra, còn
mang những phẩm chất, lối sống tốt đẹp của người dân tộc miền núi như: hiền
lành, thật thà, chăm chỉ Trong môi trường sư phạm, SV chấp hành tốt những
quy định của nhà trường, lễ phép với thầy cô giáo, thân ái với bạn bè. Do điều
kiện sống và học tập của nhiều SV khó khăn nên các em có tinh thần vượt khó
rất cao.
Các SV thuộc nhiều thành phần dân tộc khác nhau, khi đến trường
mang theo những phong tục tập quán, lối sống của quê mình, nên khó khăn
bước đầu trong việc đưa vào nề nếp chung của nhà trường. Do điều kiện sống
ở miền núi, cập nhật thông tin hạn chế đã phản ánh vào ý thức của SV là hiểu
biết xã hội hạn hẹp, còn những tàn dư của nếp nghĩ, cách sống lạc hậu. Đó là
những đặc điểm riêng của SV các trường ĐH, CĐ vùng Tây Bắc mà khi giáo
dục đạo đức Hồ Chí Minh cũng cần phải lưu tâm.
13
2.2.3. Thực trạng đạo đức sinh viên các trường đại học, cao đẳng vùng Tây Bắc
Để có bức tranh toàn cảnh, chi tiết về thực trạng đạo đức SV các trường
ĐH, CĐ vùng Tây Bắc hiện nay, chúng tôi tập trung phân tích các nội dung:
nhận thức của SV về đạo đức; thái độ trong học tập và nghiên cứu khoa học;
các trường ĐH, CĐ vùng Tây Bắc thời gian qua đã được quan tâm nhất là từ khi
Đảng và Nhà nước phát động cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh, song hiệu quả đạt được chưa cao. Có điều đó, theo chúng tôi là
do những nguyên nhân sau:
Về phía GV: chất lượng của đội ngũ GV dạy môn tư tưởng Hồ Chí Minh
không đồng đều, một số GV chưa được đào tạo chuyên sâu chuyên ngành tư
tưởng Hồ Chí Minh; đổi mới PP giảng dạy còn chậm; một số GV chưa tâm
huyết, say mê với nghề, ít đọc thêm tài liệu; nội dung nhiều, thời lượng dành cho
môn học ít; nhiều GV còn thiên về truyền đạt nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh mà
ít quan tâm đến phần liên hệ thực tế, chưa sử dụng tấm gương người thật, việc
thật trong học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh để giáo dục đạo đức, lý
tưởng sống cho SV, nhiều GV chưa biết cách giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh như
thế nào cho hiệu quả
Về phía SV: đặc thù chủ yếu là người dân tộc thiểu số nên tính tích cực còn
hạn chế, sự hứng thú với môn học chưa cao, tâm lý thụ động và thói quen học phổ
thông cũng gây khó khăn; nhiều SV cũng chưa coi trọng môn học
Về cơ sở vật chất: do tài liệu còn thiếu, phương tiện dạy học hiện đại
chưa đảm bảo
Về quản lý và đánh giá: đa số SV quan niệm tư tưởng Hồ Chí Minh là
môn phụ nhưng lại bắt buộc phải học, trong khi đó chương trình học nhìn chung
còn nặng tính lý thuyết, trìu tượng, chưa gắn với việc đi thực tế, tham quan các
di tích lịch sử, xem phim tư liệu, phim lịch sử về thân thế sự nghiệp của Bác.
Do đó, giờ học vẫn còn nặng nề, thiếu sinh động, dễ gây nhàm chán cho SV,
ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh. 15
16
3.2.2. Nhóm các biện pháp giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh thông qua các hoạt
động ngoại khóa
Một số hoạt động ngoại khóa góp phần giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh
như: tuyên truyền, tọa đàm, tham quan; tiếp xúc nhân chứng; đọc sách về Hồ
Chí Minh.
Chƣơng 4
THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
4.1. Mục đích, đối tƣợng, địa bàn và giảng viên thực nghiệm sƣ phạm
4.1.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm
TN được tiến hành nhằm kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết khoa học
đã được xây dựng, qua đó khẳng định tính khả thi của các biện pháp giáo dục
đạo đức Hồ Chí Minh cho SV các trường ĐH, CĐ vùng Tây Bắc trong dạy học
môn tư tưởng Hồ Chí Minh.
4.1.2. Đối tượng thực nghiệm sư phạm
TN được tiến hành kỳ 2 năm học 2012 - 2013.
Đối tượng và cơ sở TN là SV hệ ĐH năm thứ 2, SV hệ CĐ năm thứ 2 của
trường ĐH Tây Bắc. Các lớp ĐC và TN thể hiện như bảng 4.1 (bản chính)
4.1.3. Giảng viên thực nghiệm sư phạm
Những GV được lựa chọn phải đủ các điều kiện như: năng lực chuyên
môn vững (cả về kiến thức và nghiệp vụ chuyên ngành); có tinh thần trách
nhiệm cao trong giảng dạy, nhiệt tình ủng hộ việc vận dụng các biện pháp dạy
học để nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức; đã có kinh nghiệm giảng dạy ít nhất
từ 3 năm trở lên.
4.2. Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm và quá trình chuẩn bị
4.2.1. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Quá trình TN được tiến cách theo hai cách:
Giai đoạn 1: TN thăm dò
Giai đoạn này được thực hiện từ tháng 2/2013 đến tháng 3/2013.
Mục đích của giai đoạn này là thăm dò, từ đó rút kinh nghiệm cho việc áp
đạo đức Hồ Chí Minh phù hợp; chuẩn bị thiết bị, phương tiện dạy học.
Chúng tôi đã lựa chọn các chương I, chương VII trong giáo trình môn tư
tưởng Hồ Chí Minh dùng cho hệ ĐH, CĐ xuất bản năm 2009 để tiến hành TN sư
18
phạm, vận dụng một số biện pháp đã tiến hành trong TN sư phạm như đã đề cập
đến ở chương 3. Đối với lớp TN, GV áp dụng các biện pháp như đã đề xuất để
tổ chức TN. Ở các lớp ĐC, GV tiến hành dạy học bình thường.
4.2.3. Tiến hành thực nghiệm sư phạm
Bước 1: kiểm tra sự chuẩn bị cho quá trình TN về giáo án, phương tiện,
điều kiện cơ sở vật chất và lớp học. Trước khi TN, chúng tôi tiến hành khảo sát
đầu vào.
Bước 2: tiến hành TN: GV tiến hành dạy theo phương án TN ở các lớp TN và
giảng dạy bình thường ở các lớp ĐC với cùng một bài dạy.
Bước 3: kiểm tra và đánh giá kết quả TN
4.3. Xử lý kết quả thực nghiệm
4.3.1. Kết quả bài kiểm tra đầu vào
Các đại lượng thống kê phản ánh học lực của 2 nhóm trước khi tiến hành
TN là tương đương nhau: điểm trung bình chung tương ứng là 6,45 điểm (TN)
và 6,44 điểm (ĐC), giá trị điểm xuất hiện nhiều nhất (Mode) 2 nhóm là điểm 7,
điểm nằm ở giữa (Median) trong tập hợp điểm là 7, độ lệch chuẩn (SD) tương
ứng là 1,15 (TN) và 1,14 (ĐC), hệ số biến thiên điểm của 2 nhóm như nhau.
4.3.2. Kết quả thực nghiệm giáo án 1
4.3.2.1. Mô tả dữ liệu
- Kết quả bảng 4.2 và hình 4.1 cho thấy, về các số liệu thống kê mô tả thì
nhóm TN có các kết quả điểm số cao hơn so với nhóm ĐC. Giá trị điểm xuất
hiện nhiều nhất (Mode) của nhóm TN là điểm 8, nhóm ĐC là điểm 7. Điểm
nằm ở giữa (Median) trong tập hợp điểm của nhóm TN là điểm 8, còn ĐC là
điểm 7. Độ lệch chuẩn (SD) của nhóm TN thấp hơn so với nhóm ĐC, cho thấy
mức độ nhận thức đồng đều của nhận thức. Hệ số biến thiên điểm của nhóm TN
nhiên, thái độ tích cực của SV nhóm TN trong tương quan với nhóm ĐC là kết
quả của tác động, nghĩa là điểm số cao của nhóm TN thực sự là chịu tác động
của các biện pháp đã áp dụng, điểm số mà SV đạt được đồng nghĩa với sự hài
lòng về đánh giá. Các nguyên nhân ngẫu nhiên được loại bỏ.
20
4.3.3. Kết quả thực nghiệm giáo án 2
4.3.3.1. Mô tả dữ liệu
- Kết quả bảng 4.13 và hình 4.5 cho thấy, so với kết quả TN giáo án 1,
các kết quả TN thu được từ giáo án 2 có kết quả chung cao hơn. Giá trị điểm
xuất hiện nhiều nhất (Mode) của nhóm TN là điểm 8, nhóm ĐC là điểm 7.
Điểm nằm ở giữa (Median) trong tập hợp điểm của nhóm TN là điểm 8, còn ĐC
là điểm 7. Điểm trung bình của nhóm TN là 7,62 điểm, nhóm ĐC thấp hơn với
6,81 điểm. Độ lệch chuẩn (SD) của nhóm TN thấp hơn, chỉ có 0,95 điểm, còn
nhóm ĐC là 1,28 điểm. Hệ số biến thiên điểm của nhóm TN cũng thấp hơn
nhóm ĐC, cho thấy mức độ nhận thức đồng đều của nhóm TN.
- Kết quả ở bảng 4.14 cũng cho thấy so với bảng dữ liệu này của giáo án
1, các giá trị có nhiều khác biệt hơn giữa 2 nhóm. Những giá trị tích cực thuộc
về nhóm TN. Nhóm TN không có điểm yếu kém, còn nhóm ĐC là 1,5%. Điểm
trung bình của nhóm TN giảm 8,5%, chỉ còn 7,3%, nhóm ĐC tương ứng là
32,2%, tăng 4,5% so với giáo án 1, điều này cho thấy mức ổn định thấp.
So với TN giáo án 1, trong lần TN giáo án 2, sự phân hóa nhất điểm khá
(7,8 điểm) của 2 nhóm này đã có khoảng cách lớn hơn: nhóm TN vẫn cao hơn,
chiếm 75,9% (tăng 2,1%), còn lớp ĐC thấp hơn, chỉ có 62,8%. Điểm giỏi nhóm
TN chiếm 16,5% (tăng 8,8%), còn nhóm ĐC chỉ có 3,1%.
4.3.3.2. So sánh dữ liệu liên tục
Căn cứ vào bảng 4.15 có thể thấy chênh lệch giá trị trung bình điểm số giữa
= 0,001 < 0,05 (nếu Sig>0,05 thì không có sự khác biệt về giá trị trung bình
giữa 2 nhóm).
Do vậy, có thể kết luận rằng, cùng các biện pháp áp dụng như nhau nhưng
SV các lớp ĐH có điểm số cao hơn SV các lớp CĐ. Điều này được lý giải bởi
xuất phát điểm đầu vào thi tuyển sinh, trình độ học lực của 2 nhóm này không
tương đương nhau. Trong nghiên cứu giảng dạy và áp dụng các biện pháp trên
phải lưu ý đặc điểm này để áp dụng có hiệu quả.
Ngoài đánh giá tính khả thi của các biện pháp thông qua bài kiểm tra với
các tiêu chí như đã phân tích ở trên, chúng tôi còn quan sát mức độ tham gia
một số hoạt động ngoại khóa môn tư tưởng Hồ Chí Minh giữa nhóm TN và
22
nhóm ĐC để đánh giá thái độ, hành vi đạo đức của SV. Bởi vì, thực tế có những
SV điểm bài kiểm tra đạt kết quả cao nhưng chưa chắc thái độ, hành vi đạo đức
đã tốt. Vì vậy, kết hợp giữa nội khóa với ngoại khóa là cách làm phù hợp để các
hình thức này bổ sung và hỗ trợ cho nhau, làm cho quá trình giáo dục thêm
hoàn thiện, chất lượng và hiệu quả. Chúng tôi lựa chọn hoạt động ngoại khóa
“đọc sách về Hồ Chí Minh” để tổ chức đánh giá thái độ và hành vi đạo đức của
lớp TN và ĐC. Qua quan sát, chúng tôi khẳng định: có sự nhất quán cao giữa
điểm số, thái độ và hành vi đạo đức ở nhóm TN. Những SV có điểm số cao
trong bài kiểm tra cũng đều có ý thức tham gia hoạt động ngoại khóa môn học.
Còn ở nhóm ĐC từ điểm số, thái độ và hành vi đạo đức, qua các chỉ số đánh giá
cũng đều thấp hơn nhóm TN.
4.4. Kết luận chung về thực nghiệm
- Giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho SV có thể áp dụng hiệu quả trong
dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh thông qua việc vận dụng và phối kết hợp lý
các biện pháp dạy học.
- Các biện pháp dạy học được xác định và TN chính là thể hiện các cách
giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh.
- TN cho kết quả khả quan. Qua phân tích các nội dung SV lớp TN
cũng đã luận giải những nội dung đạo đức Hồ Chí Minh cần giáo dục cho SV
và ý nghĩa môn tư tưởng Hồ Chí Minh trong giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh
cho SV các trường ĐH, CĐ.
Phần cơ sở thực tiễn, nghiên cứu sinh đã điều tra, khảo sát, đánh giá, phân
tích thực trạng đạo đức SV và thực trạng giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho
SV các trường ĐH, CĐ vùng Tây Bắc trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí
Minh để tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức Hồ
Chí Minh.
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả việc giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho
SV trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh, trên cơ sở lý luận và tình hình
thực tiễn, nghiên cứu sinh đã đề xuất những yêu cầu và nhóm biện pháp giáo
dục phù hợp với lí luận dạy học nói chung, lí luận dạy học bộ môn nói riêng.
Những yêu cầu đó đảm bảo tính khoa học, tính tư tưởng của môn học, căn cứ
vào chủ thể và đối tượng giáo dục, với điều kiện kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc.
Bên cạnh đó, nhóm biện pháp luận án nghiên cứu cũng đã bao quát các thành tố
của quá trình dạy học, có cơ sở khoa học, phù hợp với đặc điểm bộ môn, điều
24
kiện thực tiễn ở các trường ĐH, CĐ vùng Tây Bắc. Qua mỗi biện pháp, chúng
tôi đều nêu các cách/bước, kèm theo phân tích, dẫn chứng bằng ví dụ và vận
dụng vào TN sư phạm giúp GV căn cứ vào điều kiện cụ thể để áp dụng. Kết quả
TN về mặt định tính, định lượng đã chứng minh sự hợp lí của các biện pháp mà
luận án đề xuất.
2. KHUYẾN NGHỊ
- Thứ nhất, về chương trình: Bộ GD&ĐT cần chỉnh sửa, viết gọn lại, hấp dẫn
hơn, tách nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức thành chương mới. Đồng
thời, tăng thời gian cho môn tư tưởng Hồ Chí Minh để GV có điều kiện giáo dục
cho SV tấm gương đạo đức sáng ngời của Bác.
- Thứ hai, về tài liệu: thư viện các trường ĐH, CĐ vùng Tây Bắc cần bổ sung
thêm những tài liệu tham khảo về đạo đức Hồ Chí Minh để phục vụ tốt hơn cho